Chính trị - Kinh tếTôi đọc

Đọc “Các hệ thống bầu cử trên thế giới” để hiểu về tính khả thi của nền dân chủ (1)

Book Hunter Các hệ thống bầu cử trên thế giới

Trong số nhiều yếu tố định hình bản chất và tính khả thi của nền dân chủ trên khắp thế giới, thì thiết kế hệ thống bầu cử thu hút sự chú ý đặc biệt với các học giả và các nhà thực hành dân chủ. Hầu hết các điều kiện hỗ trợ cho sự phát triển dân chủ thay đổi chậm rãi, và không hoàn toàn theo thiết kế. Có thể mất nhiều năm (ít nhất) để xây dựng nền văn hóa chính trị dân chủ, một xã hội tích cực, đa nguyên, và một cơ sở hạ tầng hành chính của một quốc gia có hiệu quả. Và sự hình thành một nền kinh tế phát triển tương đối, với một tầng lớp trung lưu đông đảo và mức độ bất bình đẳng vừa phải, là một thử thách đối với những quốc gia còn nghèo hiện nay mà có lẽ phải mất cả vài thập kỷ để đạt được. Vậy nhưng kiến trúc tổ chức hệ thống chính trị của một quốc gia có thể được thay đổi một cách tương đối nhanh chóng. Với một số sự sửa đổi trong hiến pháp hay viết thêm điều khoản mới, một quốc gia có thể đi từ nhất thể đến liên bang hay từ tổng thống cho tới nghị viện. Thường thì hệ thống bầu cử có thể được thay đổi bởi pháp luật nói riêng, kể cả khi không cần sự sửa đổi hiến pháp. Trong số các thay đổi về cấu trúc và lịch sử ảnh hưởng đến nền dân chủ, chẳng gì cởi mở với thay đổi nhanh và được thiết kế một cách có chủ ý hơn hệ thống bầu cử.

Ngoài ra, các học thuyết và bằng chứng thu thập được bấy lâu nay chỉ ra rằng thiết kế hệ thống bầu cử liên quan nhiều đến bản chất của hệ thống đảng phái, đặc tính của chính trị và chính sách công. Đặc biệt trong sự kết hợp với một vài tham số mấu chốt, như cấu trúc của cơ quan hành pháp (tổng thống hoặc nghị viện) và sự phân phối quyền lực theo chiều dọc (đơn thể hay liên bang), hệ thống bầu cử có thể định hình sự nhất quán của việc đảng kiểm soát chính phủ, sự bền vững của chính quyền, độ rộng và hợp pháp của tính đại diện, năng lực của hệ thống trong việc quản lý xung đột, mức độ tham gia của quần chúng, và tính phản hồi chung của hệ thống. Những chiều hướng của tính chất và chất lượng dân chủ này, ngược lại, có thể định đoạt số phận của nền dân chủ. Một bản thiết kế hệ thống bầu cử tồi có thể phân cực chính trị bầu cử hoặc có thể chia rẽ nghị viện nghiêm trọng tới mức không gì có thể hoàn thành được, không một quyết định nào có thể được đưa ra. Ở trường hợp khác, nó có thể vô tình cho phép các lực lượng chính trị cực đoan với những cam kết dân chủ mập mờ chiếm quyền tối thượng. Ở chiều hướng khác, khi hệ thống bầu cử cố gắng né tránh đối mặt với sự chia rẽ bằng cách cưỡng ép tạo ra một đa số, nó có thể khiến những tập thể chính trị và xã hội quan trọng bị khai trừ hoặc thiếu tính đại diện, đánh đổi một vấn đề để lấy một vấn đề khác có thể còn khó giải quyết hơn. Vì vậy, trong khi một số lý thuyết gia đề xuất đầy tự tin về một loại hình hệ thống bầu phù hợp với mọi quốc gia, số khác lại cảnh báo rằng thử thách thực sự để tìm ra một loại hình phù hợp phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh riêng biệt của từng quốc gia và ở đó được cho là tồn tại sự đe dọa nghiêm trọng nhất đối với nền dân chủ (ví dụ, sự thiếu hụt đa số quyết định hay sự khai trừ thiểu số quan trọng).

Trong bài luận mở đầu của cuốn sách này, một trong số những lý thuyết gia đi đầu về xây dựng thể chế dân chủ, Donald L. Horowitz, nhấn mạnh cách hệ thống bầu cử mạnh mẽ có thể định hình bản chất của nền dân chủ ra sao và các sự lựa chọn có thể gây tranh cãi tới mức nào. Có vô số cách tổng hợp ý kiến cử tri để xác định xem đảng phái nào có bao nhiêu ghế trong nghị viện. “Mọi hệ thống bầu cử đều có những định kiến”, Horowitz cảnh báo, và không một hệ thống bầu cử nào chỉ đơn thuần chuyển đổi một cách thụ động từ “những mong muốn cá nhân sang lựa chọn tập thể”. Do đó, những người thiết kế hệ thống – cũng như đại thể quần chúng mà họ đại diện quyền lợi – cần phải nhận thức được những định kiến này và có những sự lựa chọn tỉnh táo giữa các giá trị cạnh tranh và các lựa chọn bị ép buộc.

Horowitz nhận định sáu mục tiêu khả thi của một hệ thống bầu cử, một số trong đó trực tiếp mâu thuẫn với nhau. Đầu tiên là mục tiêu quy chuẩn chung ngày càng phổ biến của tính tỉ lệ – cố gắng đạt được sự phân bổ số ghế giữa các đảng phái trong nghị viện tỉ lệ thuận với phân phối số phiếu tốt nhất có thể. Các quan sát viên thường gọi nó là “sự công bằng”. Tuy nhiên, Horowitz nhấn mạnh rằng, sự công bằng ở đây “chỉ là một trong nhiều mục tiêu, và nó có thể không phải là một mục tiêu quan trọng nhất”. Kết quả có tính tỉ lệ nhất được sản sinh bởi kiểu hình này hay kiểu hình khác của đại diện tỉ lệ (PR), và nhìn chung các khu vực bầu cử (district) càng ít hoặc càng đông (cực điểm là một quốc gia với chỉ một khu vực bầu cử như Israel và Hà Lan) thì kết quả càng có tính tỉ lệ.

Tuy nhiên, mục tiêu thứ hai, là trách nhiệm của các đại biểu được bầu ra đối vi c tri, và rõ ràng khi các khu vực cử tri càng lớn, thì mối quan hệ trực tiếp giữa các đại diện với các cử tri ở khu vực đó càng yếu. Hơn thế nữa, như Horowitz lưu ý, PR (đặc biệt khi sử dụng kiểu hình danh sách quốc gia) thường “dựa vào sức mạnh của các thủ lĩnh đảng phái” để xác định thứ hạng các ứng viên trên danh sách, do đó làm suy yếu trách nhiệm đối với cử tri. Mục tiêu thứ ba của Horowitz là chính phủ bền vng, một chính phủ có thể tại vị trong thời gian một nhiệm kỳ của nghị viện (nếu đó là hệ thống nghị viện). Mục tiêu này cũng xuất hiện mâu thuẫn với tính tỉ lệ, bởi hệ thống bầu cử càng có tính tỉ lệ, thì nghị viện càng bị chia rẽ (thành đa đảng) và vì thế càng khó khăn hơn trong việc tôi luyện và duy trì một liên minh cầm quyền.

Mục tiêu thứ tư là cung cấp nền tảng giúp “Condorcet winner” luôn thắng cử (Condorcet winner là một ứng cử viên luôn thắng trong các cuộc thi đấu tay đôi với các ứng viên khác). Mục tiêu này khó đạt được khi dùng hệ thống PR, nhưng lại được hệ thống bầu cử lá phiếu thay thế (alternative vote – AV) thực hiện rất tốt, bằng cách yêu cầu cử tri xếp hạng các ứng viên được lọc ra từ các khu vực bầu cử một đại biểu (single-member districts), sau đó loại bỏ ứng viên xếp cuối cùng và phân phối số phiếu mà ứng viên đó đạt được cho các những ứng viên còn lại, và cứ tiếp tục như vậy (nếu cần thiết) cho tới khi một ứng viên nhận được số phiếu đa số. Bằng cách khuyến khích các chính trị gia có ảnh hưởng đến một số lượng nhiều hơn khối cử tri cơ sở (ví dụ như chung sắc tộc hoặc tư tưởng), AV ủng hộ những ứng viên có xu hướng trung dung. Như vậy, theo Horowitz ở những bài viết khác, và như Ben Reilly cũng đã trình bày kỹ lưỡng ở một phần khác trong cuốn sách này, hệ thống AV có khả năng đạt được mục tiêu thứ năm, thúc đẩy hòa giải dân tộc (hay hòa giải tôn giáo) bằng cách khích lệ các ứng viên và đảng phái thể hiện một khuôn mặt trung dung nhằm hướng tới sự ủng hộ cho vị trí thứ hai từ các cử tri của đảng phái hoặc sắc tộc khác. Loại hình “lá phiếu xếp hạng” này chỉ có thể hiệu quả khi có một số lượng lớn các khu vực bầu cử mà trong đó không đảng nào hay nhóm nào là đa số, và bất cứ một trường hợp nào, AV là một hệ thống đa số thống trị (tức là chỉ cho các nhóm đa số có người đại diện, còn các nhóm thiểu số thì không có tiếng nói) với khả năng mang lại những kết quả bầu cử rất bất cân xứng. Những cơ chế khác, như hệ thống của Li-băng (Lebanon) với việc dành chỉ tiêu số ghế cho các nhóm sắc tộc thiểu số (nhưng tất cả cử tri bỏ phiếu cho tất cả số ghế) có thể khuyến khích liên minh các nhóm sắc tộc khác nhau một cách tương tự hoặc thậm chí còn mạnh mẽ hơn hệ thống AV thông thường, nhưng vẫn phải đối mặt với các nhược điểm khác. Mục tiêu thứ sáu là ưu tiên thiểu số, có thể được thực hiện không chỉ bởi PR mà còn bởi nhiều phương cách trắng trợn và cực đoan khác, mặc dù phải trả một cái giá đó là “các ứng viên sẽ chọn hình ảnh cực đoan để nâng cao vị thế” của họ trong mắt nhóm cử tri đặc trưng của họ.

Đó là những sự lựa chọn khó khăn, bao gồm quy phạm quyền lực và sự cân nhắc chính trị, song hậu quả của việc áp dụng hệ thống bầu cử không phải luôn luôn đơn giản, ngay lập tức, và có thể dự đoán được. Di sản của những chia rẽ và động cơ vẫn duy trì, ít nhất là trong một khoảng thời gian nữa. Do vậy, Horowitz cảnh báo, “ảnh hưởng trọn vẹn của một hệ thống bầu cử mới chỉ có thể được đo đạc sau hai hay ba cuộc bầu cử, khi các chính trị gia và cử tri đã kịp làm quen và thích nghi với động cơ của hệ thống bầu cử đó”.

Larry Diamond và Marc F. Plattner (Trích từ lời giới thiệu sách “Các hệ thống bầu cử trên thế giới”)

Link sách bản gốc tiếng Anh: http://amzn.to/2qwmLhb

Nhóm dịch Radamathys (của TỰ HỌC TIẾNG ANH NGHIÊM TÚC )

“Các hệ thống bầu cử trên thế giới” là một cuốn sách rất khó dịch với nhiều khái niệm mới và chuyên sâu về chính trị, dày khoảng 700 trang khổ 15X24 cm.

Nhóm dịch Radamathys đang gấp rút hoàn thiện khâu biên tập của cuốn sách, hứa hẹn sẽ ra mắt bạn đọc trong năm nay.

Các bạn có thể đăng ký đặt trước cuốn sách tại đây: https://goo.gl/forms/X4M2xhQHEtMYHmpF3

Share
Share: