Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệmTôi đọc

Đối mặt với bóng tối (3): Bóng tối đồng nghĩa với cái ác?

maxresdefault

Đọc các phần trước: Phần 1 Phần 2


 

II. Những ngộ nhận về bóng tối

 

Để trả lời chính xác câu hỏi “Bóng tối là gì?”, không thể không vượt qua một số ngộ nhận quen thuộc về bóng tối.

Những ngộ nhận này đã tỏa bóng lâu năm trong nhiều nền văn hóa. Có nhiều lí do khiến chúng nảy sinh. Một số ngộ nhận đã ra đời như một thứ bóng tối có chủ định, vì những mục đích quản trị thực tiễn, trong một số giai đoạn lịch sử nhất định của lực lượng cầm quyền. Trong khi đó, những ngộ nhận khác lại thuần túy xuất phát từ những hiểu lầm của đám đông, khi một hệ tư tưởng nguyên bản (như hệ thống tu Phật) được lan truyền rộng rãi đến số đông trong tình trạng bị lợi dụng, hoặc pha trộn, tạp nhiễm… Chí ít, chúng ta biết rằng những ngộ nhận này đều là những định kiến có sẵn từ cả ngàn năm, mà người ta phải chấp nhận một cách không thắc mắc và vô điều kiện, dù không hiểu. Ta cũng biết rằng những ngộ nhận này làm con người lệ thuộc vào những hệ thống truyền bá và lợi dụng chúng để thâu tóm quyền lực cho bản thân. Ta cũng biết rằng những ngộ nhận này khiến con người sợ hãi bóng tối, và muốn trốn chạy khỏi thứ bóng tối mà số đông trong xã hội cho là cấm kị, thay vì bình tĩnh đối mặt để hiểu nó rõ hơn. Như vậy, nơi những ngộ nhận này, ta tìm thấy những ba trong tổng số bốn dấu hiệu cho thấy sự hiện diện của bóng tối. Nếu ta quan sát bóng tối qua lắng kính của những ngộ nhận tối tăm, thì với ta, bóng tối sẽ luôn còn chìm trong màn bí ẩn. Để hiểu bóng tối, phải thắp chút lửa để nhìn rõ có gì đằng sau màn đêm, và trước tiên, là có những cặp kính râm nào mà ta đang đeo trên sống mũi.

 

1. Ngộ nhận 1: Bóng tối đồng nghĩa với cái ác

Dường như trong mọi xã hội tự cổ chí kim, ngộ nhận này vẫn được xem là một quan điểm chính thống. Cũng không lạ, nếu ta chấp nhận nó một cách bản năng. Trong thực tế, trước khi trẻ em tiếp thu các chuẩn mực xã hội thông qua giáo dục, trong mắt chúng, cái ác đồng nghĩa với bất cứ cái gì khiến chúng sợ, hoặc làm chúng tổn thương. Ta khó có thể thấy một đứa bé ca ngợi gương đạo đức của mẹ khi bà này phạt nó bằng roi: trong tình huống này, thường thì lũ trẻ sẽ gào lên “Mẹ ác thế!”. Động lực nguyên sơ của ý niệm thiện-ác này còn in dấu lên ngôn ngữ thông dụng. Trong tiếng Anh hiện đại ngày nay, “bad” chỉ được dịch là xấu, ác. Nhưng trong tiếng Na Uy, nó còn mang nghĩa “rắc rối”, “lo sợ”. Trong ngôn ngữ cổ vùng Đông Đan Mạch, từ này còn mang nghĩa “phá hủy”, “làm hỏng”, “tấn công”. Ở Đông Á, cả từ Ác (Hán) lẫn Xấu (Việt) đều ám chỉ cả sự độc ác lẫn sự xấu xí – tức một dạng hiện tượng thị giác gây ra nỗi sợ nơi con người. Xem ra ý niệm cơ bản của con người về cái ác luôn gắn liền với nỗi sợ, một trong bốn dấu hiệu cơ bản của bóng tối. Do đó, việc bản năng của chúng ta đánh đồng cái ác với bóng tối – nguồn nỗi sợ quan trọng và to lớn nhất trong thời thơ ấu của cả con người cá nhân lẫn tập thể nhân loại – cũng dễ lí giải và dễ cảm thông.

Tuy nhiên, “cái ác và bóng tối đều gây ra nỗi sợ cho chúng ta” không có nghĩa là “cái ác = bóng tối”. Về mặt thực tiễn, bóng mát trong sa mạc là một điều thiện vĩ đại mà người ta có thể nhường cho nhau. Tương tự, nếu các nhà đạo đức đồng ý rằng ở lõa lồ trước mặt trẻ em là một hành vi độc ác, thì dường như cái ác này đang được ngăn chặn trên toàn xã hội bởi bóng tối của áo quần. Và nếu chúng ta nhớ rằng bài giảng trên núi được viết thuần túy bằng ngôn ngữ ẩn dụ – một thứ bóng tối thông tin ở mức hoàng hôn – vì giáo hội không cho phép Jesus gây tội ác nào trong đời, họ sẽ buộc phải thừa nhận rằng bóng tối thông tin mà ông này tung ra không đồng nghĩa với cái ác.

Chúng ta đang tìm cho bóng tối một định nghĩa đơn giản và cố định. Trong khi đó, không thể ép mọi người quan niệm về cái ác theo cùng một cách với nhau. Khi hai đứa trẻ đánh nhau để giành kẹo, đứa này sẽ thành kẻ ác trong mắt đứa kia, trong khi người lớn không thấy chúng ác mà chỉ thấy chúng buồn cười. Vì các ưu tiên lợi ích của mỗi người trong xã hội rất khác nhau, quan niệm về cái ác của họ đương nhiên cũng rất khác. Chẳng hạn, trong khi các tập đoàn xuất bản ở Mỹ coi việc chia sẻ miễn phí sách, nhạc, phim trên Internet là một hành vi ác độc, và soạn cả một giáo trình cấp mầm non và tiểu học để khẳng định quan điểm trên, thì trong mặt một đứa trẻ Việt Nam, chính những bộ luật ngăn cấm điều này mới là độc ác. Đó là lí do các hệ thống của kẻ cầm quyền – tôn giáo, luật pháp, thể chế chính trị và thỏa ước quốc tế – phải tạo ra những hệ chuẩn mực chung về thiện-ác cho số đông những kẻ bị trị. Nhưng như vậy, mỗi khi bạn định đặt vấn đề thiện-ác lên đầu môi, hãy nhớ rằng ý niệm của bạn về cái ác hoặc xuất phát từ những mong muốn và nỗi sợ hãi vị kỉ của bản thân, hoặc xuất phát từ mệnh lệnh của kẻ cầm quyền – thứ bạn không hiểu, nhưng làm bạn sợ hãi. Nói cách khác, đằng nào thì ngay trong ý niệm của bạn về cái ác cũng tồn tại bóng tối thông tin gắn liền với nỗi sợ.

Tất nhiên, khi đọc đến đoạn này, nhiều nhà chính trị còn non sẽ giãy đành đạch, và cãi rằng ý niệm về cái ác của họ bao gồm cả những hành vi không gây tổn hại cho quyền lợi vị kỉ của họ, nhưng gây tổn hại cho quyền lợi tha nhân. Bằng những luận điệu kiểu này, khi xuất hiện trước đám đông, họ dễ dàng trở thành người đại diện sốt sắng của nhân quyền, bình đẳng, và loại công lí được quyết định dựa trên đầu phiếu. Tiếc thay, về lí mà nói, thì họ chỉ đang tự gạt mình và gạt thiên hạ. Cần nhớ rằng mọi mong muốn của chúng ta, kể cả mong muốn giữ gìn lợi ích của kẻ khác, đều chi phối cảm xúc của chúng ta. Nếu mong muốn đó không được thực hiện, ta dễ trở nên khó chịu, bức bối trong lòng. Ngày hôm đó trở thành một ngày vứt đi, và một phần đời ta trở nên uổng phí. Nhưng nếu mong muốn đó thành hiện thực, dù chỉ trong vài khoảnh khắc, ta sẽ thấy mình sướng như tiên. Tránh bị khó chịu và tìm đến niềm vui, phải chăng chừng đó động cơ cá nhân chưa làm mọi mong muốn của ta bị xem là vị kỉ?

Ta đã chỉ ra bóng tối trong ý niệm về cái ác của các cá nhân. Giờ hãy chuyển sang quan điểm thiện-ác mà các hệ thống cầm quyền áp đặt cho đa số.

Trước tiên, ta cần lưu ý một điểm quan trọng. Đó là mọi hệ thống từng đưa ra qui định về cái ác đều vừa tự đồng nhất mình với cái thiện, vừa tự cho mình cái thẩm quyền phán xử thiện-ác trên khắp cõi nhân gian. Nói cách khác, trong trận đấu tranh giành ngôi thiện, hệ thống là là một thực thể vừa viết luật bóng đá, vừa đá bóng, vừa thổi còi. Trong trận đấu này, toàn dân đều là người chơi, nhưng toàn dân cũng được đề nghị trở thành cổ động viên của hệ thống. Trong khi đó, chính hệ thống, chứ chẳng phải bất cứ ai, là người thu cả tiền vé, tiền sân, cúp vàng, lẫn tiền cá độ. Đây là cách mà công lí được qui định và thực thi. Vì số đông không nhìn ra vấn đề này, và bị lệ thuộc hoàn toàn vào hệ thống trong trò chơi thiện-ác, dựa trên bốn dấu hiệu của bóng tối, ta thấy bóng tối đang chi phối cuộc đấu giữa họ một cách rất rõ ràng.

Sau đó, nếu nhìn con số thống kê về lí do tử nạn ở mọi quốc gia, ta sẽ phải thừa nhận rằng trong đời thực phũ phàng, hệ thống cầm quyền là tổ chức tội ác lớn nhất. Ở mọi quốc gia, số người chết vì chiến tranh, án tử hình, hoặc lí do công vụ đều nhiều hơn tổng số nạn nhân của các băng nhóm tội phạm. Quả vậy, vì hệ thống nhà thờ nắm chìa khóa các bất động sản dưới địa ngục và trên thiên đàng, còn hệ thống nhà nước nắm giữ quân đội, vũ khí, quyền in tiền, quyền ngoại giao và luật pháp, chúng trở thành nguồn nỗi sợ lớn nhất và liên tục nhất trong mắt mỗi người dân. Nếu xuất hiện một băng nhóm tội phạm tạo ra nhiều nỗi sợ hơn nhà thờ hoặc nhà nước, thì băng nhóm đó đã lật đổ hệ thống xong xuôi, và trở thành nhà thờ, nhà nước mới trong mắt người dân rồi. Vì nỗi sợ là một trong bốn dấu hiệu về sự hiện diện của bóng tối trong dòng chảy thông tin, rõ ràng hệ thống cầm quyền là một trong những nguồn bóng tối lớn nhất.

Nhưng không chỉ có vậy. Cần nhớ rằng về cơ bản, mọi hệ giá trị chung của đa số đều vận hành bằng niềm tin. Trong sự vận hành đó, người dân chấp nhận những chuẩn mực mà họ bị áp đặt từ gia đình, nhà trường và chính quyền – những lực lượng có khả năng gây ra nỗi sợ bằng thưởng phạt và bạo lực – mà không cần thắc mắc, không cần suy nghĩ, không cần đặt câu hỏi và tự mở mang kiến thức để tìm câu trả lời. Hiện tượng này không là gì hơn, ngoài dấu hiệu đầu tiên của bóng tối.

Tất nhiên, các hệ thống cầm quyền tồn tại vì những lí do chính đáng mà chúng ta không thể bác bỏ. Lí do quan trọng đầu tiên, và quen thuộc nhất, là để bảo vệ người dân. Trong Watchmen, để khẳng định rằng việc hệ thống gây ra nỗi sợ bằng bạo lực là chính đáng, các siêu anh hùng kết luận “Chúng ta bảo vệ mọi người khỏi chính bản thân họ”. Một siêu anh hùng quen thuộc khác trong V for Vendetta thì lại dùng chiếc mặt nạ – thứ mang dáng dấp của một hệ thống niềm tin – để giúp người dân có can đảm “tự” đưa ra quyết định đúng đắn. Bảo vệ mọi người, và cho mọi người những bộ công cụ giúp họ ra quyết định tập thể tốt hơn, đó là hai vai trò của hệ thống cầm quyền mà không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không sự bảo vệ nào không khiến kẻ được bảo vệ thêm sợ sệt, lệ thuộc, yếu ớt; và mỗi lần được “giúp ra quyết định”, người dân lại vừa lệ thuộc thêm vào hệ thống, vừa mất đi một cơ hội để tự nghĩ bằng não của bản thân. Nói cách khác, ngay cả khi hệ thống được gầy dựng như một công cụ tuyệt hảo để đẩy lùi bóng tối trong xã hội, nó cũng cần dùng đến bóng tối, và phải làm nảy sinh bóng tối để vận hành. Một hệ thống tốt chẳng là gì, ngoài một thứ bóng tối mỏng hơn, trật tự hơn, và đẹp hơn, để ta nhốt cộng đồng vào, nhằm giúp họ tránh xa những thứ bóng tối đậm đặc, hỗn loạn và xấu xí. Mỏng hơn để chừa khoảng trống cho le lói sự thật. Trật tự hơn, để sẵn sàng được soi sáng bởi những bộ não thông minh. Đẹp hơn, phần để ngăn chặn sự xấu xí – thứ sản sinh bóng tối thông qua nỗi sợ, phần vì cái đẹp tự nó bao gồm, và vì thế là sự đảm bảo đầy cảm hứng, cho tính trật tự  và sự đa dạng sắc màu.

Nếu ta hiểu rằng về bản chất, mọi hệ thống đều là một tập hợp các vật cản thông tin, được sắp xếp thông minh (hoặc không) để hướng thông tin chảy theo một lộ trình, thì ta sẽ dễ đồng ý với quan điểm mới lạ ở đây, rằng hệ thống là bóng tối để đưa đường ta đến ánh sáng. Ánh sáng không thuộc về những người cầm đầu trong một hệ thống, mà thuộc về những người hiểu rõ nhiều hệ thống, và tương tác với chúng một cách hiệu quả.

Và vì trong mọi hệ giá trị, hệ thống cầm quyền vừa là kẻ thiện nhất, vừa là kẻ ác nhất dựa trên chính những tiêu chuẩn mà nó đề ra, có lẽ ta sẽ phải kết luận rằng bất cứ khi nào sự phân biệt thiện-ác được tập thể đặt ra, khi đó sẽ nảy sinh rất nhiều bóng tối. Như vậy, thì dù sự phân định này có giá trị thực tiễn hay không, nó cũng không phải là một lăng kính phù hợp để chúng ta quan sát bóng tối và tìm lời giải.

*

Tiểu luận này được phát triển từ giáo trình
một khóa học cũ của Book Hunter.

Mời các bạn tìm các khóa học sắp tới tại ĐÂY.

Share
Share: