Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệm

Đối mặt với bóng tối (11): Khác biệt giữa các nguyên bản và những kẻ bắt chước hình mẫu

maxresdefault

Đọc các phần trước của loạt bài Đối mặt với bóng tối tại ĐÂY


 

III. Khác biệt giữa các nguyên bản và những kẻ bắt chước hình mẫu

Trong phần trước của tiểu luận, chúng ta đã có một cái nhìn thoáng qua về bản chất của hình mẫu. Hình mẫu là những màng lọc thông tin thiết lập nhân cách giả, và quy định cảm xúc giả của con người. Hình mẫu hiện diện và kiểm soát một người bất cứ khi nào cảm xúc của người đó không hình thành từ sự kết nối các mảnh ký ức với thực tế đang diễn ra, mà được áp đặt bởi một phần mềm tâm trí. Trong phần này, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn, để biết cách phân biệt những thứ thật sự thuộc về con người cá nhân với những thứ được thiết lập bởi hình mẫu máy móc.

1. Khác biệt giữa hình mẫu và phong thái

Trong đời sống thực tế, các hình mẫu thường bị hiểu lầm là phong thái cá nhân. Để được công nhận là có cá tính, tức là có một phong thái cá nhân đặc biệt, nhiều người đã và đang đổ tiền của, thời gian và sức lực để rập khuôn bắt chước một hình mẫu của người khác. Cùng lúc đó, những người có phong thái cá nhân cũng thường bị hiểu lầm là kẻ bắt chước hình mẫu: nếu một học sinh quyết không tuân thủ những hình mẫu giáo dục và sự nghiệp được áp đặt bởi các bậc cha mẹ và thầy cô bảo thủ, thì dù nó có đưa ra được những lí do cá nhân hợp lí hay không, cha mẹ và thầy cô cũng sẽ cho rằng nó đang học đòi theo hình mẫu của những thanh thiếu niên hư hỏng. Có thể hiểu được vì sao người ta dễ lẫn lộn giữa hình mẫu và phong thái cá nhân. Vấn đề nằm ở chỗ mỗi chúng ta đều đánh đồng những hình mẫu mà mình theo đuổi với cá tính của mình, rồi lầm tưởng rằng nó là nhân cách thật của mình. Đồng thời, chúng ta cũng luôn có nhu cầu áp đặt những tiêu chuẩn mà mình theo đuổi, cùng những trật tự mà mình qui phục cho người khác. Bằng cách đó, chúng ta đưa người khác gia nhập các mạng lưới quyền lợi mà chúng ta tham gia và lệ thuộc – vốn được hình thành bởi những tiêu chuẩn và trật tự vừa nêu. Kết quả là chúng ta có khuynh hướng nhìn mọi hình mẫu mà mình bắt chước như là phong thái cá nhân của mình, và nhìn mọi phong thái cá nhân đối nghịch với hình mẫu kiểm soát ta như là sự bắt chước hình mẫu. Ngoài ra, trong trường hợp chúng ta đang chống lại một hệ thống nào đó và các hình mẫu mà nó thiết lập, chúng ta cũng có khuynh hướng coi bất cứ kẻ nào không bắt chước các hình mẫu này là kẻ độc lập, có cá tính, có phong thái và phẩm chất riêng. Trong khi đó, rất có thể họ chỉ là những người tham gia một hệ thống đối nghịch với hệ thống mà ta đang chống lại, và bị định hình từ trong ra ngoài bởi những hình mẫu thuộc hệ thống đối nghịch đó. Như vậy, tìm cách phân biệt hình mẫu của hệ thống với phong thái của cá nhân là điều cần thiết.

Trước hết, phải khẳng định rằng mọi phong thái cá nhân đều là kết quả của việc tổng kết toàn bộ ký ức cá nhân. Chẳng hạn, khi bạn ôn lại toàn bộ ký ức thật của mình, nếu những gì mà bạn đã trải qua giúp bạn nhận thấy rõ sự cần thiết của việc giữ vệ sinh thay vì bẩn thỉu, giữ kỉ luật thay vì tùy tiện, giữ khoảng cách thay vì xâm phạm không gian cá nhân của người khác – hoặc để người khác xâm phạm không gian cá nhân của bản thân, và kiên nhẫn để nhìn bao quát toàn bộ thông tin thay vì vội vàng phản ứng theo cảm tính nhất thời, bạn có thể trở thành một người lịch thiệp đích thực, ngay từ trong bản chất. Bởi trước mọi kích thích bên ngoài, các phản ứng lịch thiệp của bạn sẽ xuất phát từ những cảm xúc và suy nghĩ thật, sinh ra từ sự liên kết các mảnh kí ức thật của bạn với tình hình thực tế đang diễn ra. Nói cách khác, phong thái và nhân cách thật của cá nhân phải xuất phát từ những phần mềm tâm trí có dạng kinh nghiệm tự đúc rút, phối hợp với toàn bộ kho dữ liệu ký ức đã giúp bạn tự viết ra những phần mềm này. Trong khi đó, nếu sự lịch thiệp của bạn chỉ xuất phát từ bài giảng mà bạn được dạy ở trường, từ một cuốn sách mà bạn đọc, từ việc bắt chước một nhân vật có thật hoặc hư cấu mà bạn mê, hoặc từ bộ vest và cách đi đứng, ăn nói mà bạn cố tình chọn để được chấp nhận ở công sở hoặc vũ hội, thì bạn không lịch thiệp, bạn chỉ đang bắt chước những người lịch thiệp để tỏ ra như thế. Tất nhiên, các bài giảng, sách vở, gương sáng và thông lệ xã hội vừa kể cũng chiếm một phần quan trọng trong kho dữ liệu được gọi là ký ức của chúng ta. Tuy nhiên, vì những dữ liệu này được chúng ta nhập khẩu từ kho dữ liệu của người khác, chứ không đến từ sự ghi nhận thực tế đời sống của chính chúng ta, chẳng có gì sai nếu nói rằng chúng ta đang bắt chước. Mặt khác, cần lưu ý rằng bài giảng, sách vở, gương sáng và thông lệ xã hội không phải là những dữ liệu thô mà ta gọi là “fact”: chúng đều là những màng lọc thông tin mà người khác đã tạo ra một cách hoàn chỉnh, và là những lăng kính chắn trước mắt ta khi ta nhìn các “fact” đã và đang xảy ra trong đời mình. Vì vậy, chẳng có gì sai khi nói rằng chúng khiến ta bị định hình theo ngoại nhân, chứ không phải là cá tính hoặc nhân cách riêng mà ta tự có. Sau cùng, vì chúng không phải là kinh nghiệm xuất phát từ kí ức thật của chính bản thân bạn, chúng sẽ không liên kết nhiều lắm với các mảnh ký ức khác của bạn, trừ phi chúng lợi dụng một tổn thương tâm lí mà bạn đang mang. Vì vậy, mỗi lần tâm trí bạn truy cập các phần mềm này, chúng sẽ chẳng liên kết với mảnh ký ức nào khác trong kho dữ liệu của bạn, ngoại trừ chính bản thân chúng, cùng những mã lặp được tạo ra bởi tổn thương tâm lí mà chúng lợi dụng. Mà vì phong thái cá nhân của bạn liên quan một cách mật thiết đến cách giải quyết vấn đề mà chỉ bạn mới có, khiến bạn không bị nhầm với bất cứ ai, nó bắt buộc phải đến từ kinh nghiệm, chứ không thể chỉ xuất phát từ tổn thương tâm lí.

2. Khác biệt giữa các nguyên bản và những kẻ bắt chước hình mẫu

Từ những phân tích trên, ta có thể rút ra một số nhận định về sự khác biệt giữa kẻ bắt chước hình mẫu và kẻ có phong thái cá nhân.

Thứ nhất, dù hình mẫu hiện hành được bắt chước bởi ai, hay được áp đặt bởi hệ thống nào, thì nếu truy ngược dòng thời gian, ta cũng phải thấy nó bắt nguồn từ phong thái, năng lực và ký ức cá nhân của một ai đó. Ta gọi cá nhân này là “nguyên bản”. Cuộc đời của “nguyên bản” cung cấp những câu truyện mà kẻ bắt chước muốn lặp lại, nhân cách của “nguyên bản” cung cấp những vai mà kẻ bắt chước muốn diễn.

Thứ hai, vì hành xử của nguyên bản xuất phát từ kinh nghiệm, được đúc rút từ ký ức thật của bản thân, chỉ nguyên bản mới nắm trọn những kỹ năng mà anh ta sử dụng trong câu truyện đó. Vì nắm chắc kĩ năng, nguyên bản có thể tiếp tục phát triển kĩ năng và tùy biến nó cho phù hợp với từng hoàn cảnh áp dụng. Trong khi đó, vì kẻ bắt chước hình mẫu chỉ là diễn viên, hắn chỉ có khả năng lặp lại rập khuôn các động tác. Hắn không hiểu tường tận lí do đơn lẻ của từng công đoạn chi tiết trong kĩ năng, điều kiện hợp lí để áp dụng mỗi chi tiết đó, và không hiểu các công đoạn đó được phối hợp với nhau theo nguyên lí nào. Tất nhiên, hắn không thể tùy biến hoặc phát triển kĩ năng cho phù hợp với những thay đổi của hoàn cảnh thực tế. Như vậy, về mặt kỹ năng, chắc chắn nguyên bản vượt trội hơn kẻ bắt chước. Thêm vào đó, có thể thấy hầu hết những kẻ bắt chước dành khá nhiều thì giờ để nói hoặc viết về một kĩ năng, thay vì áp dụng kĩ năng đó trong đời thật việc thật. Trong khi đó, nguyên bản thường không có nhu cầu trình bày kĩ năng của mình, trừ phi đang đào tạo người khác.

Thứ ba, vì cảm xúc, suy nghĩ và hành động của các nguyên bản xuất phát từ sự liên kết các mảnh ký ức thật của họ với nhau và với tình hình thực tế đang diễn ra, đồng thời xuất phát từ kinh nghiệm hơn là từ tổn thương tâm lý, mỗi nguyên bản sẽ tỏ ra rất tự nhiên và thoải mái khi tự sắm vai chính mình. Trong khi đó, vì kẻ bắt chước chỉ áp đặt lối cảm nhận, suy nghĩ và hành động của nguyên bản cho bản thân mình, bất chấp sự khác biệt trong ký ức và hoàn cảnh thực tế của hai bên, vai diễn chắc chắn sẽ có lúc gượng gạo, thiếu tự nhiên, và diễn viên sẽ tích lũy dần nhiều ẩn ức. Như đã nói trong phần trước, ẩn ức sinh ra từ sự tích dồn những thông tin không được tâm trí xử lí một cách ổn thỏa. Ách tắc thông tin gắn liền với sự ách tắc của cảm xúc, tức những năng lượng dùng để lưu trữ và xử lí thông tin. Trong khi đó, việc bắt chước rập khuôn lối cảm nhận, suy nghĩ và hành xử của người khác buộc kẻ bắt chước phải chối bỏ rất nhiều cảm xúc và suy nghĩ thật của chính mình, đồng thời từ chối truy cập kho ký ức cá nhân của mình. Toàn bộ số thông tin đó không thể coi là được xử lý ổn thỏa, khi thực ra chúng bị từ chối xử lý. Ẩn ức sinh ra từ số thông tin bị tắc nghẽn này sẽ càng thêm trầm trọng trong trường hợp hình mẫu lợi dụng các tổn thương tâm lí để ám ảnh diễn viên. Vì bắt chước hình mẫu là tự giết các hoạt động tâm trí của mình, tức tự giết sự sống của mình, để trở thành bản sao chết của một đời sống không phải ta, tâm trí của kẻ bắt chước hình mẫu đương nhiên không ở trong tình trạng khỏe mạnh và thoải mái.

Thứ tư, trong khi nguyên bản thường có khuynh hướng trung thành với nhân cách của bản thân, kẻ bắt chước lại dễ dàng, và hay có nhu cầu bỏ hình mẫu này để chạy theo hình mẫu khác. Đây là điều dễ hiểu: trừ phi bị tẩy não, mất trí, hoặc trải qua một cú sốc lớn, mỗi chúng ta không dễ gì thay đổi cục diện ký ức của bản thân. Ký ức quyết định lối suy nghĩ và cảm nhận, tức nhân cách, nên nhân cách sẽ thay đổi rất chậm chạp vì lí do này. Nếu một nhân cách ghi dấu sâu lên thế gian tới mức được thế gian đưa thành một nguyên bản, thì bất kể sự bào mòn của thời gian, dấu ấn mà nhân cách đó để lại trên chính bản thân cũng sẽ khiến nó không bao giờ đổi khác. Trong khi đó, vì mỗi kẻ bắt chước hình mẫu là một kẻ vong thân, hắn luôn có nhu cầu tìm hình mẫu để lấp đầy sự thiếu hụt cá tính và trống rỗng cảm xúc trong tâm trí mình. Vì càng bắt chước hình mẫu, lượng ẩn ức tích dồn, cùng lượng cá tính và cảm xúc thiếu hụt sẽ ngày một dày lên, kẻ bắt chước sẽ chẳng bao giờ hài lòng với những vai tuồng mà mình đang diễn. Đó là lí do tâm lí khiến kẻ bắt chước dễ vứt bỏ những hình mẫu cũ để chuyển sang tôn thờ những hình mẫu mới, với một thái độ sùng kính y hệt lúc trước, mà không cảm thấy mình là kẻ phản bội hoặc đang tự mâu thuẫn với bản thân. Không hề có sự phản bội ở đây: kẻ bắt chước thực ra vẫn trung thành với thói quen trốn chạy trong nhân cách của hắn, và với kĩ năng giả vờ trong kho dữ liệu của hắn. Ngoài ra, việc thường xuyên vứt bỏ hình mẫu cũ để chuyển sang theo đuổi hình mẫu mới cũng phù hợp với lợi ích thực tiễn của kẻ bắt chước. Khi một người chối bỏ toàn bộ dữ liệu trong kho ký ức của mình để rập khuôn bắt chước theo một người khác, chắc chắn anh ta không thể phát triển những tiềm năng thật của bản thân. Kẻ bắt chước cũng không thể sử dụng một cách nhuần nhuyễn những kĩ năng của nguyên bản, anh ta chỉ biết nói về nó, diễn nó, để thể hiện rằng mình có nó. Như vậy, nếu chỉ tham gia một cộng đồng, anh ta sẽ không có cơ hội cạnh tranh với những nguyên bản, và thậm chí còn thua kém những người biết học kĩ năng một cách đàng hoàng, hoặc phát triển những tiềm năng có thật của chính bản thân. Kẻ bắt chước chỉ có một cơ hội thành công: liên tục sử dụng sự bắt chước – năng lực duy nhất của mình – để giả dạng nhiều nguyên bản, thâm nhập nhiều cộng đồng, mối quan hệ và trào lưu, rồi dùng vị trí trung gian của mình để trục lợi.

Thứ năm, chỉ nguyên bản mới có thể dễ dàng tự cười bản thân một cách vui vẻ, mà không xen vào đó sự chế nhạo trật tự xã hội, sự khó chịu với hệ thống mà mình trực thuộc, hay sự đổ lỗi cho người ngoài. Như đã nói trong phần trước, tiếng cười nảy sinh khi ta nhận thức được một sự mâu thuẫn, và tìm ra cách giải phóng năng lượng tích dồn từ sự mâu thuẫn đó. Khi một người tự cười bản thân mà không đổ lỗi cho bất cứ ai, hoặc cảm thấy khó chịu với bất cứ ai, anh ta nhận ra mâu thuẫn giữa dữ liệu A với dữ liệu B, hoặc quyết định A và quyết định B, cả hai đều nằm trong kho kí ức của mình, và do chính mình chịu trách nhiệm. Anh ta không về phe A để khó chịu với B hay ngược lại, vì anh ta ghi nhận rằng cả A và B đều có thật, đồng thời đều có lí do, và anh ta bao gồm cả hai thứ đó. Khi việc tự cười bản thân nảy sinh từ mâu thuẫn nội tại, nó không được dùng để công kích A hoặc B, mà giống như một tràng pháo hoa sinh ra từ sự va chạm giữa hai khía cạnh này của cùng một con người. Trong khi đó, kẻ bắt chước hình mẫu lại không có khả năng bật ra loại tiếng cười như thế. Hắn không có khả năng tự cười bản thân trước hết bởi hắn vong thân: nhân cách của hắn chỉ là đồ vay mượn. Vì hắn từ chối kí ức và cảm xúc thật của bản thân, mỗi lần mâu thuẫn nội tại nảy sinh, A và B sẽ không xuất phát từ chính bản thân hắn, mà xuất phát từ những gì hắn vay mượn nơi người khác. Vì vậy, khi truy tìm xuất phát điểm của A, để rồi nhận ra A đến từ người khác, hắn sẽ cảm thấy mình không phải tự chịu trách nhiệm về A. Hắn sẽ cho rằng việc nguyên mẫu, hệ thống, xã hội, hoặc một kẻ bắt chước khác.. tiêm nhiễm A vào đầu hắn chính là lí do làm nảy sinh mâu thuẫn và khiến hắn gặp vấn đề. Nên khi cười, hắn sẽ đứng về phe B để chống lại A, và tiếng cười của hắn là một sự chế nhạo dành cho người hoặc hệ thống bị hắn đổ lỗi.

Khi đổ lỗi cho nguyên bản về những mâu thuẫn nội tâm của bản thân, kẻ bắt chước hình mẫu sẽ không tự thấy mâu thuẫn với trò chơi bắt chước, hay với sự sùng bái hình mẫu của mình. Sự sùng bái mà hắn dành cho hình mẫu là một tình cảm có thật và tự nhiên, không phải do giả dối. Tuy nhiên, sự sùng bái này lại được hợp thành từ nhiều ẩn ức phức tạp. Thành tố khởi đầu của sự sùng bái là nỗi sợ nguyên bản, nảy sinh khi kẻ bắt chước chứng kiến quyền lực áp đảo, bao trùm mà nguyên bản tạo ra và sở hữu. Nhưng xen vào, và lẩn khuất sau nỗi sợ đó, là sự căm tức nguyên bản do phải đặt mình dưới quyền lực này, và ham muốn thay thế nguyên bản để trở thành kẻ sở hữu quyền lực này. Nói cách khác, từ trong thâm tâm, kẻ bắt chước hình mẫu luôn ghen tị với nguyên bản. Sự sùng bái hình mẫu chỉ là biểu hiện, nỗi sợ và sự ghen tị với nguyên bản mới là bản chất. Khi kẻ bắt chước không có tình cảm nào với nguyên bản ngoài sợ và ghen tị, thì tâm trí hắn chỉ có thể chọn một trong hai phương án khi mâu thuẫn nảy sinh. Phương án một: đè nén, che đậy và phủ  nhận sự tồn tại của mâu thuẫn, đẩy nó xuống thành ẩn ức, do bị chi phối bởi nỗi sợ quá lớn của mình. Phương án hai: đổ lỗi cho nguyên bản, đối tượng mà kẻ bắt chước đã ghen tị và căm tức ngầm, hoặc đổ lỗi cho hệ thống đang nắm giữ cái quyền lực gây ghen tị nó, để trao nó cho những kẻ bắt chước hình mẫu.

Sau cùng, xin bạn lưu ý một vấn đề nhỏ. Chúng ta không nên nhầm lẫn giữa việc bắt chước hình mẫu và việc học một kĩ năng. Khi ta học một kĩ năng từ nguyên bản, ta không làm gì khác, ngoài nhập khẩu mọi thông tin liên quan đến lí do, công dụng, phương thức và điều kiện áp dụng của kĩ năng này. Ta không cố bắt chước các biểu hiện của thầy, cũng không có nhu cầu lặp lại cốt truyện mà thầy đã sống. Khi áp dụng kĩ năng được học, ta không từ chối, mà thoải mái truy cập kho ký ức của bản thân và tình hình thực tế đang diễn ra. Đó là lí do một học viên giỏi hoàn toàn có khả năng phát triển hoặc tùy biến những kĩ năng mà nguyên bản cung cấp cho, trong khi một kẻ bắt chước hình mẫu thì không thể làm điều đó. Tóm lại, khi bạn học một kĩ năng, bạn chỉ đang cài đặt cho mình một phần mềm tâm trí thông thường, để giải quyết những vấn đề thực tiễn mà đời bạn đặt ra. Phần mềm này không áp lên bạn một nhân cách giả, nó vẫn chạy trên nền nhân cách thực của bạn. Không thể đánh đồng chuyện học tập để phục vụ đời mình với việc từ chối sống đời mình, để bắt chước theo câu truyện cuộc đời của người khác.

(còn tiếp)

Share
Share: