Chính trị - Kinh tếTôi đọc

CÁC LÝ THUYẾT VỀ CĂN CƯỚC

Ibuki.Satsuki.full.1686553

Trích từ cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại

Mua sách trên Hang Cáo tại ĐÂY


 

Căn cước lẽ tất nhiên của một yếu tố then chốt của thực tại chủ quan, và cũng giống như thực tại chủ quan, nó nằm trong mối liên hệ biện chứng với xã hội. Căn cước được thành hình bởi các quá trình xã hội. Một khi đã được kết tinh, nó được bảo tồn, cải biến, hay thậm chí được định hình lại bởi các mối liên hệ xã hội. Những quá trình xã hội có liên quan đến việc hình thành và việc bảo tồn căn cước đều được định đoạt bởi cấu trúc xã hội. Ngược lại, những căn cước, vốn được sản sinh bởi sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa cơ thể , ý thức cá nhân và cấu trúc xã hội, sẽ tác động trở lại vào cấu trúc xã hội này, bảo tồn nó, cải biến nó, hay thậm chí định hình lại nó. Các xã hội đều có những lịch sử trong đó nảy sinh căn cước đặc thù; tuy nhiên, những lịch sử này được làm nên bởi những con người có căn cước đặc thù.

Nếu người ta lưu tâm tới tính biện chứng ấy, người ta có thể tránh được quan niệm sai lầm về những “căn cước tập thể” vốn không quan tâm đến tính độc nhất vô nhị, sub specie aeternitatis [dưới hình thái phổ quát], của sự hiện hữu cá nhân40. Những cấu trúc xã hội lịch sử đặc thù sản sinh ra những điển hình căn cước [identity types] mà người ta có thể nhận ra trong các trường hợp cá nhân. Hiểu theo nghĩa này, người ta có thể khẳng định một người Mỹ với một căn cước khác với một người Pháp , một người New York khác với một người sống ở miền Trung tây Hoa Kỳ, một vị giám đóc doanh nghiệp, khác với một kẻ sống lang thang, v.v. Như chúng ta đã thấy, thiên hướng  và cách xử sự trong đời sống thường nhật phụ thuộc vào những điển hình tương tự. Điều này có nghĩa là người ta có thể quan sát thấy những điển hình căn cước trong đời sống thường nhật và những lời khẳng định trên đều có tể kiểm chứng được – hoặc bị bác bỏ – bởi những con người bình thường có lương tri thông thường. Người Mỹ nào không tin rằng người Pháp khác mình thì có thể đi Pháp để tự khám phá ra điều này. Hiển nhiên là vị thế của những điển hình tương tự không thể nào so sánh được với vị thế của các kết quả kiến tạo của các ngành khoa học xã hội, và sự kiểm chứng hay sự bác bỏ cũng không tuân theo những qui tác của phương pháp khoa học. Chúng tôi buộc phải để sang một bên vấn đề phương pháp luận về mối quan hệ chính xác giữa những sự điển hình hóa trong đời sống thường nhật với các kết quả kiến tạo của khoa học (một tín đồ Thanh giáo biết mình là một tín đồ Thanh giáo, và được công nhận như vậy bởi một tín đồ Anh giáo chẳng hạn, mà không cần phải suy nghĩ đắn đo gì nhiều; thế nhừng nhà khoa học nào muốn kiểm tra luận điểm của Max Weber về nền đạo đức Thanh giáo thì buộc phải tuân theo những thủ tục khá khác biệt và phức tạp hơn để có thể “công nhận” những vật sở chỉ thường nghiệm [empirical referents] của điển hình ý thể [ideal type] của Weber). Điểm đáng quan tâm trong ngữ cảnh ở đây, đó là các điển hình căn cước đều có thể “quan sát được” và “kiểm chứng được” bởi kinh nghiệm tiền lý thuyết và do đó tiền khoa học.

Căn cước là một hiện tượng nảy sinh từ sự biện chứng giữa cá nhân với xã hội. Mặt khác, các điển hình căn cước đều là những sản phẩm xã hội tout court [một cách đơn thuần], là những yếu tố tương đối ổn định của thực tại xã hội khách quan (mức độ ổn định này, lẽ tất nhiên, đến lượt nó, cũng được định đoạt về mặt xã hội). Xét trong tư cách ấy, chúng là chủ đề của một dạng lý thuyết trong bất cứ xã hội nào, ngay cả khi chúng ổn định và quá trình hình thành các căn cước cá nhân tương đối không gặp vấn đề rắc rối. Các lý thuyết về căn cước luôn luôn nằm trong lồng một lối lý giải tổng quát hơn về thực tại; chúng được “xây gắn vào” vũ trụ biểu tượng và những kiểu chính đáng hóa vũ trụ về mặt lý thuyết, và chúng có nhiều dạng khác nhau tùy theo đặc tính của những kiểu chính đáng hóa ấy. Căn cước sẽ trở nên hết sức khó hiểu nếu không định vị được nó trong một thế giới. Vì thế, bất cứ sự lý thuyết hóa nào về căn cước – và về các điển hình đặc thù – đều phải diễn ra bên trong khuôn khổ của những sự lý giải vè mặt lý thuyết mà trong đó căn cước và những điển hình căn cước được định vị. Chúng ta sẽ sớm trở lại vấn đề này.

Cần phải nhấn mạng một lần nữa rằng chúng ta đang đề cập đến những lý thuyết về căn cước xét như một hiện tượng xã hội; nghĩa là, không có bất cứ thành kiến nào về chuyện nó có tể được chấp nhận bởi nền khoa học hiện đại hay không. Thật vậy, chúng tôi sẽ đề cập đến những lý thuyết ấy như những lý thuyết “tâm lý học” , và sẽ đưa vào đây bất cứ lý  thuyết nào về căn cước tự nhận là có khả năng giải thích hiện tượng thực tế một cách toàn diện, cho dù sự giải thích này có “hiệu lực” hay không đối với ngành khoa học đương đại mang tên là tâm lý học.

Nếu các lý thuyết về căn cước luôn luôn nằm lồng trong các lý thuyết toàn diện hơn về thực tại, thì điều này phải được hiểu theo cái logic nền tảng nằm bên dưới các lý thuyết toàn diện này. Thí dụ, nếu lý thuyết tâm lý học nào đó lý giải một hiện tượng cụ thể do bị ma quỉ nhập, thì cái khung ma trận [matrix] của lý thuyết ấy chính là một lý thuyết thần thoại về hoàn vũ, và hoàn toàn không hợp lý nếu lý giải nó trong một khuôn khổ thần thoại. Tương tự như vậy, lý thuyết tâm lý học nào lý giải cũng các hiện tượng ấy như những sự nhiễu điện của bộ não thì sẽ dựa trên một lý thuyết khoa học tổng quát về thực tại, kể cả thực tại của con người và thực tại ngoài con người; tính nhất quán của cách lý giải này cũng xuất phát từ cái logic nền tảng nằm bên dưới lý thuyết ấy. Nói một cách đơn giản, tâm lý học luôn luôn dựa trên tiền đề vũ trụ luận.

Điểm này có thể được minh họa bằng cách đề cập đến thuật ngữ “qui hướng thực tại” [reality-oriented] vốn được sử dụng nhiều trong ngành tâm bệnh học41. Một nhà tâm bện học khi thử chuẩn đoán một cá nhân có trạng thái tâm lý khả nghi thường đặt ra cho anh ta những câu hỏi nhằm xác định mức độ “qui hướng thực tại” của anh ta. Điều này hoàn toàn logic, nhìn dưới quan điểm tâm bệnh học, rõ ràng là có một cái già đó trục trặc khi một cá nhân không biết hôm nay là ngày nào trong tuần, hay khi anh ta sẵn sàng thú nhận rằng mình vừa nói chuyện với linh hồn của người quá cố. Quả nhiên thuật ngữ “qui hướng thực tại” tự nó có thể có ích trong một bối cảnh tương tự. Tuy nhiên, nhà xã hội học phải hỏi thêm câu hỏi là “Thực tại nào?”. Nhân tiện nói ở đây, cấu nói thêm này không phải không có mối liên hệ thiết thân nào đối với ngành tâm bệnh học. Nhà tâm bệnh học chắc chắn sẽ lưu tâm đến sự kiện là sở dĩ một cá nhân không biết hôm nay là ngày thứ mấy thì có phải do anh ta vừa đáp máy bay đến từ mọt lục địa khác hay không. Anh ta không biết hôm nay là ngày thứ mấy có thể chỉ đơn giản bởi anh ta còn ở “trong một thời gian khác”, chẳng hạn giờ ở Calcutta thay vì giờ ở miền đông Hoa Kỳ. Nếu nhà tâm bệnh học có một độ nhạy cảm nào đó với bối cảnh văn hóa-xã hội của các trạng thái tâm lý, thì ông ta cũng sẽ đi đến một số kết quả chuẩn đoán khác nhau về người vừa trò chuyện với người chết, tùy theo trường hợp người này đến từ thành phố New York chẳng hạn hay từ vùng nông thôn Haiti. Cá nhân có thể vẫn còn ở “trong một thực tại khác” hiểu theo cùng một nghĩa khách quan về mặt xã hội giống như trường hợp đang ở “trong một không gian khác”. Nói cách khác, những câu hỏi liên quan đến trạng thái tâm lý không thể trả lời thỏa đáng nếu không chú ý đến định nghĩa về thực tại vốn đã được coi là đương nhiên trong hoàn cảnh xã hội của anh ta. Nói một cách rạch ròi hơn, trạng thái tâm lý có liên quan tới các định nghĩa của xã hội về thực tại nói chung, và chính nó cũng bị qui định về mặt xã hội42.

Sự xuất hiện của các lý thuyết tâm lý học còn phản ánh một mối liên hệ biện chứng nữa giữa căn cước với xã hội – đó là mối liên hệ giữa lý thuyết tâm lý học với những yếu tố thực tại chủ quan mà nó muốn định nghĩa và giải thích. Tất nhiên, mức độ của sự lý thuyết hóa này có thể khác nhau rất nhiều, giống như trong mọi trường hợp chính đáng hóa về mặt lý thuyết. Những điều mà chúng tôi đã nói đến trước đây về các nguồn gốc và các giai đoạn của các lý thuyết chính đáng hóa đều có thể được áp dụng vào đây với một hiệu lực tương tự, nhưng với một sự khác biệt không phải không quan trọng. [Đó là:] các lý thuyết tâm lý học đều thuộc về một chiều kích thực tại có tính chất thiết thân mạnh nhất và liên tục nhất về mặt chủ quan đối với mọi cá nhân . Vì thế, sự biện chứng giữa lý thuyết và thực tại tác động đến cá nhân một cách mạng mẽ và trực tiếp bằng xương bằng thịt.

Khi các lý thuyết tâm lý học đạt đến một trình độ cai về mặt tư tưởng, chúng thường được quản trị bởi một nhóm nhân sự được đào tạo chuyên biệt về khối kiến thức này. Dù các chuyên viên này có kiểu tổ chức xã hội nào đi nữa, thì các lý thuyết tâm lý học sẽ vẫn đi vào trở lại đời sống thường nhật bằng cách cung cấp những sơ đồ lý giải để người ta có thể xử lý những trường hợp trục trặc. Tất cả những vấn đề này nảy sinh từ sự biện chứng giữa những căn cước chủ quan với căn cước xã hội đã ấn định, hoặc là giữa căn cước với tầng nền sinh học của nó( chúng ta sẽ bàn về chuyện này sau) điều đó có thể được phân loại theo các phạm trù lý thuyết – lẽ tất nhiên, đây là tiền đề bất cứ sự trị liệu nào. Các lý thuyết tâm lý học lúc ấy sẽ được dùng để chính đáng hóa các phương pháp bảo tồn và sửa chữa căn cước mà xã hội đã thiết lập, bằng cách đem lại sự kết nối về mặt lý thuyết giữa căn cước với thế giới, vì cả hai đều đã được định nghĩa về mặt xã hội và đều đã được sở đắc về mặt chủ quan.

Các lý thuyết tâm lý học có thể mang tính chất xác đáng hay không xác đáng trong thực tế – khi nói vậy, chúng tôi không có ý nói về tính chất xác đáng của chúng xét về mặt qui tắc hoạt động của ngành khoa học thực nghiệm, nhưng chúng tôi muốn nói về những sơ đồ lý giải mà chuyên gia hay người phàm có thể áp dụng vào các hiện tượng thường nghiệm trong đồi sống thường nhật. Thí dụ, lý thuyết tâm lý học não thừa nhận tình trạng bị ma quỉ nhập thì chắc là sẽ không xác đáng để lý giải những vấn đề liên quan đến căn cước của những người trí thức Do Thái trung lưu ở thành phố New York. Đơn giản vì những người này không có một căn cước có khả năng sản xuất ra những hiện tượng mà người ta có thể lý giải theo cách ấy.  Ma quỉ, nếu quả thật chúng tồn tại, có vẻ như tránh né họ. Mặt khác, ngành phân tâm học chắc là cúng không xác đáng để lại những vấn đề căn cước ở vùng nông thôn Haiti, trong khi một thứ tâm lý học của đạo Voudun thì lại có thể đưa ra những sơ đồ lý giải có mức độ chính xác cao về mặt thường nghiệm. Hai loại tâm lý học này đều chứng minh được tính chất xác đáng của mình về mặt thường nghiệm thông qua khả năng ứng dụng vào việc trị liệu, nhưng không phải vì thế mà chúng chứng minh được vị thế bản thể luận của những phạm trù trị liệu của mình. Các vị thần Voudun lẫn năng lượng libido đều không thể tồn tại bên ngoài cái thế giới vốn đã được định nghĩa trong những bối cảnh xã họi tương ứng. Nhưng trong lòng những bối cảnh xã hội ấy thì cả hai thứ ấy đều thực sự tồn tại nhờ vào sự định nghĩa của xã hội, và đều được nội tâm hóa như những thực tại trong dòng tiến trình xã hội hóa. Người dân nông thôn Haiti bị ma quỉ nhập, còn người trí thức New York thì bị bệnh tâm căn [neurotic]. Như vậy, chuyện ma quỉ nhập và bệnh tâm căn đều là những thành tố của cả thực tại khách quan lẫn thực tại chủ quan trong những bối cảnh ấy. Thực tại này có mặt trên phương diện thường nghiệm trong đời sống thường nhật. Các lý thuyết tâm lý học tương ứng đều xác đáng trên phương diện thường nghiệm cũng theo đúng nghĩa này. Ở đây, chúng ta không cần quan tâm tới vấn đề là tài liệu các lý thuyết tâm lý học có thể phát trển để siêu vượt lên khỏi tính tương đối lịch sử xã hội này hay không, và nếu có thì chúng sẽ phát triển như thế nào.

Trong chừng mực mà các lý thuyết tâm lý học đều xác đáng theo nghĩa ấy, thì chúng có thể được kiểm chứng về mặt thực nghiệm. Một lần nữa, chuyện đang bàn ở đây không phải là sự kiểm chứng hiểu theo nghĩa khoa học, mà là kiểm nghiệm thông qua kinh nghiệm của đời sống xã hội thường nhật. Thí dụ, người ta có thể nói rằng những người sinh vào ngày nào đó trong tháng thì sẽ dễ bị ma quỉ nhập, hay những người nào có mẹ hay bạo ngược thì sẽ dễ bị mắc bệnh tâm căn. Những mệnh đề này đều có thể được kiểm chứng về mặt thường nghiệm một khi chúng thuộc về những lý thuyết xác đáng, hiểu theo nghĩa vừa nêu trên. Sự kiểm chứng này có thể tiến hành bởi các thành viên cũng như bởi những nhà quan sát từ bên ngoài nhìn vào những hoàn cảnh xã hội hữu quan. Một nhà dân tộc học người Haiti có thể khám phá ra bệnh tâm căn ở New York trên bình diện thường nghiệm, cũng giống như một nhà dân tộc học Mỹ có thể khám phá ra hiện tượng bị ma quỉ nhập trong đạo Voudun trên bình diện thường nghiệm. Điều kiện tiền đề để có thể đi đến những khám phá ấy chỉ đơn giản là nhà quan sát ở bên ngoài có sẵn sàng sử dụng bộ máy tư tưởng của nhà tâm lý học bản địa để tiến hành khảo sát hay không mà thôi. Liệu anh ta có đồng thời sẵn sàng chấp nhận rằng thứ tâm lý học ấy có hiệu lực nhận thức luận tổng quát hơn hay không – điều này không liên quan tới công việc khảo sát thực nghiệm trực tiếp.

Có một cách khác để nói rằng các lý thuyết tâm lý học đều xác đáng, đó là nói rằng chúng đều phản ánh cái thực tại tâm lý mà chúng muốn giải thích. Nhưng nếu như đó là toàn bộ câu chuyện, thì mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tại ở đây vẫn chưa phải là một mối liên hệ mang tính biện chứng. Một sự biện chứng thực thụ chỉ xuất hiện nhờ vào hiệu năng hiện thực hóa của các lý thuyết phân tâm học. Trong chừng mực mà các nhà lý thuyết tâm lý học đều là những yếu tố thuộc về lối định nghĩa thực tại của xã hội, thì khả năng sản-sinh –ra-thực-tại của chúng ta là một đặc trưng tương tự như đặc trưng của các lý thuyết chính đáng hóa khác; tuy nhiên, hiệu năng hiện thực hóa của chúng ta đặc biệt lớn lao, bởi lẽ hiệu năng này nằm trong những tiến trình nặng về cảm xúc khi hình thành căn cước. Nếu một lý thuyết tâm lý học đi đến chỗ được thiết lập về mặt xã hội ( ức là được mọi người thừa nhận là một cách lý giải xác đáng về thực tại khách quan), thì nó sẽ có xu hướng tự hiện thực hóa một cách mạnh mẽ trong những hiện tượng mà nó nhằm lý giải. Việc nội tâm hóa lý thuyết tâm lý học này sẽ ngày càng diễn ra nhanh chóng bởi sự kiện là nó thuộc về thực tại bên trong, đến mức mà các nhân sẽ hiện thực nó ngay trong chính hành vi nội tâm của nó. Một lần nữa, một lý thuyết tâm lý học luôn luôn tự nó gắn liền với căn cước, nên việc nội tâm hóa nó thường đi đôi với sự đồng hóa và do đó ispo facto [tự bản thân sự kiện này] cũng thường dẫn đến sự hình thành căn cước. Trong mối liên hệ chặt chẽ này giữa sự nội tâm hóa và sự đồng hóa, các lý thuyết tâm lý học có sự khác biệt lớn lao so với các loại lý thuyết khác. Không có gì đáng ngạc nhiên, vì các vấn đề liên quan đến sự xã hội hóa bất thành thường phần lớn dẫn tới kiểu lý thuyết hóa này, nên các lý thuyết tâm lý học đường dễ gây ra những hiệu ứng xã hội hóa mạnh hơn. Điều này không có nghĩa là các lý thuyết tâm lý học có khả năng tự kiểm chứng. Như chúng tôi đã nêu, sự kiểm chứng chỉ diễn ra khi các lý thuyết tâm lý học chạm trán với thực tại tâm lý đang có mặt trong thực tế. Các lý thuyết tâm lý học tạo ra một thực tại, và thực tại này, đến lượt nó, trở thành cơ sở để kiểm chứng chúng. Nói cách khác, ở đây, chúng ta đang đối diện với những mối liên hệ biện chứng, chứ không phải là sự trùng lặp ngôn từ.

Người dân nông thôn Haiti nào đã nội tâm hóa lý thuyết tâm lý học của đạo Voudoun thì ma quỉ nhập ngay khi anh ta phát hiện ra một số dấu hiệu nhất định nào đó. Tương tự như vậy, người trí thức nào ở New York đã nội tâm hóa lý thuyết tâm lý học của Freud thì sẽ trở thành kẻ bị bệnh tâm căn ngay khi anh ta phát hiện ra một số triệu chứng mà ai cũng biết. Thật vậy, trong một bối cảnh tiểu sử nhất định, rất có thể những dấu hiệu hay những triệu chứng ấy sẽ trưng ra bởi chính cá nhân. Người Haiti trong trường hợp này sẽ trưng ra không phải triệu chứng của bệnh tâm căn, mà là các dấu hiệu bị ma quỉ nhập, trong khi người New York sẽ cấu tạo bệnh tâm căn của mình theo đúng hệ thống triệu chứng mà mọi người đã thừa nhận. Điều này không có liên quan gì với “ chứng hysteria tập thể”, lại càng không dính dáng gì với hành vi giả bệnh [để trốn việc], nhưng lại mang dấu ấn của các điển hình căn cước của xã hội bên trong thực tại chủ quan cá nhân của những người thường dân có ý thức thông thường. Mức độ đồng hóa sẽ khác nhau tùy theo những tình huống nội tâm hóa, như chúng ta đã bàn ở phần trên, và phụ thuộc chẳng hạn vào chuyện là nó diễn ra ở giai đoạn xã hội hóa thứ cấp. Việc thiết lập một lý thuyết tâm lý học trong xã hội – vốn cũng dẫn đến chuyện giao phó một số vai trò xã hội cho nhóm xã họi đảm trách việc quản trị lý thuyết và việc áp dụng các biện pháp trị liệu của lý thuyết này- tất  nhiên sẽ phụ thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử -xã hội khác nhau43. Nhưng nó càng được thiết lập về mặt xã hội, thì càng có vô khối hiện tượng mà nó phải lý giải.

Nếu chúng ta đặt ra khả năng là có một số lý thuyết tâm lý học nào đó đi đến chỗ trở nên xác đáng trong tiến trình hình thành của nó, thì chúng ta sẽ phải nêu lên câu hỏi là tại sao những lý thuyết chưa xác đáng  (chúng thường như vậy ở những chặng đầu tiên của tiến trình này) lại có thể nảy sinh lúc ban đầu. Nói một cách đơn giản hơn, tại sao một lý thuyết tâm lý học này phải thay thế một lý thuyết tâm lý học khác trong lịch sử? Câu trả lời tổng quát là sự thay đổi này xảy ra khi căn cước tỏ ra có vấn đề, cho dù vì bất cứ lý do gì. Vấn đề có thể nảy sinh từ mối liên hệ biện chứng giữa thực tại tâm lý với cấu trúc xã hội. Những sự thay đổi căn bản trong cấu trúc xã hội ( chẳng hạn những thay đổi do cuộc Cách mạng công nghiệp gây ra) có thể  gây ra những sự thay đổi đồng thời thực tại tâm lý. Trong trường hợp này, những lý thuyết tâm lý học mới có thể nảy sinh bởi vì những lý thuyết tâm lý học cũ không còn đủ khat năng giải thích một cách xác đánh những hiện tượng thực tế đang diễn ra. Lúc đó, công việc lya thuyết hóa về căn cước đang diễn da trong thực tế, và ngay bản thân việc lý thuyết hóa cũng sẽ bị chuyển hóa trong tiến trình này. Mặt khác, căn cước có thể gặp vấn đề rắc rối ngay trên bình diện lý thuyết. Trong trường hợp này, phải nói là các lý thuyết tâm lý học [mới] sẽ được chế tạo “trước khi xảy ra sự kiện”. Việc chúng được thành lập sau đó về mặt xã hội, và kèm theo đó là hiệu năng sản-sinh-ra-thực-tại của chúng, có thể là hệ quả phát sinh từ những mối liên hệ tương hợp nào đó giữa các nhóm nhân sự đảm trách việc lý thuyết hóa với những lợi ích xã hội khác nhau. Chuyện cố tình sử dụng thủ thuật ý thức hệ của nhóm có lợi ích chính trị là một trong những khả năng có thể xảy ra trong lịch sử.

Peter L. Berger & Thomas Luckmann

Cuốn Sự kiến tạo xã hội về thực tại
hiện có trên Hang Cáo.

Mời bạn mua sách tại ĐÂY


 

Chú giải:

40 Không nên nói về “ căn cước tập thể” [ collective identities] bởi mối nguy cơ thực sự thể hóa [hypostatization] ( và vật hóa [ reifying]) một cách sai lầm. Exemplum harribile [ Thí dụ khủng khiếp] về sự thực thể hóa này là trường phái xã hội học “theo Hegel” ở Đức trong những thập niên 1920 và 1930 ( chẳng hạn như công trình của trường phái Durkheim và trường phái “văn hóa và nhân cách” [culture and personnality] trong ngành nhân học văn hóa ở Mỹ.

41Ở đây, dĩ nhiên, chúng tôi muốn nói đến một sự phê phán xã hội học đối với “nguyên tắc thực tại” (reality principle) của Feud. [Xam mục “ Nguyên tắc thực tại” ở phần Chú giải thuật ngữ-N.D.]

42Xem Peter L. Berger, “Towards a Sociological Uderstanding of Psychoanalysis” [ Hướng đến một cách hiểu xã hội học về ngành phân tâm học], Social Research, Spring 1965, tr.26 tt.

43Xem tài liệu vừa dẫn

Share
Share: