Khái niệmTôi tìm hiểu

Dẫn nhập ngắn gọn về pháp quyền (3): Những thành tố cơ bản trong việc thiết lập nền tảng pháp quyền và hạn chế

Book Hunter Dẫn nhập ngắn gọn về pháp quyền (3)

Đọc toàn bộ chùm bài tại đây: Dẫn nhập ngắn gọn về pháp quyền

Lê Duy Nam chuyển ngữ
Brian Z.Tamanaha, St. John’s University – School of Law

  1. Chia sẻ định hướng rộng rãi trong xã hội – giữa các công dân với quan chức nhà nước – rằng Luật pháp thực sự thống trị và nên thống trị.

Để pháp quyền được tồn tại, mọi người cần tin tưởng vào nó và tuân thủ nó. Họ cần xem đó như là một bộ phận tồn tại cần thiết, hợp lý trong hệ thống pháp lý – chính trị của họ. Thái độ này bản thân nó không phải là một điều luật. Nó là một quan niệm chính trị chung được thêm vào trong hệ thống tín ngưỡng văn hóa. Khi niềm tin này được phổ biến, pháp quyền có thể có sức bật và sống sót qua nhiều thế hệ, vượt qua được cả sự miệt thị của các quan chức nhà nước. Tuy nhiên, khi mà niềm tin này không được phổ biến thì phá quyền có thể trở nên rất yếu và gần như không có tiếng nói.

Tín ngưỡng là những đối tượng không được xếp vào sự kiểm soát của con người, cho nên việc in sâu pháp quyền vào tín ngưỡng khi mà nó chưa tồn tại ở trong đó là một điều rất khó khăn. Một vấn đề đó là trong nhiều xã hội, chính phủ không được tin tưởng và luật pháp làm cho người dân sợ hãi và tránh xa. Điều này thường xảy ra trong những xã hội nơi mà luật pháp đã có một quá trình lịch sử dài hoặc ngắn trong việc áp chế chuyên quyền, hoặc là trong những xã hội mà quan chức nhà nước thường bị xem là tham nhũng và yếu kém, hoặc cũng có thể ở trong những xã hội luật pháp bị xem như không công bằng hoặc chỉ là dành cho một nhóm người ở tầng lớp thượng lưu. Trong những trường hợp mà luật pháp và hệ thống pháp lý đã được chuyển giao từ một nơi nào đó khác – như đã được nói ở trên, thì nhiều người sẽ không đồng cảm với (thậm không không thèm đếm xỉa tới) luật pháp, làm cho việc phát triển định hướng văn hóa trở nên khó khăn hơn, dù chẳng có thể thay đổi theo thời gian. Hơn nữa, khi mà một xã hội bao gồm nhiều sự khác biệt văn hóa, tôn giáo, hoặc các nhóm dân tộc mà luật pháp nơi đó chỉ áp dụng cho một nhóm người thì những nhóm khác có thể xem luật pháp khi đó như một mối đe dọa, và thường thì họ sẽ không thích thú với ý tưởng rằng luật pháp nên thống trị.

Đây là một thành tố thiết yếu của pháp quyền, nhưng nó lại là điều khó khăn nhất để đạt được. Trên hết tất cả, để niềm tin này được tồn tại thì người dân cần đồng cảm với luật pháp và xem nó như là một thứ xứng đáng để thống trị. Niềm tin vào pháp luật của đại đa số không dễ mà có, và nó đòi hỏi nhiều thời gian để trở thành những gì được xem là tương đương với cách nhìn văn hóa về luật thông qua xã hội hóa.

  1. Sự hiện diện của một bộ máy tư pháp [tòa án] độc lập

Một bộ máy tư pháp độc lập (còn được gọi là tòa án độc lập) là một điều cực kỳ quan trọng đối với cả hai chức năng của pháp quyền: đó là phương thức quan trọng để gắn kết quan chức nhà nước với pháp luật (theo chiều dọc) và để giải quyết những mẫu thuẫn giữa công dân với nhau (theo chiều ngang). Phân xử giữa các cá nhân cũng như các nhóm người cần phải cam kết với việc hiểu cũng như áp dụng luật pháp đối với tất cả mọi người (cả quan chức nhà nước) dựa theo những điều đã đồng ý, một cách công bằng và không có thiên vị hoặc tác động từ bên ngoài nào.

Một bộ máy tư pháp độc lập tương đối rất khó để thành lập cũng như duy trì. Tối thiểu, nó đòi hỏi sự phân bổ đầy đủ tài nguyên: cơ quan làm việc, nhân viên tài năng, sự truy cập vào tài nguyên pháp lý, lương bổng hợp lý, và sự đảm bảo công việc. Bời vì bộ máy tư pháp thường không có quyền chỉ đạo trực tiếp vào lực lượng cảnh sát hoặc bất cứ cơ quan thực thi pháp luật nào, một điều kiện thiết yếu đối với sự độc lập của bộ máy tư pháp này là những nhân viên nhà nước khác cần phải tôn trọng sự độc lập của họ và tuân thủ theo lệnh của tòa án. Quay lại thành tố đầu tiên ở trên, để một bộ máy tư pháp được tồn tại độc lập thì cần phải có văn hóa dân tộc mạnh mẽ rằng tòa án không nên bị can thiệp và những quyết định pháp lý của họ phải được tuân thủ. Một bộ máy tư pháp độc lập cũng bị phụ thuộc vào sự tồn tại của nghề pháp lý cam kết vào việc duy trì luật pháp. Những quan tòa được chiêu mộ từ nghề này và phải được truyền thụ những giá trị của pháp quyền; nghề này cần phải hỗ trợ tích cực bộ máy tư pháp và sẵn sàng bảo vệ nó tới cùng khi hệ thống này bị đe dọa.

  1. Sự tồn tại của ngành nghề pháp lý và truyền thống pháp lý mạnh mẽ nhằm cam kết vào việc giữ gìn Pháp quyền.

Một ngành nghề pháp lý và truyền thống pháp lý mạnh mẽ được phát triển tốt cam kết vào việc giữ gìn luật pháp là cần thiết vì một vài lý do sau: để phát triển một bộ máy pháp luật một cách mạch lạc và phù hợp nhằm đạt được tính dễ tiên đoán và tính ổn định trong pháp luật; để cung cấp dịch vụ pháp lý thiết yếu nhằm đảm bảo sự tuân thủ theo pháp luật (theo diều dọc lẫn chiều ngang); để bổ sung những vị trí pháp lý (gồm quản lý, công tốt viên, và quan tòa) với tôn chỉ là luật pháp cần phải thống trị; và để bảo vệ pháp quyền khi hệ thống này bị đe dọa. Nếu thiếu đi những luật sư cam kết với luật pháp và pháp quyền thì sẽ không thể có được pháp quyền, vì kiến thức, hành động, và những sự định hướng của các luật sư chính là những nhân tố truyền tải luật pháp trong xã hội – họ chính là nhóm người mà những hoạt động của họ trực tiếp cấu thành nên luật pháp. Xây dựng nghề nghiệp pháp lý và truyền thống pháp lý mạnh mẽ đòi hỏi một hệ thống giáo dục pháp lý truyền tải kiến thức pháp luật và in sâu những giá trị pháp lý vào những người mà chúng đào tạo, và việc này phải thu hút và tái sản xuất những người muốn cam kết vào luật pháp cũng như phát triển kiến thức pháp luật.

Một vấn đề tiềm tàng đối với thành tố này tồn tại trong những xã hội – nơi mà chỉ có những người giàu có hoặc chỉ môt nhóm người được lựa chọn mới được học kiến thức pháp luật hoặc chỉ họ mới được ngồi vào những chiếc ghế trên chính trường bởi vì điều này gây nên rủi ro trong việc phát triển và áp dụng luật pháp chỉ để nhằm phục vụ lợi ích của nhóm người đó bằng sức lực của nhóm người khác. Điều này tạo nên sự bất công trong pháp luật. Khi đó người dân sẽ hiểu luật pháp một cách lệch lạc và điều này trái với thành tố đầu tiên, kiềm hãm niềm tin chung về pháp luật nên việc pháp luật thống trị sẽ trở nên rất khó khăn.

Không có một thành tố nào trong ba thành tố kể trên dễ dàng đạt được nếu thiếu sót một trong ba nguyên tắc đó, nhưng tình hình trở nên phức tạp hơn vì mỗi thành tố này lại phụ thuộc vào các thành tố khác theo nhiều cách khác nhau. Chúng khác biệt nhưng cũng móc ngoặc vào nhau, và mỗi cái thì lại phụ thuộc vào một kim tự tháp các điều kiện hỗ trợ từ kinh tế, chính trị, và văn hóa. Đây là những bức tường xã hội, văn hóa và thể chế của pháp quyền, và chúng không phải hoàn toàn do con người thiết kế và kiểm soát. Tất cả những điều này làm cho chúng trở nên khó khăn vô cùng trong việc đặt những thành tố của pháp quyền vào đúng vị trí và lại càng bất khả thi để thực hiện điều đó một cách nhanh chóng. Có thể phải cần tới một quá trình dài, thậm chí một vài thế hệ, để: xây dựng niềm tin chung trong lòng người dân rằng pháp luật thực sự và nên thống trị; xây dựng một bộ máy tư pháp độc lập; và xây dựng một nghề nghiệp pháp lý cũng như truyền thống pháp lý cam kết vào việc gìn giữ pháp quyền. Tin tốt đó là khi những điều này xảy ra, tính chất liên kết sẽ làm cho pháp quyền trở nên tràn đầy nhựa sống.

Những điều không được đề cập đến trong khía cạnh cốt lõi của pháp quyền

  1. Dân chủlà một cơ chế lựa chọn lãnh đạo. Nhiều xã hội sử dụng các phương thức dân chủ để xác định xem ai là người có quyền lập pháp (bỏ phiếu cho những nhà lập pháp) và để tạo ra luật pháp hợp lệ (bỏ phiếu cho những dự luật). Dân chủ cũng đóng vai trò như là một lý tưởng hợp pháp hóa mà thiết lập một sức mạnh có tính bắt buộc của luật pháp: bởi vì người dân hoặc các đại diện của họ tạo nên pháp luật (ít nhất theo lý thuyết là như thế), do đó họ đồng ý và tuân thủ theo pháp luật. Tuy nhiên, trong định nghĩa hẹp của pháp quyền không hề đòi hỏi phải có dân chủ. Các hệ thống không dân chủ cũng có thể thỏa mãn được mọi thứ được nêu ra trong Chương này.
  2. Quan niệm hẹp về pháp quyền không áp đặt bất cứ yêu cầu nào với việc lưu ý tới nội dungcủa luật pháp. Tính cởi mở này cùng với sự lưu tâm tới nội dung của nó cho phép pháp quyền có thể phù hợp với mọi kiểu văn hóa, xã hội, và hệ thống chính trị. Nó không cụ thể hóa loại xã hội nào thì cần phải có loại luật pháp nào; nó cũng không chỉ ra những giới hạn cụ thể nào đối với pháp luật. Nó chỉ yêu cầu quan chức nhà nước và người dân tuân thủ và phải hành động phù hợp với pháp luật, bất kể điều gì luật pháp yêu cầu. Điều này cũng đồng nghĩa với việc những luật lệ đàn áp hay vô đạo đức cũng có thể được thực thi – ví dụ như áp đặt nô lệ, phân biết chủng tộc, và phân biệt tôn giáo cũng như đẳng cấp, mà không chạm vào những yêu cầu của pháp quyền.
  3. Những gì trình bày về pháp trị ở chương này không đòi hỏi nó phải có một chính thể bảo vệ nhân quyền. Sự thực thi nhân quyền có thể là một khía cạnh của pháp quyền ở tại mỗi một hệ thống, như đã nói trước đây, tất cả những thành tố được đề cập ở đây có thể được thiết lập mà không nhất thiết phải bảo vệ nhân quyền.

Một số những học giả đã viết về pháp quyền bao gồm một hoặc nhiều trong số ba khía cạnh này. Một hướng tiếp cận hẹp hơn được áp dụng ở đây bởi vì nó đều có chung một cách nhìn và áp dụng được vào nhiều hệ thống nhất. Nhiều xã hội không muốn đi theo những giá trị tự do và một số thì không thích dân chủ. Một nhà nước và xã hội có thể phát triển theo định nghĩa hẹp này của pháp quyền mà không nhất thiết phải áp dụng những sự sắp đặt chính trị hay những giá trị của của nên tự do dân chủ.

Về nền tảng, pháp quyền chính là nhân viên nhà nước và công dân hành động phù hợp với những luật lệ. Đây là một ý tưởng nền tảng với những ngụ ý nhiều sắc thái, những nó không thể giải quyết mọi vấn đề hay là nơi chứa tất cả mọi thứ có giá trị.

Những lý do để thận trọng về pháp quyền

Một trong những lý do đó là pháp quyền, như đã trình bày ở trên, không nhất thiết đòi hỏi dân chủ, hay tôn trọng nhân quyền, hoặc là yêu cầu bất cứ nội dung cụ thể nào trong pháp luật. Phát triển pháp quyền không thể đảm bảo được rằng luật pháp hay hệ thống pháp lý đó trở nên tốt hoặc xứng đáng để người dân tuân theo. Trong trương hợp mà luật pháp tạo cơ hội cho một trật tự chuyên chế, hoặc khi luật pháp áp đặt những giá trị xa lạ hoặc thù hằn lên dân chúng, hoặc khi luật pháp được dùng bởi một nhóm người bên trong xã hội để đàn áp nhóm khác thì lúc đó luật pháp bị xem như một vũ khí đáng sợ. Lòng trung thực đối với pháp quyền trong những trường hợp này có thể đẩy mạnh việc đàn áp một cách hợp pháp. Cần nhớ trong đầu rằng pháp quyền là cần thiết nhưng không đủ đề tạo nên một bộ máy pháp lý công bằng và bình đẳng.

Lý do thứ hai để cảnh giác đó là sự ủng hộ đối với pháp quyền có thể bao phủ sự ủng hộ đối với quy mô của luật pháp để vương xa hơn vào lĩnh vực xã hội, kinh tế và chính trị. Điều ám chỉ lây lan này của pháp luật – thỉnh thoảng được gọi là the hội thẩm hóa thế giới cuộc sống – không tuân theo bản thân pháp quyền. Để đảm bảo quan chức nhà nước tuân thủ theo luật pháp và để bảo vệ mọi người tuân thủ theo pháp luật không hề có ý rằng luật pháp phải hoặc nên thống trị mọi thứ. Mức độ phù hợp của luật pháp chỉ có thể được xác định thông qua sự kiểm định các điều kiện trên mỗi phạm vi. Như đã nói ở phần trước, trong nhiều trường hợp, quy mô cũng như sự áp dụng luật pháp có thể gây nên tác hại đối với những mối quan hệ xã hội và đối với bản thân của luật pháp (bằng việc thúc đẩy sự chống đối hung hăng đối với luật pháp). Cụ thể, khi những chuẩn mực pháp lý hoặc những cơ quan pháp luật mâu thuẫn với các chuẩn mực xã hội hoặc các tổ chứcchúng ta nên cẩn thận đối với những đối tượng và chức năng mà pháp luật đảm trách.

Lý do thứ ba để cảnh giác về pháp quyền đó là rủi ro khi nó có thể thoái hóa thành quyền thống trị bởi quan tòa hoặc luật sư. Chúng ta đã chứng kiến ở nhiều hệ thống ngày càng gia tăng từ quan tòa trong việc đưa ra quyết định đã vi phạm theo thẩm quyền chính trị, đặc biệt là khi giải thích các điều khoản rộng hơn như đảm bảo nhân quyền. Khi điều này xảy ra, cơ quan tư pháp có thể trở thành đối tượng tất công chính trị và những ảnh hưởng chính trị, điều này dẫn tới việc có bàn tay chính trị nhúng vào sự bổ nhiệm cũng như quyết định tư pháp. Do đó, tư pháp hóa chính trị dẫn thẳng tới sự chính trị hóa bộ máy tư pháp, và từ đó làm giảm đi sự độc lập của bộ máy tư pháp, dẫn tới sự yếu kém của pháp quyền. Cần phải có một sự cân bằng mỏng manh mà tại đó quan tòa cố gắng tuân thủ pháp luật nhưng đồng thời đưa ra những quyết định với nhận thức về chức năng (bị giới hạn) đúng đắn của tòa án trong một chính thể rộng hơn.

Lý do cuối cùng để cảnh giác về pháp quyền – hoặc chính xác hơn là lo lắng về việc bàn về pháp quyền –  đó là nhiều sự lạm dụng pháp luật đã được thực hiện ở cấp nhà nước và các cán bộ nhà nước, những người luôn miệng nói tuân thủ pháp quyền. Pháp quyền là một lý tưởn hợp pháp mạnh mẽ. Nó cung cấp chỗ trú ngụ cho những kẻ chính trị gia luôn mồm nói ủng hộ pháp quyền nhưng thực ra lại vi phạm nó. Hành vi này làm nhơ bẩn lý tưởng pháp quyền, vì người dân sẽ dần đi tới quan điểm giễu cợt khi nói về pháp quyền. Giải pháp duy nhất cho vấn đề này là phải cẩn trọng gán buộc những nhân viên chính phủ với trách nhiệm đối với các hành động của họ để tương ứng với chuẩn mực pháp lý, và không bị lừa bởi những điệu bộ giả tạo.

(hết)

Bài đã đăng tải trên Phía Trước, hiện nay chuyển sang Book Hunter

Share
Share: