Chính trị - Kinh tếKiến tạo xã hội

Các hình thức chính phủ hiện hành

the-types-of-government-source

 

*Lưu ý: Bài viết nhằm mục đích đem đến bức tranh toàn cảnh các dạng chính phủ hiện hành trên thế giới và điển hình trong lịch sử. Bài viết không có tham vọng đào sâu hay đặt ra chuẩn mực tuyệt đối. Hệ thống chính phủ của mỗi quốc gia khác nhau có những đặc điểm khác nhau và trong tất cả các trường hợp là sự pha trộn giữa các mô hình khác nhau. Một số chính thể chỉ tồn tại trong lý thuyết hoặc là đặc trưng riêng của một quốc gia sẽ không được nói đến ở đây. Bài viết được tổng hợp và dịch lại từ tiếng Anh Mỹ do đó các khái niệm sẽ có một chút khác biệt về cách hiểu.

 

Trong khối Thịnh Vượng Chung vương quốc Anh, từ  “chính phủ ” (Government) được hiểu theo nghĩa hẹp như một cơ quan thực thi sự kiểm soát của mình lên một quốc gia tại một thời điểm nhất định- Trong tiếng Anh Mỹ một cơ quan với chức năng tương tự như vậy được gọi là cơ quan hành pháp (Administration) chứ không phải chính phủ . Trong tiếng Anh Mỹ, từ Chính phủ ám chỉ một hệ thống lớn hơn nhiều điều hành một quốc gia.

Mặc dù có định nghĩa rộng và khác nhau như vậy nhưng thông thường có thể định nghĩa chính phủ như một cơ quan bao gồm các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do vậy chính phủ là cơ quan có khả năng thực thi và định ra các chính sách cần thiết của một quốc gia.

Trước khi đi vào phân loại ta cần định nghĩa một số khái niệm sau:

Hệ thống nghị viện: là một cơ quan lập pháp của một số chính phủ.

Hệ thống tổng thống: là cơ quan hành pháp mà trong đó tổng thống là người đứng đầu nhà nước (state) và chính phủ.

Hệ thống bán tổng thống (semi-president system): Là hệ thống chính phủ trong một quốc gia có cả tổng thống và thủ tướng.

Chế độ: (Trong bài sẽ được sử dụng cùng một nghĩa với Thể chế) mô hình của nhà nước.

Nhà nước: Một tập thể những người bị trị và cai trị.

Chính quyền: Một nhóm người nắm quyền chủ đạo. Tương tự như nhóm đầu sỏ (Oligarch) nắm quyền hành trong mọi lĩnh vực.

 

Phân loại các Chính Phủ

Có vẻ việc định nghĩa một chính phủ là rất dễ dàng bởi chính phủ nào cũng có tuyên bố chính thức về dạng thức của mình. Hoa Kỳ- Cộng Hòa Liên Bang, Liên Xô  tuyên bố Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Tuy nhiên việc tự định nghĩa bản thân như thế là rất thiếu khách quan và do đó việc định nghĩa được một Chính Phủ là một công việc khá phức tạp. Ví dụ như cách người ta bầu cử sẽ định nghĩa lên nền Dân Chủ đó, nhưng trên thực tế các cuộc bầu cử của Liên Xô cũ  thậm chí không những chẳng có tính tự do, công bằng mà lại còn dựa trên một đảng cầm quyền duy nhất. Do đó những trường hợp như vậy sẽ không được coi như một nền Dân Chủ.

Một số phiền phức khác là sự không thống nhất và những chủ ý “bóp méo, thiên vị”  đối với các ý thức hệ khác nhau và kéo theo là với các hình thức chính phủ đi kèm với nó.

Mỗi quốc gia trên thế giới được lãnh đạo bởi một hệ thống chính phủ bao hàm ít nhất 2 (hay nhiều hơn) trong số các tính chất sẽ được kể đến dưới đây. Hơn nữa luôn có những sự khác biệt về quan điểm trong việc định nghĩa một chính phủ cụ thể nào đó. Và mọi chính phủ thì luôn luôn có hai mặt của nó. Ngay như một chính phủ tự do dân chủ nhất cũng giới hạn các hoạt động của phe đối lập ở một mức độ nào đó, và cũng như thế ngay cả các chính phủ độc tài chuyên chế nhất cũng phải cần đến một nền tảng cho sự ủng hộ từ dân chúng. Do đó rất khó để có thể phân loại một Chính Phủ vào một danh mục cụ thể.

 

Phân loại theo nhóm người nắm quyền quyết định

 

Các Chính Phủ Aristarchy:

Tính chất chung: Các Chính phủ này thường được kiểm soát và tổ chức bởi một nhóm nhỏ một số người. Nhóm người này là những người rất có năng lực được công nhận rộng rãi. Dạng chính phủ này trái ngược hoàn toàn với kiểu chính phủ dạng Kakistocracy (Hệ thống chính phủ lãnh đạo bởi những công dân tồi hoặc trình độ vô cùng kém)

– Thể chế Quí tộc (Aristocracy): Lãnh đạo bởi những công dân ưu tú. Ở đây những công dân ưu tú thường mang nghĩa là những người có xuất thân thượng lưu. Một chính phủ như thế được nhìn nhận như những người “giỏi nhất”, và họ được gọi tắt là Quí tộc (aristocrat).

Từ Aristocracy ở đây khác với  từ Nobility (cũng dịch là quí tộc). Thể chế này (Aristocracy )  chọn người lãnh đạo bằng cách lấy ra từ nhiều dòng tộc khác nhau hay bất kỳ cách nào khác. Nó chỉ không chọn từ DUY NHẤT một dòng tộc nào cả (Nobility).

– Thể chế Nhân tài (Meritocracy): Lãnh đạo bời những người có tài năng. Những người này được lựa chọn dựa trên năng lực, kiến thức ở một lĩnh vực cho trước và đặc biệt là họ phải có những đóng góp nhất định cho xã hội.

– Thể chế Giá trị (Timocracy): Lãnh đạo bằng danh dự. Một dạng chính phủ được lãnh đạo bởi những công dân danh dự và những người giàu (property owner). Socrates định nghĩa thể chế này như một dạng chính phủ lãnh đạo bởi những người trọng nghĩa và được lựa chọn dựa trên mức độ uy tín của họ trong xã hội. Thể chế này khá giống với thể chế nhân tài nói trên, ở chỗ các thành viên chính phủ đều là những nhân cách lớn. Trong lịch sử có thể kể đến Thành bang Sparta, chế độ phong kiến Châu Âu và Hoa Kỳ sau cách mạng là những ví dụ điển hình cho dạng chính phủ này.

– Thể chế Kỹ trị (Technocracy): Lãnh đạo bởi những chuyên gia công nghệ và giáo dục. Một hệ thống chính phủ mà những người lãnh đạo được lựa chọn dựa trên kỹ năng hoặc khả năng quản lý hiệu quả trong những lĩnh vực chuyên môn của họ. Bác sĩ, kỹ sư, chuyên gia và những nhà nghiên cứu sẽ thay thế cho các chính trị gia, thương nhân và các nhà kinh tế học.

 

Các chính phủ chuyên chế

Tính chất chung: Được lãnh đạo bởi một người có quyền lực tuyệt đối lên cả đất nước. Cộng Hòa La Mã được gây dựng lên bởi những nhà độc tài lãnh đạo trong thời chiến. Ở xã hội hiện đại, sự cai trị bởi một kẻ chuyên chế không bị cản trở bởi bất kì luật pháp, hiến pháp, hay các tổ chức xã hội và chính trị nào. Sau thế chiến thứ 2 rất nhiều các chính phủ tại Châu Mỹ Latin, châu Á, và châu Phi được lãnh đạo bởi những chính phủ chuyên chế này.

– Chế độ Chuyên chế: lãnh đạo bởi một cá nhân. Những quyết định của người này không bị ràng buộc bởi luật pháp hay bất kì cơ chế kiểm soát chung nào. Một ông Vua chuyên chế cần các công chức phục vụ trong khi một tên bạo chúa thì cần người hầu.
-Chế độ Bạo ngược (Despotism): Được lãnh đạo bởi một thực thể duy nhất. Thực thể đó có thể là một cá nhân, như trong chế độ chuyên chế, hoặc một nhóm người, như trong chế độ đầu sỏ. Từ Despotism ám chỉ một cách  “cai trị tàn bào”. Dó đó không nhất thiết cần phải có một cá nhân hay một bạo chúa mới gọi là Despotism cách cai trị đất nước sẽ định nghĩa chế độ đó.

-Chế độ Độc tài (Dictatorship): Cai trị bởi một cá nhân có quyền lực tuyệt đối trên toàn đất nước. Thuật ngữ cám chỉ những cá nhân có được quyền lực thuần túy là nhờ vũ lực. Tuy nhiên trong một số trường hợp những cá nhân đó ban đầu có thể lên nắm quyền một cách hợp pháp rồi sau đó sửa đổi hiến pháp nhằm mang lại quyền lực tuyệt đối cho mình.
Trong các chế độ độc tài quân sự, quân đội nắm quyền kiểm soát. Như vậy thông thường không có sự quan tâm nào dành cho các ý kiến công cộng hay các quyền cá nhân cả.

-Chế độ Phát xít: Cai trị chỉ bởi những nền tảng lãnh đạo. Những nền tảng đó chủ yếu là chủ nghĩa yêu nước và bản sắc dân tộc. Các nhà lãnh đạo có thể quy kết một việc là bất hợp pháp khi chúng không có sự liên hệ tới chủ nghĩa dân tộc hoặc niềm tự hào quốc gia. Những người theo chủ nghĩa phát xít tin rằng đất nước của họ tồn tại dựa trên sự đoàn kết toàn dân khi mà mọi con tim hòa vào làm một thông qua bản sắc dân tộc. Chủ nghĩa phát xít đề cao dân tộc và chủng tộc lên trên mọi cá nhân. Chính quyền Phát xít được khai sinh và tồn tại trong tình hình kinh tế khắc nghiệt, thắt chặt kỉ cương xã hội, và đàn áp tàn bạo những người đối lập.

 

Các chính phủ quân chủ

Tính chất chung: Được cai trị bởi một vua/hoàng đế hay một nữ hoàng, tại vị cả đời. Có hai loại chế độ quân chủ khác nhau: Quân chủ Chuyên chế và quân chủ Lập hiến. Trong chế độ quân chủ Chuyên chế người lãnh đạo không vướng phải bất kì giới hạn nào về mặt quyền hành. Trong chế độ quân chủ Lập hiến, quyền của người lãnh đạo bị hạn chế bởi hiến pháp.

-Quân chủ Chuyên chế: Trong hệ thống cai trị này vua thực thi quyền bính tối cao với tư cách một người đứng đầu nhà nước và đứng đầu chính phủ.

-Quân chủ Lập hiến:  Trong hệ thống cai trị này quyền hạn của vua bị giới hạn bởi luật pháp hay hiến pháp, như Vương quốc Anh.

-Chế độ Diarchy: Trong hệ thống chính phủ này, 2 cá nhân, các diarch, là những đầu não của đất nước. Trong hầu hết các chính quyền này, các diarch tại vị cả đời và truyền ngôi cho con cái hoặc gia đình sau khi họ qua đời. Chế độ Diarchy là một trong số những dạng chính phủ cổ xưa nhất. Trong xã hội hiện đại, Diarchy còn có nghĩa là một hệ thống cai trị kép (dual rule). Kiểu hệ thống này có thể áp dụng cho một chính phủ hay một tổ chức cụ thể. Những hệ thống diarchy như vậy không có tính cha truyền con nối.

-Chế độ Quân chủ Bầu cử: Một dạng chế độ quân chủ. Trong hệ thống chính phủ này, vua được dân bầu lên. Chế độ này trái ngược hẳn với chế độ quân chủ kiểu cha truyền con nối. Tùy theo những trường hợp cụ thể mà cách thức bầu cử, trình độ của ứng cử viên và của các cử tri sẽ khác nhau.

-Tiểu vương quốc: Giống với một chế độ quân chủ, một vương quốc. Trong chế độ này quyền lực tối cao nằm trong tay tiểu vương (như nhà lãnh đạo của các quốc gia hồi giáo); một tiểu vương có thể là một chúa tể chuyên quyền hoặc một thượng chúa có quyền lực bị giới hạn bởi hiến pháp.

-Quân chủ Liên bang:  Một dạng chế độ quân chủ. Một hệ thống có một ông vua làm đầu não cho toàn liên bang. Tuy nhiên giữa các bang khác nhau có thể tồn tại các chế độ khác nhau.

-Quân chủ: Lãnh đạo bởi hoàng gia. Một hệ thống cai trị có tính cha truyền con nối.

 

Các thể chế mang tính miệt thị.

Tính chất chung: Thay vì có một chính thể được công nhận, “chính phủ” thực sự ở đây có thể là những thành phần có sức mạnh chính trị nhưng lại không trực thuộc chính phủ. Một số hành vi của những nhà cầm quyền, ví dụ như tham nhũng, mị dân hoặc đe dọa công chúng (fear mongering) có thể hủy hoại hình ảnh của chính phủ nếu như những điều như vậy diễn ra lan tràn. Những dạng chính phủ liệt kê dưới đây đều được sử dụng với ý khinh miệt dành cho chính quyền.

-Chế độ Bankocracy: Cai trị bởi các ngân hàng. Một hệ thống chính phủ bị ảnh hưởng quá mức bởi quyền lực của các ngân hàng và các cơ quan tài chính lên các hoạch định chính sách công của mình. Nó cũng có thể ám chỉ dạng chính phủ có các cơ quan tài chính nắm quyền điều hành xã hội.

-Chế độ Corporatocracy: Cai trị bởi các tập đoàn. Hệ thống chính phủ bị kiểm soát trên các lĩnh vực liên quan đến kinh tế chính trị bởi các tập đoàn hoặc các nhóm lợi ích.

-Chế độ Nepotocracy: Cai trị bởi con-ông-cháu-cha. Sự thiên vị trong xã hội dành cho thân nhân của những người có quyền lực bất kể họ có công trạng gì đối với quốc gia hay không . Trong chế độ này các vị trí quản lý, lãnh đạo được trao cho thân nhân của những người có quyền thế. Thậm chí cho dù những người này không có trình độ, chuyên môn; họ chỉ cần những mối quan hệ, quen biết thân cận với giới quyền lực.

-Chế độ Kakistocracy: Cai trị bởi những kẻ dốt nát. Những nhà cầm quyền này được vận hành bởi những công dân tồi tệ và kém cỏi nhất. Do bản chất của con người vốn không có ai là hoàn hảo cả, có những ý kiến cho rằng tất cả những chính phủ đã từng tồn tại đều là ví dụ điển hình cho kiểu chế độ này.

-Chế độ Kleptocracy (các quốc gia Mafia): Cai trị bởi những băng đảng. Một hệ thống cai trị mà các quan chức theo đuổi sự giàu có cá nhân và quyền lực chính trị đối với ngân sách. Trong định nghĩa chặt chẽ hơn của Kleptocracy thì đây có thể không phải là một hình thức chính phủ mà một đặc tính của một chính phủ có những hành vi kể trên. Ví dụ như Mexico bị coi là một Kleptocracy kể từ khi nền dân chủ của quốc gia này bị cho là lũng đoạn bởi những kẻ kiếm lợi bất chính từ việc buôn lậu ma túy vào Hoa Kỳ.

-Chế độ Ochlocracy: Cai trị bởi số đông dân chúng (không phải là tất cả). Trong hệ thống này, sự cai trị là dựa trên nguyên tắc của đám đông. Ochlocracy được sử dụng một cách miệt thị cho chủ nghĩa số đông (majoritarianism), nó cũng tương tự như từ “mobile vulgus” trong tiếng Latin có nghĩa là “đám đông hay thay đổi”. Các chính phủ kiểu Ochlocracy thường là các nền dân chủ đổ đốn do sự mị dân của chính quyền. Sự độc tài của đám đông và sự cai trị của tham vọng, lý tưởng vượt lên trên lý trí con người. Kiểu chính phủ như thế này có thể còn tàn bạo hơn cả những tên bạo chúa độc tài.

 

http://en.wikipedia.org/wiki/File:Forms_of_government.svg

 

Phân loại theo đối tượng tham gia bầu cử

Các chính phủ độc tài

-Chế độ độc tài (Authoritarian): Đặc trưng bởi sự phục tùng tuyệt đối và mù quáng của dân chúng đối với chính quyền, ví dụ như chống lại các quyền tự do cá nhân và các hành vi liên quan đến sự quy phục không đòi hỏi (unquestioning obedience)

-Chế độ chuyên chế (Totalitarian): Chính phủ nắm toàn quyền cai trị trong xã hội và tiến tới kiểm soát mọi khía cạnh của đời sống từ mức độ công cộng cho đến từng cá nhân cụ thể.

*Lưu ý: Hai loại chính phủ này được sử dụng với ý nghĩa khác nhau về cách thức chính phủ thực thi sự độc đoán.

 

Các chính phủ dân chủ

Tính chất chung: Các chính phủ dân chủ phổ biến nhất ở các quốc gia phương Tây và một số quốc gia phương Đông chịu ảnh hưởng của phương Tây sau khi từng là thuộc địa của họ trong lịch sử.
Trong các nền dân chủ, phần lớn dân chúng có quyền bỏ phiếu để đưa ra quyết định (trưng cầu dân ý) hoặc để lựa chọn người đại diện đưa ra quyết định (bầu cử). Một tính chất quan trọng trong các nền dân chủ là có các đảng phái chính trị. Mỗi đảng phái chính trị là một tập hợp của một nhóm người có chung lý tưởng, quan điểm về cách thức cai trị đất nước.

-Chế độ Demarchy: Một dạng của dân chủ. Đặc chưng bởi sự bốc thăm ngẫu nhiên (random selection) những nhà lãnh đạo (decision makers). Những người này được lựa chọn ngẫu nhiên từ một nhóm rất nhiều những công dân đủ điều kiện để tham gia. Nhóm người này  thường được gọi là “các bồi thẩm đoàn chính sách” hay “các bồi thẩm đoàn công dân”,… . Sở dĩ có tên gọi như vậy là vì cách thức họ đưa ra các quyết định về các chính sách công cũng giống như cách các bổi thẩm đoàn đưa ra phán quyết trong các vụ án hình sự.
Demarchy, về lý thuyết, có thể khắc phục được các nhược điểm của những nền dân chủ Đại diện. Các nền dân chủ Đại diện thường bị coi là bị giật dây bởi những chủ ý khác nhau giữa các nhà hoạch định chính sách chuyên nghiệp (chính trị gia, các nhà vận động hành lang) và các cử tri thụ động, không tham gia và thiếu hiểu biết. Theo nhà triết học Úc John Burnheim, sự lựa chọn ngẫu nhiên những nhà hoạch định chính sách sẽ giúp cho các công dân bình thường được tham gia nhiều hơn và gây khó khăn cho những ý đồ hủy hoại hệ thống chính phủ.
Nền dân chủ của Athen cổ đại cũng dựa trên chủ yếu là hình thức dân chủ này. Các quan chức chính phủ được lựa chọn vào các vị trí lãnh đạo chủ yếu bởi bốc thăm (như sổ xố) hơn là được bầu cử. Các ứng viên luôn luôn là nam, là những người có giáo dục, có địa vị và giàu có ở mức tối thiểu.

-Chế độ Dân chủ: Lãnh đạo bởi một chính phủ được lựa chọn qua bầu cử bởi đa số nhân dân. Điểm khác biệt mấu chốt giữa một nền dân chủ và các dạng chính phủ lập hiến khác là ở chỗ quyền bầu cử không bị giới hạn bởi sự giàu có hay chủng tộc (Chỉ tiêu chính dành cho các cử tri tham gia bầu cử thường là quy định về độ tuổi). Một chính phủ dân chủ, do đó, được sự ủng hộ của đa số dân chúng (ít ra là trong quá trình bầu cử). Đa số ở đây có thể được định nghĩa theo các cách khác nhau. Ngoài ra cũng có những sự chia sẻ quyền lực (thường trong các quốc gia đa chủng tộc, đa tôn giáo) hoặc “bầu cử theo hội đoàn (electoral-college)” hoặc các hệ thống cử tri ở những quốc gia mà sự bầu cử không đơn thuần chỉ là đếm số phiếu theo đầu người.

-Dân chủ Trực tiếp: Trong chế độ này, người dân thể hiện quyền làm chủ và bỏ phiếu trực tiếp cho các đạo luật và chính sách công.

-Dân chủ Đại diện: Trong chế độ này các công dân của một quốc gia bầu cử ra người đại diện cho mình hoạch định và thực thi các chính sách công.

– Dân chủ Tự do (liberal democracy):  Chế độ này chính là nền Dân chủ Đại diện hoạt động trên các nguyên lý của chủ nghĩa tự do (liberalism). Nó đặc trưng bởi sự công bằng, tự do và các cuộc tranh cử giữa nhiều đảng phái chính trị khác nhau; Pháp quyền, quyền con người và các quyền tự do dân sự được đề cao trong cuộc sống thường nhật.
Để định nghĩa trong thực tế, Một chính phủ có phải thuộc dạng Dân chủ Tự do hay không có thể rút ra từ hiến pháp quốc gia đó. Sau một thời gian liên tục lan rộng trong suốt thế kỷ 20 chế độ Dân chủ tự do trở thành hệ thống chính trị thịnh hành nhất trên thế giới. Một nền dân chủ tự do có thể có nhiều kiểu hiến pháp khác nhau: Nó có thể là Cộng hòa lập hiến, như Pháp, Đức, Ấn Độ, Ireland, Ý hay Hoa Kỳ; Hoặc quân chủ lập hiến, như Nhật Bản, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh. Nó có thể có một hệ thống tổng thống (presidential system) (như Argentina, Brazil, Mexico, hay Hoa Kỳ), một hệ thống bán tổng thống ( semi-presidential system) (như Pháp hay Đài Loan), hoặc một hệ thống nghị viện (như Úc, Canada, Ấn Độ, New Zealand, Ba Lan hay Vương quốc Anh)

-Dân chủ xã hội (Social democracy): Chế độ này cho rằng mọi công dân đều có quyền hợp pháp được hưởng các quyền lợi xã hội nhất định. Những quyền này liên quan đến các dịch vụ công như: giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bồi thường lao động, giao thông, và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đặc biệt cho người già và trẻ nhỏ. Dân chủ xã hội thường có liên hệ với các phong trào lao động của các công đoàn và hỗ trợ các quyền lợi chung cho công nhân. Các nền Dân chủ xã hội đương đại chủ trương xóa bỏ những phân biệt đối xử dựa trên những khác biệt về năng lưc/ thể trạng, tuổi tác, tôn giáo, giới tính, và phân tầng xã hội.

-Dân chủ độc tài (Totalitarian democracy): Ám chỉ một hệ thống cai trị trong đó các đại biểu dân cử hợp pháp duy trị sự thống nhất trong một quốc gia. Các công dân trong chế độ này chỉ có quyền bỏ phiếu còn ngoài ra có rất ít hoặc không hề có sự tham gia vào các tiến trình ra quyết định của chính phủ.

 

Các chính phủ Đầu sỏ (Oligarchy)

Tính chất chung: Các chính phủ thuộc thể chế Đầu xỏ (oligarchy), được lãnh đạo bởi một nhóm người có quyền lực hoặc có ảnh hưởng. Giữa những người này có thể phân bố quyền lực đồng đều hoặc không. Chế độ Đầu sỏ khác với chế độ dân chủ bởi rất ít người được có cơ hội tạo ra những thay đổi. Thế chế Đầu sỏ không nhất thiết có tính cha truyền con nối hay có tính quân chủ. Một chế độ Đầu xỏ không có một kẻ lãnh đạo rõ ràng, mà là một vài kẻ có thế lực.

-Chế độ Ergatocracy: Lãnh đạo bởi giai cấp vô sản, người lao động hay giai cấp công nhân.

-Chế độ Kritarchy: Lãnh đạo bởi các thẩm phán. Một hệ thống cai trị bao gồm các tổ chức thực thi pháp luật.  Trong chế độ này các hệ thống pháp lý và nhà nước là một, theo như quy định được ghi trong hiến pháp. Theo đó các quan tòa có thêm quyền lập pháp, hành pháp và giải quyết các tranh chấp pháp lý. Không nên nhầm lẫn chế độ này với hệ thống tư pháp thông thường.

-Chế độ Netocracy: Cai trị bởi các kết-nối-xã-hội. Thuật ngữ này được tạo ra bởi ban biên tập tạp chí công nghệ Mỹ Wired vào đầu những năm 1990. Nó là một từ ghép kết hợp giữa từ Internet và Aristocracy (tầng lớp quý tộc), Netocracy ám chỉ một tầng lớp “thượng lưu” toàn cầu có quyền lực dựa trên nền tảng công nghệ và kỹ năng mạng.
Netocracy cũng có thể ám chỉ “Internet thúc đẩy tiến trình dân chủ” (Internet-enabled democracy). Theo đó các quyết định chính trị sẽ dựa trên từng vấn đề cụ thể (issue-based) thay vì dựa trên đường lối của các đảng phái khác nhau (party-based).

-Chế độ Đầu sỏ (Oligarchy): Lãnh đạo bởi một nhóm người có cùng chủ trương hoặc có mối thân cận, họ hàng.

-Chế độ Tài phiệt (Plutocracy): Lãnh đạo bởi người giàu. Chế độ này có hệ thống lãnh đạo thuộc tầng lớp giàu có. Tất cả các dạng chính phủ được liệt kê ở đây đề có thể trở thành một chế độ Tài phiệt. Giả sử, nếu tất cả các đại biểu dân cử trong một nền cộng hòa đều giàu có thì chính phủ đó vừa mang chế độ cộng hòa vừa mang chế độ tài phiệt.

-Chế độ Quân phiệt (Stratocracy): Cai trị bởi quân đội. Khác với chế độ Độc tài Quân sự. Trong thể chế này chính quyền quân sự là người cầm lái, một cách tự nhiên hoặc thông qua hiến pháp được coi như một chính phủ. Mọi công dân hoặc bắt buộc hoặc tự nguyện sẽ thực thi nghĩa vụ quân sự. Do đó các chính quyền Quân phiệt tập trung phát triển và rèn luyện quân đội. Những người được vinh dự bãi nhiệm đi nghĩa vụ thì sẽ có quyền làm chỉ huy.
Thành bang Sparta là một ví dụ lịch sử điển hình cho chế độ này. Hệ thống xã hội và hiến pháp của Sparta hoàn toàn tập trung vào việc huấn luyện quân đội.
Cần nói thêm rằng đặc trưng của chế độ này nằm ở chỗ quyền lực chính trị của quân đội được củng cố và quy định bởi luật pháp, hiến pháp và ngay chính xã hội. Các chính phủ Quân phiệt thường giống một chính quyền theo chế độ nhân tài (meritocracy), theo đó những người xuất sắc lên nắm quyền. Các chính phủ này về bản chất cũng không nhất thiết phải là một chính quyền chuyên chế để củng cố quyền lực cho mình.

-Chế độ Thần quyền (Theocracy): Cai trị bởi một lãnh tụ tôn giáo. Một chính phủ bao gồm các tổ chức tôn giáo, trong đó giáo hội một cách tự nhiên hoặc thông qua hiến pháp nắm quyền điều hành. Những công dân thuộc tầng lớp tăng lữ có quyền lãnh đạo trong đất nước. Chính quyền Vatican và Tây Tạng là những ví dụ lịch sử điển hình cho chế độ này.

 

Những hệ thống cai trị khác:

-Chế độ Vô chính phủ (Anarchy): Tại Hoa Kỳ, thuật ngữ này thường được sử dụng để ám chỉ một xã hội không có chính phủ công khai hoặc không có sự thực thi quyền bính một cách bạo lực. Khi được sử dụng với định nghĩa này, Anarchy không có nghĩa như một tư tưởng tiêu cực mang đến bất ổn chính trị hay một xã hội không luật pháp.
Ngoài nước Mỹ và đối với phần lớn những người theo chủ nghĩa vô chính phủ, xã hội kiểu này vẫn có một hệ thống điều hành và thường về mặt lý thuyết ở quy mô quốc gia. Ngoài ra cũng có một số biến thể của chế độ này cố gắng tránh sử dụng các biện pháp đàn áp, vũ lực và uy quyền, trong khi đó vẫn vận hành một xã hội năng suất đáng mơ ước.

-Chế độ Anocracy: Là một thể chế mà quyền lực không được trao cho các tổ chức công cộng (như trong một nền dân chủ thông thường) mà được chia sẻ giữa những nhóm người thuộc tầng lớp ưu tú (elite), những người này thường xuyên tranh giành quyền lực với nhau. Anocracy là một thể chế có tính chất nằm giữa Dân chủ và Chuyên chế.
Ví dụ về chế độ này phải kể đến như các lãnh chúa ở Somalia, các chính phủ của Kenya và Zimbabwe
Thực tế, từ Anocracy được định nghĩa rộng rãi hơn. Ví dụ như trong một công bố vào năm 2010, tổ chức International Alert định nghĩa Anocracy là thể chế của một quốc gia không phải chuyên chế cũng chẳng phải dân chủ, phần lớn các quốc gia này đang trong tiến trình dân chủ hoá từ một quốc gia chuyên chế. Alert lưu ý rằng số lượng các quốc gia Anocracy đã tăng lên đáng kể từ cuối thời chiến tranh lạnh. Không ngạc nhiên lắm là Anocracy là hệ thống chính trị kéo dài rất lâu với những “cú sốc” nhất thời: Nó đem lại sự hứa hẹn nhưng thực tế lại chưa mang lại một nền kinh tế chính trị (political economy) hiệu quả và toàn diện. Nó cũng đem lại những mối đe doạ đến các thành viên của nhóm ưu tú (elite) kể trên. Vì những lý do đó chế độ này rất mong manh và dễ chuyển thành bạo lực vũ trang.

-Chế độ Cộng hoà Chuối tiêu (Banana republic): Một chính quyền cộng hoà chuối tiêu là một chính phủ kleptocracy (mafia) đầy bất ổn chính trị. Chính quyền này tồn tại về mặt kinh tế dựa trên việc xuất khấu các nguồn tài nguyên có giới hạn (hoa quả, khoáng sản) và thường đặc trưng về một xã hội phân tầng sâu sắc: tầng lớp công nhân lao động bị bần cùng hoá và tầng lớp cai trị (các nhà tài phiệt (plutocracy), các “ông lớn” (Aristocrat) trong kinh doanh, chính trị, quân đội).
Trong môn khoa học chính trị, thuật ngữ Cộng hoà chuối tiêu (banana republic) ám chỉ một quốc gia phụ thuộc vào sản lượng (có giới hạn) của các ngành chủ lực (primary-sector). Các ngành này lại được quản lý bởi các nhà tài phiệt, kiếm lợi từ nền kinh tế quốc dân với sự hậu thuẫn từ một chính thể đầu sỏ kinh tế-chính trị (politico-economic oligarchy)

 

Phân loại theo cấu trúc quyền lực của chính phủ

Các chính phủ Cộng hoà

Tính chất chung: Một nền Cộng Hoà là dạng chính phủ mà quốc gia được coi như một vấn đề công cộng (public matter), không phải một mối quan tâm cá nhân hay một tài sản của nhà cầm quyền. Trong chế độ này các quan chức được trực tiếp hoặc gián tiếp bầu lên hoặc bổ nhiệm.

-Chế độ Cộng hoà: Lãnh đạo bởi một chính phủ mà trong đó người dân, hoặc một đại đa số nhân dân có quyền kiểm soát tối cao đối với chính phủ. Các quan chức được dân bầu lên hoặc được bổ nhiệm bởi chính những người đại diện dân cử. Một định nghĩa giản lược thường gặp của nền Cộng hoà là: một chính phủ mà người đứng đầu nhà nước không phải một ông vua (monarch). Triết gia Montesquieu gộp cả hai yếu tố Dân chủ, do có sự chia sẻ quyền lực toàn dân, và Tập quyền (kiểu quý tộc (aristocracy) và đầu sỏ (oligarchy) ), do chỉ có một nhóm người nắm quyền lãnh đạo trong chính phủ cộng hoà.

-Chế độ Cộng hoà Lập hiến: Lãnh đạo bởi một chính phủ bị giới hạn quyền lực bởi luật pháp hay hiến pháp. Chính phủ được chọn ra bằng phương thức bầu cử ở ít nhất một số tầng lớp quốc dân (Sparta cổ đại vốn là một nền cộng hoà mặc dù phần đông dân chúng đã bị tước quyền bầu cử). Các nền Cộng hoà có hành động ngăn chặn quyền bầu cử của một số nhóm cộng đồng quốc dân sẽ thường tuyên bố mình là đại diện toàn dân (bằng cách gọi họ, những người không bầu cử, là “không phải một công dân thực sự”)

-Chế độ Cộng hoà Dân chủ: Trong nền cộng hoà dân chủ, quốc gia được coi như một vấn đề công cộng (public matter), không phải một mối quan tâm cá nhân hay một tài sản của nhà cầm quyền. Trong chế độ này các quan chức được trực tiếp hoặc gián tiếp bầu lên hoặc bổ nhiệm.
Ngoài ra mọi công dân đúng nghĩa đều có tiếng nói bình đẳng đối với các quyết định của địa phương hay quốc gia có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.

-Cộng hoà Đại nghị: Là một nền Cộng hoà hoạtđộng dưới hệ thống nghị viện. Người đứng đầu nhà nước và người đứng đầu chính phủ lại là hai nhân vật khác nhau. Trong đó người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) giữ lại hầu hết quyền hành pháp thay vì người đứng đầu nhà nước (tổng thống). Trong một vài trường hợp quyền hành pháp của thủ tướng và tổng thống có thể là tương đương nhau.

-Cộng hoà Liên bang: Một đất nước là liên hiệp các bang (hoặc tỉnh) dưới sự lãnh đạo của một chính phủ kiểu Cộng hoà.

-Cộng hoà Hồi giáo: Một chính phủ kiểu Cộng hoà hoạt động theo các đạo luật Hồi giáo.

-Cộng hoà xã hội chủ nghĩa: ám chỉ một chính phủ cộng hoà mà theo hiến pháp có nhiệm vụ thực thi một xã hội chủ nghĩa trong quốc gia đó.

 

Các chính phủ liên bang

Liên bang (federalism) là một khái niệm chính trị trong đó một nhóm các thành viên (các bang) liên kết với nhau qua một hiệp ước và có một người lãnh đạo chung.
Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ một hệ thống chính phủ mà chủ quyền trong hiến pháp có sự phân biệt giữa chính quyền trung ương và các đơn vị chính trị khác (như bang hay tỉnh).
Liên bang là một hệ thống dựa trên Dân chủ và hiến pháp. Trong đó quyền lực được chia sẻ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương (bang, tỉnh)
Các chính phủ địa phương của các bang khác nhau có thể thuộc các thể chế khác nhau hay thuộc các thể chế khác với chính quyền liên bang.

 

Ngoài ra các môn hình kinh tế-xã hội của một quốc gia cũng có ảnh hương sâu sắc đến cấu trúc quyền lực quốc gia đó. Có thể kể ra một số tính chất của các mô hình tiêu biểu ở đây để có sự đối chiếu với những dạng chính phủ kể trên.

Tư bản chủ nghĩa: Nền kinh tế thị trường tự do, mọi người có quyền tư hữu và phải chi trả cho các dịch vụ công cộng phục vụ mục đích cá nhân.

Cộng sản chủ nghĩa: Một dạng của xã hội chủ nghĩa. Không có sự phân chia quốc gia, không tầng lớp, không tiền tệ, và không tư hữu (mọi tài sản đều là tài sản công).

Xã hội chủ nghĩa: Tầng lớp các công nhân lao động một cách dân chủ hợp tác với nhau sở hữu toàn bộ nền công nghiệp. Các dịch vụ công miễn phí hoặc được nhà nước hỗ trợ.

Chế độ phong kiến: Một hệ thống cai trị của các địa chủ. Dứoi chế độ này mọi vùng đất tron một vương quốc hoàn toàn là của nhà vua. Tuy nhiên nhà vua sẽ ban tặng một số vùng đất cho các lãnh chúa hoặc các quý tộc, những người lập được chiến công cho nhà vua.

Nhà nước phúc lợi: Khái niệm chính phủ mà trong đó nhà nước đóng vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ và thúc đẩy các điều kiện kinh tế, xã hội thuận lợi cho các công dân. Khái niệm này dựa trên nguyên tắc bình đẳng về mặt cơ hội, bình đẳng về mặt phân bố của cải vật chất và có trách nhiệm xã hội đối với những người không có được điều kiện sống tối thiểu.

Dịch bởi Sona

Tổng hợp từ Wikipedia, Boundless.

 

Share
Share:

4 comments

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *