Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệm

Đối mặt với bóng tối (10): Khi màng lọc thông tin tạo thành nhân cách giả

پس-زمینه-مرد-عنکبوتی

Đọc các phần trước của loạt bài Đối mặt với bóng tối tại ĐÂY


 

II. Khi màng lọc thông tin tạo thành nhân cách giả

Trong mục trước, chúng ta đã phân tích cơ chế hoạt động của các màng lọc thông tin. Chúng ta đã biết rằng trong thực tế, hầu hết các màng lọc thông tin trong tâm trí bạn không do bạn chủ động cài đặt, và không được bạn nhận thức rõ. Mặt khác, ngay cả những màng lọc thông tin tốt nhất cũng chỉ vận hành hiệu quả trong một số tình huống thông tin nhất định, trong những tình huống khác, nó có thể lừa bạn hoặc có thể bị treo.

Trong phần này, chúng ta sẽ thử tìm hiểu một tình huống thường gặp, trong đó màng lọc thông tin khiến bạn bị mắc lừa: màng lọc thông tin tạo thành nhân cách giả.

1. Tôi có phải là những phần mềm cài trong não tôi?

Nếu ai đó hỏi bạn rằng bạn là ai, bạn sẽ trả lời như thế nào? Hoặc, nghiêm trọng hơn, khi bạn buộc phải tự hỏi “Tôi là ai?”, đâu là cách trả lời mà bạn chọn?

Khi rơi vào những tình huống này, thường thì chúng ta sẽ trả lời theo cùng một công thức. Chẳng hạn, nếu được hỏi, một cách tự nhiên và thành khẩn, tôi sẽ trả lời như sau:

Board game hại não hàng đầu hiện nay

“Tôi là Nguyễn Vũ Hiệp, 25 tuổi, sống ở Hà Nội, Việt Nam. Là một cây bút và giáo viên tự do, witchhunter, thành viên Book Hunter, có kiến thức và kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực chính trị và lịch sử. Có sở thích, năng lực và kinh nghiệm trong việc điều tra và giải mã. Không tôn giáo, không ủng hộ một chủ thuyết cố định. Tin vào phương pháp khoa học. Có tiêu chuẩn thẩm mỹ cá nhân trong lĩnh vực văn chương, âm nhạc, kiến trúc, làm vườn, truyện tranh và điện ảnh. Gần như độc thân. Muốn một thế giới hợp vệ sinh hơn và an toàn hơn.”

Nếu người khác hỏi tôi là ai, tôi sẽ xem mấy dòng trên là một câu trả lời vừa đủ. Ngay cả khi tôi tự hỏi mình là ai, trong hầu hết các trường hợp của đời sống bình thường, câu trả lời mà tôi tự đưa ra cũng sẽ chỉ dừng ở đó. Trước mặt người khác, và trước chính bản thân, chúng ta thường định nghĩa mình bằng cái tên, độ tuổi, bằng những gì chúng ta đã học, những gì chúng ta đang làm, những tập thể chúng ta tham gia, những gì chúng ta biết và những gì chúng ta không biết, những gì chúng ta ủng hộ và những gì chúng ta chống lại, những gì chúng ta muốn và những gì chúng ta có trong tay, những gì chúng ta tin và những gì chúng ta sợ mất… Chúng ta liệt kê một danh sách những ngoại vật và ngoại nhân có liên quan đến mình, rồi tự định nghĩa mình bằng danh sách đó, như thể trong mắt ta, ta là một hình nhân được tạo thành bởi những mảnh ghép hỗn tạp và chắp vá kia. Sau đó, từng ngày từng giờ trong suốt cuộc đời, chúng ta tranh đấu chật vật để làm dày thêm danh sách các mảnh ghép tạo thành mình, như thể được ghép bởi càng nhiều mảnh vụn, thì chúng ta sẽ càng trở nên to lớn và vĩ đại. Tuy nhiên, càng cố làm hình hài mình to ra bằng cách chắp thêm nhiều mảnh vụn, chúng ta càng thấy khó thỏa mãn hơn, mệt mỏi hơn, và trống trải hơn. Mỗi lần chuyện này xảy ra, ta sẽ phải tự hỏi mình câu “Tôi là ai?” một lần nữa.

Vậy thì, “Tôi là ai”? Đừng cố trả lời câu hỏi này bằng những hành động để tự chứng tỏ mình hoặc để khẳng định sự tồn tại của bản thân, bởi nếu làm vậy, bạn sẽ chỉ làm dày thêm con hình nhân cũ. Đừng cố tìm câu trả lời bằng cách quan sát thái độ của người ngoài, đọc những bài viết của người ngoài, hoặc hỏi một người ngoài bất kì, vì nếu làm thế, bạn sẽ tự đánh đồng bản thân với cái mặt nạ mà họ vẽ cho bạn, rồi bị họ định hình và điều khiển.

Để định nghĩa một thứ, trước tiên, cần nghiên cứu mọi dữ liệu liên quan đến thứ đó. Ký ức của bạn là nguồn dữ liệu đầy đủ và quan trọng nhất về bạn. Vì vậy, bạn là người duy nhất có đầy đủ dữ liệu để trả lời bạn là ai.

Nhưng trước khi nghiên cứu số dữ liệu này, hãy thử phân tích câu trả lời cũ, để hiểu vì sao nó không ổn. Chẳng hạn, hãy nhìn vào câu trả lời cụ thể mà tôi đã đưa ra. “Nguyễn Vũ Hiệp” không thật sự là tôi, nó chỉ là 17 ký tự để biểu lộ 3 âm tiết. Nó được một người trong gia đình tạo ra, bằng cách sử dụng hệ thống chính tả quốc ngữ và hệ thống từ Hán-Việt. Họ tạo ra nó như một mã ngôn ngữ để ám chỉ tôi, rồi đăng ký sử dụng mã này trên hệ thống hành chính Việt Nam. “Nguyễn Vũ Hiệp” không phải là tôi, vì ngay cả khi những người trong gia đình không đăng ký sử dụng mã này, họ và chính quyền cũng không thể khẳng định rằng tôi chưa từng sinh ra, hay phủ nhận thực tế rằng tôi đang tồn tại. Mặt khác, trong hệ thống, có nhiều người khác cũng được mã hóa bằng ba âm “Nguyễn Vũ Hiệp”, nhưng họ không phải là tôi. Thêm nữa, nếu tôi lập một tài khoản trên hệ thống email hoặc mạng xã hội, rồi đăng ký sử dụng một mã ngôn ngữ khác để ám chỉ tôi, tôi vẫn là tôi, chứ không phải tôi đang sinh ra một con người mới.

 “25 tuổi” không phải là tôi, nó chỉ là một con số tương đối để mô tả thời gian tồn tại được công nhận của tôi. Nếu toàn bộ ký ức trong quãng đời này của tôi là một đoạn phim, chắc chắn nó không thể dài đến mức đó. Ít nhất một phần ba của bộ phim dài 25 năm kia sẽ không bao gồm chút kí ức nào, vì nó được dành cho việc ngủ. Chúng là những đoạn phim toàn màu đen, có xem cũng vô ích. Một phần đáng kể khác của bộ phim bao gồm những ký ức đã mờ nhạt. Tuy vậy, vì hình ảnh ở những quãng phim đó chỉ tạm thời chìm xuống tiềm thức, và có thể được một hoàn cảnh nào đó gợi lên, ta có thể xem đó là những đoạn phim mà mỗi lần xem lại có chất lượng một khác. Thêm nữa, vì chất lượng thông tin của mỗi đoạn phim là khác nhau, thời lượng của đoạn phim không thể là thước đo giá trị của nó. Vì nội dung của những bộ phim khác nhau là khác nhau, không thể đánh đồng “25 tuổi” của tôi với “25 tuổi” của một người khác. Như vậy, rõ ràng “25 tuổi” không phải là tôi. Nó chỉ là một con số tương đối để đo đạc tôi, dựa trên giả định rằng những người 25 tuổi đã trải qua những giai đoạn giống nhau, thu thập được một số kỷ niệm và kiến thức na ná nhau, và đang có một trạng thái tâm trí giống nhau. Những thông tin về nơi sống, như “Hà Nội” và “Việt Nam”, cũng chỉ có giá trị như thế.

“Cây bút và giáo viên tự do”, “witchhunter”, “kiến thức và kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực chính trị và lịch sử”, “kinh nghiệm và năng lực trong lĩnh vực điều tra và giải mã” cũng không phải là tôi. Chúng chỉ là một loạt những dữ liệu và phần mềm xử lí thông tin đang tồn tại trong não tôi, do tôi bị cài, tự cài, hoặc tự viết; kèm theo một chút thông tin về mục đích sử dụng mà tôi đang gán cho chúng. Chúng không phải là tôi, vì đa số chúng là những thông tin mà tôi thu thập được từ môi trường, chứ không tự nghĩ ra. Thêm vào đó, dù số dữ liệu và phần mềm này có hay không do tôi tự nghĩ ra, tôi cũng sẵn sàng sửa đổi hoặc thay thế chúng khi dữ liệu được chứng minh là sai, và phần mềm được chứng minh là không hiệu quả. Ngoài ra, nếu tôi cài toàn bộ số dữ liệu và phần mềm liên quan đến công việc chuyên môn này vào đầu một người khác, tôi không chắc họ sẽ sử dụng những thông tin đó theo cách hoàn toàn giống tôi. Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi, khi học viên được cài chỉ một phần nhỏ trong số phần mềm và dữ liệu này, một số sẽ không thể dùng, một số sẽ không dám dùng, còn số khác thì bị treo máy mỗi khi dùng, dù tất cả họ đều thừa nhận rằng số thông tin kia hoàn toàn hợp lí. Mặt khác, khi sử dụng phần mềm và dữ liệu mà tôi cung cấp để ra quyết định, một số học viên ưu tú có thể đi đến những kết luận và quyết định khác hẳn tôi, vì ký ức cá nhân của họ khác tôi, và trong não họ có nhiều phần mềm xử lí thông tin khác tôi. Cuối cùng, số dữ liệu và phần mềm đó không thể là tôi, vì mỗi lần xem lại toàn bộ dữ liệu chứa trong ký ức của mình, tôi có thể tự phán xét và cười nhạo bản thân mà không bị treo máy. Trong khi đó, khi một dữ liệu làm nảy sinh các phép tính lặp lại bất tận, hoặc một phần mềm chống virus tự xác định nó là một virus cần phải triệt tiêu, phần mềm sẽ hoặc làm máy treo, hoặc tự động dừng và chuyển sang hỏi một đối tượng khác.

“Không tôn giáo”, “không ủng hộ một chủ thuyết cố định”, “tin vào phương pháp khoa học”, “có tiêu chuẩn thẩm mỹ cá nhân trong lĩnh vực văn chương, âm nhạc, kiến trúc, làm vườn, truyện tranh và điện ảnh” cũng không phải là tôi. Các tôn giáo, chủ thuyết, phương pháp và hệ tiêu chuẩn đều chỉ là những bộ phần mềm xử lí thông tin, và ở đoạn trên, tôi đã đi đến kết luận rằng tôi không phải là những phần mềm mà tôi sử dụng.

“Gần như độc thân” cũng không phải là tôi. “Độc thân” chỉ là một khái niệm, ám chỉ tình trạng đang không ghép đôi. Khái niệm này chỉ tồn tại trong các phần mềm thiết lập trật tự hôn nhân – về cả phương diện lối sống, quan điểm luân lí lẫn hành chính. Và như kết luận ban nãy, tôi không phải là những phần mềm mà tôi sử dụng. Nếu tôi trước và sau khi kết hôn là hai người khác nhau, hẳn tôi sẽ phải cho rằng tôi đã chết khi kết hôn, còn vợ tôi sẽ phải cho rằng người cô yêu không phải là người cô cưới.

“Muốn một thế giới hợp vệ sinh hơn và an toàn hơn” chắc chắn không phải là tôi. Nếu đó là tôi, hẳn khi thế giới đã trở nên vệ sinh và an toàn hơn, tôi sẽ cảm thấy đánh mất ý nghĩa tồn tại, và phải tự hủy như robot trong phim Kẻ Hủy Diệt.

Những ví dụ trên cho thấy tôi không phải là những phần mềm xử lí thông tin mà tôi được cài đặt. Tôi cũng không phải là mã tên mà người ta áp cho tôi, hoặc khoảng trống mà người ta dành cho tôi trong các hệ thống – tức một dạng phần mềm xử lí thông tin tập thể.

2. Tôi có phải là cảm xúc mà tôi thường có?

Trước mặt người khác và trong thâm tâm, nhiều người còn tự giới thiệu mình bằng các tính từ, như “vui tính”, “mạnh mẽ”, “giàu yêu thương”, “hay ngượng”, “thân thiện”… Tuy nhiên, nếu phân tích sâu, bạn sẽ thấy bạn không nên đánh đồng mình với những tính từ như thế. Chỉ cần nhìn qua, bạn sẽ thấy tất cả những tính từ chỉ nhân cách nêu trên đều gắn liền với một số cảm xúc nhất định. Chẳng hạn, “vui tính” gắn liền với “buồn cười”, “giàu yêu thương” gắn liền với “yêu” hoặc “thương”, “hay ngượng” gắn liền với “ngượng”, “thân thiện” gắn liền với “thoải mái”. “Mạnh mẽ” thực ra gắn liền với khả năng tự áp chế một số cảm xúc tiêu cực, như “sợ”, “buồn” hoặc “mệt”. Chúng ta ngầm hiểu rằng người “vui tính” là người hay mang đến sự buồn cười, người “giàu yêu thương” là người hay yêu hoặc thương, người hay ngượng là người hay ngượng, người mạnh mẽ là người ít tỏ ra sợ, buồn hoặc mệt hơn người khác. Nhưng cơ chế cảm xúc của một người liệu có cố định như vậy?

Để trả lời, cần nhìn lại xem cảm xúc đến từ đâu. Trước tiên, xin nhắc lại một quan điểm mà tôi đã trình bày trong tiểu luận này: thông tin được lưu trữ, xử lí và truyền đi bằng năng lượng. Cảm xúc là một dạng năng lượng của con người, và là năng lượng sinh ra do quá trình vận chuyển thông tin trong tâm trí. Chẳng hạn, khi bạn bị đánh đòn, toàn bộ cơ thể bạn sẽ tràn ngập một số dạng năng lượng cảm xúc tương đồng với thông tin bạn có được về những gì đang xảy ra. Bạn tiếp nhận được thông tin về cơn đau, thông tin này được xử lí và lưu trữ trong kho bằng hai mã năng lượng tương ứng, là sợ hãi và giận dữ. Chính vì lí do này, mà bất cứ khi nào bạn nhìn thấy cái roi vung lên trước mặt, dù da bạn chưa tiếp nhận thông tin về đòn đánh, riêng sự truy cập thông tin về lần đánh đòn trong ký ức cũng đã khiến cảm xúc sợ hãi và giận dữ được bật lên. Khi bạn truy cập một thông tin lưu trong kho, bạn cũng truy cập những mã năng lượng được dùng để lưu trữ nó.

Đây không phải là một góc nhìn tâm linh, đây là một vấn đề kĩ thuật. Khi bạn hát một bài hát, thực ra bạn đang gửi gói thông tin của bài hát này cho người khác bằng những mã năng lượng dạng sóng âm. Cũng như mỗi mẩu thông tin được lưu trữ trong ký ức người bằng một mã năng lượng cảm xúc tương đồng với nó, mỗi nốt nhạc cũng được lưu trữ trong đĩa hát bằng một mã độ cao và âm lượng. Toàn bộ dữ liệu mà bạn lưu trong máy tính cũng được mã hóa thành hai con số 0 và 1, để lưu trong ổ cứng dưới dạng năng lượng điện âm hoặc dương. Không có năng lượng, không tồn tại sự lưu trữ và vận chuyển thông tin, nên coi như không có thông tin. Như vậy, cảm xúc của chúng ta thực ra chẳng bí ẩn gì: nó chỉ là năng lượng nảy sinh khi thông tin được xử lí trong đầu, đồng thời được dùng để lưu thông tin vào kho ký ức.

Cảm xúc được vận hành bằng cơ chế nào? Khi một mẩu thông tin hiện lên trong não bạn – do bạn tiếp nhận nó từ môi trường, suy ra nó khi đang nghĩ ngợi, hoặc trích xuất nó từ kho – não bạn sẽ tự động tìm kiếm các mẩu tin tương đồng đang được lưu trong kho ký ức. Vì thông tin được lưu trữ bằng năng lượng, việc kết nỗi một chuỗi những thông tin tương đồng trong kho ký ức sẽ làm một lượng lớn năng lượng của bạn được kích hoạt lên. Khối năng lượng đặc thù, đại diện cho một chuỗi thông tin tương đồng này chính là cảm xúc. Sau khi bộ não nhận ra sự tương đồng, mẩu tin mới kia cũng sẽ được lưu vào kho bằng cùng một mã năng lượng đó. Như vậy, cảm xúc chính là sợi dây năng lượng kết nối những mẩu ký ức với nhau.

Xem xét cơ chế này, chúng ta có thể hiểu cái gì làm nên một người vui tính. Người vui tính một cách chân thật và tự nhiên là người có kho ký ức khuyến khích anh ta trở nên như vậy. Khi một mẩu thông tin xuất hiện trong tâm trí anh ta, có khả năng lớn rằng nó sẽ được liên kết với những mẩu thông tin được đánh mã năng lượng “buồn cười” trong kho ký ức. Nhưng cần lưu ý rằng “buồn cười” chỉ là một mã cảm xúc bề mặt. Nếu hiểu rằng mọi tình huống gây cười đều được đặt nền tảng trên các nghịch lý, và nụ cười, ở mọi dạng, đều là một động tác để giải phóng khối năng lượng bị dồn nén, ta sẽ hiểu rằng ở bề sâu, kho ký ức của một người vui tính có thể chứa khá nhiều mẩu thông tin được gắn mã “bức bối”, do các mẩu tin mà nó lưu trữ tự mâu thuẫn với nhau. Mã cảm xúc “buồn cười” không tự nhiên mà có, nó là hệ quả của một phần mềm xử lí thông tin tự động dạng kinh nghiệm, để chuyển hóa số năng lượng “bức bối” này thành một dạng năng lượng khác dễ chịu và có lợi hơn. Qua trường hợp này, có thể thấy rằng từng nét tính cách đơn lẻ của một người có thể là hệ lụy của những cơ chế nội tâm phức tạp, phát sinh từ nội dung và bố cục thông tin trong toàn bộ ký ức.

Nhưng hãy tưởng tượng rằng kho ký ức của một người vui tính vào năm 20 tuổi được bổ sung thêm quá nhiều dữ kiện mới và khác, khiến anh ta không còn vui tính nữa vào năm 50 tuổi. Hãy tưởng tượng rằng người vui tính đó sẽ ngừng vui tính trong hôm nay, không phải vì kho dữ liệu hoặc hệ thống phần mềm tâm trí của anh có biển chuyển mới nào, mà vì hôm nay anh ta đói meo, đói đến mức không còn đủ năng lượng để kết nối các mẩu thông tin để tạo ra cảm xúc. Khi đó, anh ta có còn là anh ta không? Nếu bạn chọn “Có” cho câu trả lời, đừng định nghĩa bản thân bằng một tính từ gắn liền với cảm xúc.

Khi bạn làm điều đó, bạn sẽ tự áp cho mình một lăng kính cảm xúc cố định. Cảm xúc của bạn sẽ không còn nảy sinh từ sự khơi gợi ký ức, nó xuất phát từ một loạt màng lọc thông tin mà bạn tìm cách cài cho bản thân. Đó không còn là cảm xúc và nhân cách của bạn, đó là cảm xúc giả, đến từ một nhân cách ngụy tạo. Và thật không may, cảm xúc giả và nhân cách ngụy tạo chính là điều đang được người ta khuyến khích. Hãy thử nhìn xung quanh bạn. Các tôn giáo, lớp dạy kỹ năng sống và tổ chức từ thiện đang nói với bạn rằng bạn chỉ được công nhận nếu sở hữu một trái tim to vĩ đại, biết “yêu thương tất cả mọi người”. Các đảng chính trị – cả chính thống lẫn đối lập – đang nói với bạn rằng nếu bạn không phải là một anh hùng dân tộc, sẵn lòng “hy sinh tất cả” cho Tổ quốc, cho nhân dân, thì bạn không đáng sống. Các nhà sách, hội sách, “phong trào khai sáng” đang nói với bạn rằng để được coi là cao giá, bạn phải liên tục mua sách, cầm sách, chụp ảnh chung với sách, hoặc phát biểu gì đó để thể hiện rằng mình “yêu tri thức hơn mọi thú vui”… Tương tự, mọi đoàn thể và phong trào trong xã hội Việt Nam đều đang cao giọng hô hào toàn dân “yêu thương” một cái gì đó. Cứ như thể đây là đất nước của tình yêu, nơi mọi thứ đều đáng yêu, mọi việc đều qui về yêu, và tất cả mọi người đều có trái tim to bằng cái xe tải. Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta hiểu rằng đây là đất nước của các vở kịch, nơi mọi thứ đều là vở kịch, mọi việc đều là đóng kịch, và mọi người đều đang diễn xuất.

Hãy phân tích một trường hợp. Trước hết, não bạn có chứa ký ức về “tất cả mọi người” không? Không, rõ ràng. Như vậy, nếu bạn cho rằng bạn đang “yêu thương tất cả mọi người”, “tình yêu” của bạn chắc chắn không xuất phát từ ký ức của bạn về 7 tỷ con người cụ thể đó. Trong thực tế, “tình yêu” của bạn chỉ xuất phát từ ký ức của bạn về một cuốn sách, đoạn kinh, bài báo, bài giảng kỹ năng sống, hoặc post bán hàng hữu cơ trên mạng xã hội khuyên bạn nên như vậy. Cảm xúc của bạn đối với “mọi người” không đến từ phần năng lượng lưu trữ các kỷ niệm của bạn, và xâu chuỗi các mảnh ghép kỷ niệm thành một giai điệu tình cảm. Nó chỉ đến từ phần năng lượng được mã hóa bởi các ngôn từ trong cuốn sách, đoạn kinh, bài giảng, bài báo kia. Khi bạn tiếp nhận những văn hóa phẩm này, bạn lưu chúng trong tâm trí mình dưới dạng một màng lọc thông tin. Hằng ngày, bạn dùng năng lượng từ các ẩn ức của chính mình để nuôi lớn màng lọc đó. Chẳng hạn, năng lượng để sạc màng lọc có thể đến từ mong muốn được mọi người công nhận, nỗi sợ bị mọi người phán xét, nỗi sợ cái chết, mong muốn được may mắn, hoặc những tổn thương trong đời sống cá nhân… Tỏ ra “yêu thương tất cả mọi người” là một cách quen thuộc để được công nhận, hoặc để không bị phán xét mà nhiều gương mặt tôn giáo và chính trị tự cổ chí kim ưa thích. Nỗi sợ cái chết có thể thôi thúc bạn “yêu thương tất cả mọi người” liên tục, để đổi lấy niềm an ủi thường trực rằng chết không phải là hết, vì nếu bạn làm người tốt, thiên thần Gabriel sẽ thổi kèn đồng gọi bạn đến một cõi khác dễ chịu hơn. Mong muốn được may mắn có thể thôi thúc bạn diễn vở “yêu thương tất cả mọi người” để “tích đức” cho mình và gia đình. Những tổn thương trong đời sống cá nhân có thể thôi thúc bạn “yêu thương tất cả mọi người”, vì nếu làm thế, bạn sẽ có vé gia nhập cái “cộng đồng yêu thương” đeo mặt nạ cười và nói toàn những lời màu hồng – một môi trường có cái không khí đối nghịch với cái môi trường đã làm bạn đau đớn. Toàn bộ khối năng lượng ẩn ức đó sẽ được phần mềm “yêu thương tất cả mọi người” dùng làm năng lượng để ám thị chính bạn, trước khi nó dùng bạn để ám thị những người xung quanh. Thứ kích hoạt khối năng lượng ám thị này là các mã ngôn từ trong những bài viết, bài giảng kia, như “tình yêu”, “thương cảm”, “chia sẻ”, “an nhiên”, “vui sống”… Đó là lý do mọi sách vở, bài viết, bài giảng trong các phong trào “yêu thương” đều rất nhiều mỹ từ, nhưng rất ít kỷ niệm thật.

Theo cách tương tự, rất có thể mỗi lần bạn “yêu nước”, năng lượng chảy trong bạn là năng lượng ám thị từ những khẩu hiệu, diễn văn và bài giảng chính trị mà bạn từng nghe, chứ không phải từ kỷ niệm cá nhân mà bạn dành cho những người, quang cảnh và sản phẩm văn hóa Việt Nam cụ thể. Rất có thể mỗi lần bạn tỏ ra “yêu tri thức” bằng cách ôm quyển sách, năng lượng chảy trong bạn không đến từ khoảng trống dữ liệu cần được lấp đầy bằng thông tin trong sách, mà đến từ lời hô hào và quảng cáo của các phong trào “khai sáng”, “khai trí”, “khai minh”. Chúng không phải là cảm xúc thật đến từ ký ức và suy nghĩ, tức quá trình xử lí thông tin của bạn, chúng là sự ám thị và tự ám thị để che đậy và xoa dịu ẩn ức. Về mặt kĩ thuật, hai thứ này hoàn toàn khác nhau. Trong khi cảm xúc thật kết nối và tái sắp xếp các mảnh dữ liệu trong ký ức, từ đó giúp ích cho việc xử lý thông tin, để khơi thông các điểm ách tắc để tạo ra ẩn ức trên dòng chảy thông tin, thì trong việc ám thị lặp đi lặp lại, không hề có xử lí thông tin, cũng không hề có giải quyết ẩn ức. Trong thực tế, nó chỉ giúp phủ lên các điểm ách tắc thông tin – nơi hình thành ẩn ức – một lớp sơn màu hồng. Một mặt, nó làm người ta xao nhãng việc xử lý thông tin để giải quyết vấn đề thực tế và khơi thông những điểm tắc này, mặt khác, nó khuyến khích người ta tích lũy nhiều ẩn ức hơn để có thêm năng lượng ám thị. Chẳng hạn, khi đeo cái mặt nạ “giàu yêu thương” và gia nhập cộng đồng đeo mặt nạ này, người ta có thể nhất thời quên đi những tổn thương trong quá khứ. Tuy nhiên, thông tin về những tổn thương này vẫn còn trong não, vẫn tồn tại dưới dạng một nghịch lý làm tắc dòng chảy thông tin, và vấn đề thực tiễn liên quan đến nó vẫn chưa được giải quyết. Cái mặt nạ “giàu yêu thương” không giúp người bị tổn thương nhìn lại các dữ liệu cụ thể trong ký ức để rút kinh nghiệm, từ đó giải quyết dứt khoát những tổn thương cũ và tránh được những tổn thương mới, bằng cách điều chỉnh lại những mối quan hệ của mình, cùng thái độ của mình với từng loại người và với bản thân. Thay vào đó, nó chỉ áp thứ năng lượng ám thị gắn với các bài giảng về “yêu thương” lên mọi mảnh ký ức, mọi mối quan hệ cũ và mới, mọi thái độ với mọi người. Thực ra, việc này chẳng khác gì áp một lời nói dối lên mọi dữ liệu và mọi mối quan hệ. Nó có thể xoa dịu cảm giác đau đớn trong nhất thời, nhưng nguyên nhân thực tế của cơn đau không hề được nhận ra và giải quyết, nên cơn đau chắc chắn sẽ trở lại.

Chúng ta thường gọi những màng lọc thông tin thiết lập cảm xúc giả, và qui định nhân cách giả là “hình mẫu”. Trong đời thực, hình mẫu có thể đem lại nhiều rắc rối cho chúng ta. Chẳng hạn, một lượng lớn người Việt Nam mơ ước mình hoặc con em mình trở thành luật sư, bác sĩ, trong khi nếu tự phân tích dữ liệu trong ký ức, đương sự sẽ thấy mình phù hợp với một công việc khác hoàn toàn. Không ít người chọn sai bạn đời vì tôn sùng các hình mẫu mà quan niệm xã hội, truyền thống gia đình hoặc phim, truyện ngôn tình áp cho, trong khi nếu chỉ cảm nhận dựa trên ký ức thật của mình, người này sẽ có sự lựa chọn khác. Trong phần tiếp theo của tiểu luận, chúng ta sẽ dành thời gian phân tích cơ chế vận hành của các hình mẫu này.

(còn tiếp)

Share
Share: