Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệm

Đối mặt với bóng tối (5): Phải vượt qua bóng tối bằng cách “trở về với ánh sáng”?

NczgWEf

Đọc các phần trước của loạt bài Đối mặt với bóng tối tại ĐÂY


 

Ngộ nhận 4: Phải vượt qua bóng tối bằng cách “trở về với ánh sáng”

Đây là một ngộ nhận phổ biến trong rất nhiều sinh hoạt tôn giáo, tâm linh hiện nay. Thiên Chúa giáo đánh đồng Thượng đế với một nguồn ánh sáng vĩnh hằng, vô thủy vô chung, mà con người đã rời xa vì phạm các tội lỗi. Nhiều nhánh Phật giáo hiện tại coi thế giới là một “bể khổ”, trong khi các “cõi trời” và “niết bàn” – nơi các dao động của tâm dần được giảm thiểu rồi dập tắt – là một chốn mà con người phải tìm về để đạt đến bình an. Nhiều nhánh Đạo giáo cho rằng để đạt đến đời sống bất tử, phải xa rời các dục vọng trần thế, để thuận theo, nhằm trở về với một nguồn sáng chi phối tất cả, mà họ mô tả là “lẽ tự nhiên”. Nhiều giáo phái tích hợp mới ra đời trong phong trào New Age (Thời Đại Mới) quan niệm rằng tồn tại một “cái toàn thể” bao hàm vạn vật trong vũ trụ, và để đạt đến “sự tiến hóa tinh thần” cao hơn, nhằm hướng đến một cuộc sống không có đau khổ, chỉ có sung sướng đời đời, người ta phải xóa bỏ mọi cá tính và tính riêng tư của mình để “hòa vào làm một” với “cái toàn thể” đó.

Tất nhiên, những “chân lí” quen thuộc này chỉ là điều mà người đời nay tuyên bố. Vì các cuộc kết tập kinh điển của hầu hết các tôn giáo đều diễn ra hàng trăm năm sau ngày mất của người sáng lập, trừ ngoại lệ của Mohammed ra, giờ chúng ta không biết những vị như Jesus, Thích Ca hay Lí Đam có hay không theo Kito giáo, Phật giáo hay Đạo giáo. Còn “niết bàn”, “cái toàn thể” và “lẽ tự nhiên” thì hình như chưa tự phát ngôn hay thể hiện quan điểm bao giờ: chúng ta chỉ biết đến những thứ đó qua truyền miệng, nghĩa là qua đồn đại. Người ta càng nói nhiều về việc “trở về với ánh sáng” bao nhiêu, thì vấn đề này càng chìm sâu vào trong bóng tối bấy nhiêu.

Nhìn chung, những người chủ trương phải “trở về với ánh sáng” đều đang dựa trên ba giả định.

Giả định 1: Nhân loại đang đứng trong sự xấu xa. Nó ngập trong “tội lỗi”, “bể khổ”, “vô minh”… – tất cả những gì thường được người ta đánh đồng với bóng tối.

Giả định 2: Tồn tại một nguồn sáng tuyệt đối tốt đẹp và vĩnh hằng, mà mỗi người trong chúng ta phải “trở về”, để “hòa vào làm một”, nhằm thoát ra khỏi bóng tối bao trùm mình hiện nay.

Giả định 3: Khi “hòa vào” nguồn sáng đó, chúng ta sẽ được hưởng sự tốt đẹp tuyệt đối, sung sướng tuyệt đối, và sự bất tử mà nó mang.

Giả định 4: Để “hòa vào” nguồn sáng này, người ta phải từ bỏ mọi sự riêng tư và cá tính. Nói cách khác, cá tính là tội lỗi, và mọi ý niệm riêng tư đều độc hại.

Mỗi giả định là một điều chúng ta chấp nhận mà không cần chứng minh. Vì vậy, đương nhiên trong giả định bao hàm bóng tối. Chúng ta càng vững tin vào các giả định bao nhiêu, thì chúng ta càng chìm sâu vào bóng tối bấy nhiêu. Càng cố thủ trong đức tin về việc “trở về với ánh sáng”, người ta càng nuôi dưỡng trong mình nhiều bóng tối.

Giờ hãy phân tích trạng thái tâm trí của chúng ta khi ta đặt ra từng giả định kể trên. Giả định 1 cho thấy những người mang nó đang sợ hãi môi trường, sợ hãi những con người xung quanh, và sợ hãi cả cái gì đó ngay trong chính bản thân mình mà anh ta không hiểu và không thể kiểm soát. Như chúng ta đã biết, nỗi sợ và sự thiếu hiểu biết là hai biểu hiện tối quan trọng của bóng tối. Như vậy, rõ ràng chỉ những người đang chìm ngập trong bóng tối mới đặt ra giả định đầu tiên. Theo bạn, một giả định phát sinh từ bóng tối sẽ giúp ích hay cản trở bạn trên chặng đường tìm đến ánh sáng của mình? Có nên ra quyết định trong thời điểm mình đang sợ hãi, thiếu hiểu biết và rối trí? Khi một tín đồ đặt niềm tin vào người truyền đạo vì giả định 1, có phải một người sợ hãi và rối trí đang cố gửi gắm niềm tin của mình nơi một người còn sợ hãi và rối trí hơn anh ta?

Nếu giả định 1 sai thì không sao. Nhưng nếu nó được chứng minh là đúng, thì hiển nhiên ta sẽ phải khẳng định rằng những tôn giáo đặt nền tảng trên nó đều sai bét. Logic rất giản đơn: nếu nhân loại đang chìm trong bóng tối, mà đa phần nhân loại lại đang tràn đầy đức tin, thì đương nhiên tuyệt đại đa số những đức tin này phải là tà đạo.

Càng có nhiều biển “Cấm Đổ Rác” được treo lên, thì khu phố xem ra càng hôi thối.

Trong phần trên của tiểu luận này, ta đã chứng minh rằng vĩnh viễn không tồn tại một thế giới không có bóng tối. Một thế giới toàn ánh sáng cũng chẳng khác gì một thế giới chìm trong bóng tối, vì trong đó ta có nhìn thấy gì đâu! Như vậy, vế đầu tiên của giả định 2, tức lời khẳng định về sự tồn tại của một nguồn sáng tuyệt đối, đã được chứng minh là sai rồi. Nhưng cần lưu ý rằng dụng ý “trở về”, “thuận theo”, để “hòa vào làm một” với cái thực thể chỉ có trong giả định này cho thấy rằng những người tin vào giả định 2 mang nặng tinh thần lệ thuộc – một biểu hiện quan trọng khác của bóng tối.

Nói theo ngôn ngữ đời thường, thì những người đặt niềm tin vào giả định 3 là những người tham lam vô độ. Họ tham sự sung sướng không giới hạn, nghĩa là sự thỏa mãn dục vọng ở mức độ tuyệt đối; sự bất tử; và việc được công nhận là tốt đẹp bởi thế gian. Tất nhiên, trong giới hạn của tiểu luận, chúng ta không phê phán lòng tham này. Chỉ xin lưu ý rằng lòng tham của những người tin vào giả định 3 gắn liền với nỗi sợ sự thay đổi, biến chuyển của thế giới theo lẽ vô thường, nỗi sợ bị phê bình bởi nhân gian, nỗi sợ bị phán xét bởi lương tâm của chính bản thân, và nỗi sợ chết. Đương nhiên, nó cũng khiến người ta duy trì sự thiếu hiểu biết của mình, khi khuyến khích họ hướng mọi sự chú ý vào giải pháp “trở về với ánh sáng vô hạn và vĩnh hằng” – một nguồn sáng giả định mà họ không cần tìm hiểu, chỉ cần tin – trong khi việc đáng lẽ phải làm là tìm hiểu bản thân và tìm hiểu môi trường, rồi động não để tìm ra giải pháp thực tiễn cho các vấn đề thực tiễn đang làm mình khổ sở và sợ hãi.

Về giả định 4, có hai điểm cần lưu ý. Thứ nhất, cần nhớ rằng trong suốt chặng đường của mình, chúng ta vốn không thể chủ động trên thứ gì hết, ngoài tâm trí của chính chúng ta. Mọi vật chất và tiện nghi mà ta tưởng rằng mình sở hữu đều đến từ môi trường, bị chi phối bởi môi trường, và rồi sẽ biến đổi theo phản ứng với môi trường. Ngay cả cơ thể vật lí và cảm xúc của chúng ta cũng lệ thuộc vào môi trường theo cách đó. Rốt cuộc, tâm trí cá nhân là thứ duy nhất mà chúng ta có thể ít nhiều chủ động, và thông qua đó để tác động đến những thứ còn lại. Từ bỏ tâm trí cá nhân – những kỉ niệm, cá tính, suy nghĩ riêng của mình – để “hòa vào làm một” với một thực thể sáng láng chỉ tồn tại trong giả định của chúng ta, là từ bỏ toàn bộ khả năng chủ động trên số phận của bản thân, nghĩa là chấp nhận sự lệ thuộc ở mức độ tuyệt đối, và thiếu hiểu biết ở mức độ tuyệt đối. Đây là một cuộc tự sát tinh thần, khi người ta quyết định chìm luôn vào bóng tối của sự sợ hãi, lệ thuộc và ngu dốt chỉ để tự lừa dối bản thân rằng bóng tối đó không tồn tại.

Lưu ý thứ hai là giả định 4 bắt nguồn từ một sự xuyên tạc. Thực ra trong những kinh điển có nhiều khả năng là liên quan đến lời nói thực của những người sáng lập tôn giáo cổ – tức là những kinh điển nguồn gốc tương đối rõ ràng, khoảng cách thời gian giữa việc nói và việc ghi tương đối chấp nhận được, và quan trọng nhất là câu trước không tự mâu thuẫn với câu sau – chẳng có dòng kinh nào khẳng định rằng con người phải loại bỏ tâm trí cá nhân để được khai sáng. Đúng là có lời dạy về việc từ bỏ tội lỗi và tránh bị kiểm soát bởi dục vọng, nhưng cái gì quyết định từ bỏ tội lỗi và cái gì giành quyền kiểm soát từ tay dục vọng, ngoại trừ tâm trí cá nhân? Nếu thật sự thực hành lời dạy này, người ta sẽ phải tự nâng cao sức mạnh tâm trí của bản thân thay vì trừ bỏ nó. Ngay cả lời dạy về việc “phá chấp” cũng vậy. Nếu thực hành nghiêm túc, người ta sẽ thấy “phá chấp” là một công đoạn rèn luyện tâm trí, trong đó người ta từ bỏ niềm tin vào những điều mà mình tưởng mình biết, nhưng thực ra không biết, để cái nhìn về các dữ kiện không bị bóp méo bởi lăng kính kinh nghiệm; chứ không phải từ bỏ toàn bộ sự phân biệt của tâm trí cá nhân. Làm sao có thể từ bỏ toàn bộ sự phân biệt của tâm trí cá nhân, trong khi ngay cả việc chối bỏ sự “phân biệt”, để gượng ép thuận theo sự “không phân biệt”, tự nó cũng đã là một sự phân biệt? Khi bước vào công đoạn “phá chấp”, người ta phải phán xét ngay cả những lăng kính mà mình thường dùng để phán xét thế giới và bản thân, đồng thời tự xử lí lại toàn bộ dữ kiện đã có, từng cái một, bằng logic bình thường, thay vì giao việc đó cho những “phần mềm tâm trí” tự động đến từ trường học, từ kinh nghiệm, hoặc từ niềm tin không cần kiểm chứng. Như vậy, “phá chấp” đòi hỏi tâm trí hoạt động ở mức độ cao hơn, trong một cuộc xét lại nhằm tìm cách tự nâng cao hiệu quả của mình, chứ không phải là sự triệt bỏ hoạt động của tâm trí cá nhân. Khi xuyên tạc lời dạy về “từ bỏ tội lỗi” và “phá chấp”, những người tin vào giả định 4 đã đảo ngược nó hoàn toàn. Thầy giảng cách nâng cao trí khôn, thì trò dạy nhau phải qui phục sự ngu dốt.

Lấy ý từ một dụ ngôn của Jesus, những “bậc thầy tâm linh” rao giảng giả định 4 cho rằng để “hòa vào làm một” với ánh sáng thiên đường, người ta phải “trở nên đơn giản và hồn nhiên như con trẻ”. Nghe hay đấy, nhưng vấn đề là sự đơn giản và hồn nhiên đó đến từ đâu. Đó là sự đơn giản của những kẻ bị tẩy não và sống thực vật, hay là sự đơn giản của những bộ não đủ mạnh mẽ và hiểu biết để suy nghĩ rõ ràng? Đó là sự hồn nhiên của một đầu óc chưa dậy thì, chưa bị hiểu biết và kinh nghiệm làm cho mất trinh, hay là sự hồn nhiên của một đầu óc trưởng thành, kẻ biết xếp từng kinh nghiệm vào đúng chỗ phù hợp trong não của mình, sao cho không bị kinh nghiệm che khuất tầm mắt?

Tâm trí chúng ta là một tập hợp thông tin. Khi ta mới chào đời và chưa có thông tin, hiển nhiên ta chưa phải đối mặt với nhiều bóng tối. Nhưng cần lưu ý rằng khi đó, đối với ta, toàn bộ thế giới bên ngoài vẫn chìm trong một bóng tối bất tận. Đứa trẻ chưa phải đối mặt với bóng tối chỉ vì nó chưa vào đời, chứ không phải bởi thế giới không tối tăm và nó không tối tăm.

Khi lớn lên, chúng ta phải nạp ngày càng nhiều thông tin vào tâm trí mình. Sẽ có những lúc chúng ta thiếu thông tin, và sẽ có những thông tin mà chúng ta không kịp sắp xếp và xử lí. Khi vướng phải những vấn đề này, ta bắt đầu nhận thức được những vùng tối có sẵn trong thế giới xung quanh, và thỉnh thoảng trong ta cũng hình thành những vùng tối của thông tin hỗn loạn.

Có hai hướng giải quyết khi tình huống này phát sinh.

Hướng thứ nhất là rúc đầu xuống cát như con đà điểu, là tự lừa dối để trấn an mình. Nếu chọn theo hướng này, bạn sẽ cố tình lãng quên những cụm thông tin phức tạp mà bạn không thể sắp xếp và xử lí. Tiếc thay, bạn không thể xóa một thông tin, bạn chỉ có thể chọn đặt nó ở tầng ý thức hay tầng vô thức của tâm trí mình. Thông tin mà bạn nhận thức được sẽ trở thành thế mạnh, tài sản và công cụ của bạn, còn thông tin bị chìm xuống tầng vô thức sẽ trở thành món nợ, điểm yếu của bạn, và thành cái thóp khiến bạn bị thao túng bởi người khác. Nói cách khác, khi cố “trở về với ánh sáng” bằng cách chối bỏ mọi kỉ niệm, tình cảm và suy nghĩ riêng tư của bản thân, bạn sẽ ngày càng lún sâu hơn vào bóng tối vô thức, trong khi vẫn huênh hoang tưởng rằng mình đang ngày càng đến gần, và ngày càng đại diện cho nguồn sáng tối hậu.

Hướng thứ hai là tìm cách tự nâng cao năng lực xử lí thông tin. Nếu chọn theo hướng này, bạn sẽ phải đối mặt với bóng tối bên ngoài và bên trong, để tìm cách đưa thông tin từ đó ra ánh sáng của nhận thức lí tính. Bạn sẽ đạt đến sự đơn giản bằng cách sắp xếp gọn gàng đầu óc mình, thay vì bằng cách cố tẩy não mình. Bạn sẽ đạt đến sự hồn nhiên bằng cách hiểu và làm chủ sự suy xét của bản thân, tới mức có thể suy xét trong sự thoải mái và an nhàn, thay vì bằng cách giả ngu và tự ngu hóa.

(còn nữa)

*

Tiểu luận này được phát triển từ giáo trình
một khóa học cũ của Book Hunter.

Mời các bạn tìm các khóa học sắp tới tại ĐÂY.

Share
Share: