Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệm

Đối mặt với bóng tối (6): Bóng tối đồng nghĩa với sự sâu sắc và từng trải?

resident_evil_afterlife39

Đọc các phần trước của loạt bài Đối mặt với bóng tối tại ĐÂY


 

Ngộ nhận 5: Bóng tối đồng nghĩa với sự sâu sắc và từng trải

Thoạt nghe, ta có thể thấy ngộ nhận nêu trên rất buồn cười. Nhưng trong thực tế, nó lại đang hiện diện tràn lan trong rất nhiều dòng văn hóa thịnh hành của giới trẻ. Nó chi phối lộ liễu các dòng nhạc, lối sống và thời trang theo phong cách rock, hiphop và emo hạng hai. Nó hiện diện ngầm ẩn hơn trong loại tiểu thuyết ngôn tình mồi chài nước mắt người đọc, hay những loại “nghệ thuật đương đại” thấp kém về kĩ thuật, rỗng tuếch về ý nghĩa và nông cạn về nội dung, chỉ trọng múa may ngôn từ để khoe mẽ những ẩn ức quằn quại vật vã. Nó cũng chi phối những mục “tâm sự bạn đọc” trên báo lá cải và những cuộc chuyện phiếm vỉa hè hàng nước, nơi người ta cố tỏ ra già dặn bằng cách chửi đời, chửi người, và coi người từng trải là kẻ biết thích nghi với sóng gió cuộc sống bằng cách tự vứt bỏ chuẩn mực và hạ thấp phẩm giá của bản thân. Nói cách khác, trong khi văn hóa chính thống đang bị chi phối bởi những ảo tưởng về ánh sáng, thì văn hóa phi chính thống lại đang bị chi phối bởi sự đầu hàng và tôn thờ bóng tối.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng tình trạng tưởng chừng bi đát này chỉ hiện diện trong những xã hội đã có một chút nền tảng văn minh. May cho chúng ta, vào thời điểm này, xã hội ở các thành thị Việt Nam đã ít nhiều nằm trong số đó. Trong khi đó, ở những bộ lạc thổ dân sống đời sống nguyên thủy, mà ngày nay còn hiện diện rộng khắp ở Nam Bán cầu, khuynh hướng đầu hàng và tôn thờ bóng tối vẫn chi phối toàn bộ đời sống văn hóa và thế giới quan. Trong tín ngưỡng của họ, một thực thể thiêng liêng là một thực thể bí ẩn vô hình, có khả năng ban phát quyền lợi vật chất cho họ, và có khả năng làm họ sợ hãi. Toàn bộ hoạt động thờ cúng của họ không nhằm phục vụ một giá trị tốt đẹp nào khác, ngoài việc thờ để cầu được thỏa mãn lòng tham, và thờ cho đỡ sợ. Nói cách khác, các dân tộc mông muội tôn thờ ít nhất ba biểu hiện của bóng tối thông tin: sự mù mờ, thiếu hiểu biết, sự lệ thuộc, và sự sợ hãi. Không đáng ngạc nhiên, khi tượng thờ của các dân tộc mông muội, đại diện tối cao của những gì mà các dân tộc này cho là sâu sắc, đều tập trung phô diễn sự huyền bí (mà bản chất là sự mù mờ), những đường nét đáng sợ và những hoạt động giải phóng ẩn ức dục. Những trào lưu văn hóa thời thượng mà xã hội của chúng ta đang tôn thờ, như tôi vừa kể, cũng chỉ là một dạng tượng thờ mông muội khác, có cùng bản chất và xuất hiện vì cùng lí do.

Những khuynh hướng đầu hàng và tôn thờ bóng tối, dù được thể hiện dưới dạng trào lưu văn hóa thời thượng hay tín ngưỡng của thổ dân mông muội, vẫn luôn chia sẻ một đặc điểm chung. Đó là sự nghiện ngập ngầm ẩn, hoặc ca ngợi công khai, những gì mà dư luận gọi là cảm xúc tiêu cực, còn tôi quen gọi là cảm xúc làm con người suy yếu. Nó là một danh sách tính từ, mà ở đây chỉ xin kể những từ nhã nhặn nhất, như “sợ”, “đau”, “buồn”, “suy sụp”, “giận”, “hận”, “thèm khát”, “tuyệt vọng”, “cô đơn”… Càng phô diễn những trạng thái có hại cho cả sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tinh thần ấy, những người theo đuổi trào lưu càng được công nhận là “deep”, là từng trải, là mãnh liệt. Tới mức sau cùng, để được đám đông công nhận, thì dù có thực sự mang những cảm xúc đó hay không, người ta cũng phải phô chúng ra trước mặt nhau như một thứ áo đồng phục bó buộc và nhàm chán. Nếu bấm giờ và làm thống kê, chúng ta sẽ thấy thời gian thật sự nổi dậy trong đời một con nghiện rock ít hơn nhiều tổng thời gian anh ta khoác lên mình những bộ cánh thể hiện sự bất tuân xã hội, tổng số lần làm tình thành công của một nhà thơ hậu hiện đại ít hơn nhiều tổng số bài thơ trưng bày ẩn ức dục của cô ta, tổng số giờ buồn bã của một con búp bê theo phong cách emo ít hơn nhiều tổng số giờ cậu ta để thứ đầu tóc khoe mẽ sự âu sầu, tổng thời gian thật sự cầm kiếm của một tay giang hồ trà đá vỉa hè ít hơn nhiều tổng thời gian anh ta bỏ ra để nói về việc đó. Chỉ cần tính toán sòng phẳng bằng con số thống kê, ta sẽ thấy tất cả những hạng người “sâu sắc” và “từng trải” nêu trên đều chẳng khác gì một bầy diễn viên, khoác lên mình những bộ cánh cường điệu lố bịch trong một vở kịch giả tạo. Vì sao?

Khi vừa tôn thờ một cảm xúc cố định, vừa đánh đồng mình với cảm xúc đó để được hưởng sái thiêng liêng, ta hiển nhiên có nhu cầu kéo dài cảm xúc đến vĩnh hằng. Bởi chỉ những thứ vĩnh cửu, hằng tồn mới thiêng liêng, mọi thứ nhất thời đều phàm tục. Người ta tôn thờ một chỗ dựa vĩnh cửu, mà họ tin rằng sẽ vẫn ở đó mỗi lần họ cần dựa dẫm, chứ không tôn thờ một thứ mà chỉ sự tình cờ cũng sẽ khiến mất đi. Người ta tôn thờ một nguồn sợ hãi vĩnh cửu, thứ mà họ chỉ có thể thuận theo để thích nghi, chứ không tôn thờ một nguồn sợ hãi nhất thời, thứ mà họ có thể cải tạo hoặc triệt phá. Vấn đề nằm ở chỗ ngay từ trong bản chất, cảm xúc đã là thứ rất nhất thời, chứ không thể kéo dài vĩnh cửu. Về mặt bản chất, cảm xúc là những phản ứng năng lượng của cơ thể chúng ta. Những phản ứng này nảy sinh do sự xuất hiện của một thông tin nào đó – hoặc là thông tin xuất phát từ quá trình xử lí trong tâm trí của chúng ta, hoặc là thông tin mới tiếp nhận từ môi trường. Nếu hiểu năng lượng – như điện tích, âm thanh hoặc ánh sáng – là những phương tiện để truyền và lưu trữ thông tin, ta sẽ hiểu rằng cảm xúc là những gợn sóng sinh ra khi dòng chảy thông tin luân chuyển. Cảm xúc của chúng ta cũng chẳng khác gì dòng điện trong một máy tính khi nó vận hành phần mềm và lưu trữ dữ liệu, hoặc sóng rung động của các phân tử giúp một bài hát được truyền đi trong không khí. Sẽ không có dữ liệu nào được lưu trữ nến điện tích chỉ ở trạng thái âm hoặc dương, sẽ không có giai điệu nào được xướng lên nếu không khí chỉ dao động theo tần số của một nốt nhạc, và sẽ không có dòng chảy của việc trao đổi và xử lí thông tin, tức là nghe và nghĩ, nếu chúng ta cứ duy trì một cảm xúc duy nhất đến vĩnh hằng. Vậy nên để dòng chảy thông tin tự nhiên được lưu thông, thì cảm xúc tự nhiên chắc chắn phải biến đổi liên tục. Cảm xúc không đổi chỉ có thể là cảm xúc giả tạo, do diễn xuất tạo ra.

Việc tôn thờ một cảm xúc giả, và tự đánh đồng mình với lớp mặt nạ cảm xúc giả ấy có tác hại gì? Hậu quả đầu tiên, rất hiển nhiên, là làm dòng chảy cảm xúc thật bị ức chế. Khi các dao động năng lượng tự nhiên, phương tiện để truyền và lưu trữ thông tin bị ức chế, hiển nhiên dòng chảy thông tin trong tâm trí ta, và giữa tâm trí ta với môi trường sẽ bị tắc nghẽn, gián đoạn. Chúng ta nghĩ kém hơn, đọc và nghe kém hơn, vì cảm xúc tự nhiên, phương tiện để tiến hành tất cả những việc này, đã bị ta phủ nhận và đè xuống.

Hậu quả thứ hai là độ ý thức và tự chủ của ta giảm đi, trong khi khuynh hướng vô thức và nô lệ lại tăng vọt. Để hiểu và làm chủ tâm trí của bản thân, tối thiểu ta phải dám chấp nhận, nhìn trực diện và tìm hiểu những dao động cảm xúc tự nhiên của mình, tức những gợn sóng sinh ra trên bề mặt tâm trí. Nếu ta không chấp nhận sự tồn tại tự nhiên của những gợn sóng bề mặt, đương nhiên ta sẽ không chấp nhận sự tồn tại tự nhiên của những chuyển động thông tin ẩn dưới tầng sâu. Không chấp nhận chúng thì đương nhiên không hiểu chúng. Khi không hiểu có gì đang diễn ra trong cái đầu mình, đương nhiên ta không thể làm chủ tâm trí của bản thân, trong khi đó là phương tiện duy nhất giúp ta làm chủ số phận mình. Nếu ta không hiểu bản thân để làm chủ bản thân, những kẻ hiểu ta hơn sẽ tìm ra cách điều khiển ta, biến ta thành nô lệ.

Hậu quả thứ ba, ít nhiều xuất hiện như hệ lụy của hai hậu quả trên, là ta dễ bị đánh lạc hướng, hoặc thậm chí dắt đi theo một hướng. Khi ta để một lớp áo cảm xúc giả nắm dòng mọi dao động năng lượng, lớp áo đó sẽ gây nhiễu trong mọi quá trình tiếp nhận, sắp xếp, xử lí, lưu trữ và xuất thông tin của ta. Giống như ta tự đeo một cặp kính hồng, rồi quên khuấy sự tồn tại của cặp kính, và tưởng rằng đời có màu hồng. Khi từng cái nhìn, từng kí ức, từng lời nói và quyết định trong đời đều bị lăng kính cảm xúc giả làm lệch đi, khó có thể nói đời ta đã bị lái hướng nhiều như thế nào so với trường hợp ta chấp nhận những dao động cảm xúc thật.

Tất nhiên, những hậu quả kể trên sẽ xảy ra với bất cứ ai tôn thờ một cảm xúc cố định rồi tự đồng nhất nó với mình, dù đó là “cảm xúc tiêu cực” hay “cảm xúc tích cực”. Trong thực tế, những con buôn tự nhốt mình trong sự “hãnh tiến”, những nhà thiện nguyện chuyên nghiệp tự nhốt mình trong “yêu thương”, hoặc những “bậc thầy tâm linh” tự nhốt mình trong “hoan hỉ” cũng giả dối, lối bịch, nô lệ và vô thức chẳng khác gì những hạng người tôn thờ “cảm xúc tiêu cực” nêu trên. Vấn đề nằm ở chỗ khi người ta tôn thờ những cảm xúc làm mình suy yếu thay vì mạnh lên, làm mình khó chịu thay vì dễ chịu, thì độ lố bịch phải cao hơn nhiều. Nhưng vẫn có vài lí do khiến người ta muốn duy trì sự lố bịch đó.

Lí do thứ nhất là một sự nhầm lẫn tai hại. Trong thực tế, những kẻ phục tùng và tôn thờ bóng tối không phải là cha đẻ của các trào lưu văn hóa mà họ tuyên bố là đang theo. Ở xuất phát điểm, những trào lưu này thường bắt nguồn từ một lớp trí thức và nghệ sĩ bức xúc với những điểm vô lí của hệ thống xã hội đương thời. Khác hẳn những tín đồ tự xưng, những cha đẻ này – như Goethe, Nietzsche, Thoreau, Kafka hay Allen Ginsberg… – lại không hề tôn thờ bóng tối. Tác phẩm của họ có thể là một chuyến thảm hiểm rất sâu vào những cảm xúc tiêu cực, như nỗi buồn, sự cô đơn, hận thù và dục vọng… Nhưng chính bằng chuyến thám hiểm đó, họ xét lại toàn bộ hệ thống xã hội và dòng văn hóa chính thống đương thời, những gì vốn được cấu thành từ bóng tối, nhưng luôn vỗ ngực tự xưng là ánh sáng tối cao. Nói cách khác, trái ngược hẳn với những tín đồ tự xưng của mình, họ là những người đi đầu trong việc từ chối phục tùng và tôn thờ bóng tối. Họ không tôn thờ bóng tối và ở lì trong bóng tối: họ du hành trong bóng tối để tìm đường ra. Họ không tôn thờ sự thất vọng và buồn đau: sự thất vọng và buồn đau đến với họ một cách tự nhiên trong vài khoảnh khắc nhất thời, khi họ hoài nghi những lớp vỏ cảm xúc giả.

Tiếc thay, lớp cha đẻ này đã bị đám tín đồ đời sau lợi dụng. Trong khi họ kêu gọi lật tẩy những góc cạnh dã man của nền văn minh, đám tín đồ lại kêu gọi từ bỏ nền văn minh, để trở về tình trạng dã man cũ rích. Trong khi họ là kẻ bước ra khỏi hệ thống để nhìn rõ sự thật về hệ thống và sự thật về bản thân, đám tín đồ lại là những kẻ thất bại bị hệ thống ném ra ngoài lề, hoặc chạy trốn ra ngoài lề để không phải đóng vai kẻ thất bại. Ở Việt Nam, từ một ngoại lệ, kĩ năng ngôn ngữ của hầu hết các nhà thơ đương đại quằn quại từng một thời đình đám còn kém một giáo viên ngữ văn. Nếu bắt họ sáng tác bằng các thể thơ, văn kinh điển, họ sẽ lộ rõ là những đầu óc tật nguyền. Tương tự, khi đội quân đeo bùa của Phan Xích Long đối đầu với súng Tây, người ta mới nhận ra các thánh thần và lề luật dễ sợ của một tá hội kín từng làm mưa làm gió ở miền Nam cũng không thiêng lắm. Về mặt y học, những bạn trẻ khoe khoang ẩn ức dục bằng ngôn ngữ và thời trang phải có đời sống tình dục thất bại so với người bình thường, vì ẩn ức chỉ hiện diện trong một đời sống tình dục không khỏe mạnh… Trong tất cả các trường hợp nêu trên, những kẻ phục tùng và tôn thờ bóng tối đã phải tụ thành một đám đông, trong đó họ ngụy trang sự yếu kém của mình bằng cảm giác mạnh mẽ giả tạo, xuất phát từ lớp vỏ bọc “bí ẩn”, mà thực chất là mù mờ, để gây sợ hãi cho những người quan sát thiếu thông tin. Khi người quan sát có đầy đủ thông tin, lớp hỏa mù “bí ẩn” tan đi, và họ lộ nguyên hình là kẻ yếu kém đang cố ngụy trang để leo lên ngai vị của kẻ mạnh.

Về mặt kĩ thuật, còn có một lí do khác khiến những kẻ yếu kém này tôn thờ một cảm xúc cố định, và tự đồng hóa lớp mặt nạ cảm xúc giả đó với bản thân. Trước tiên, cần nhắc lại rằng yếu kém ở đây chủ yếu là yếu kém trong năng lực xử lí thông tin, vì như đã nói trong các phần trước của tiểu luận này, xử lí thông tin là việc duy nhất mà chúng ta có thể chủ động trong toàn bộ đời sống. Vậy những kẻ yếu kém về năng lực xử lí thông tin có cách nào để vượt mặt những kẻ mạnh? Cách đơn giản nhất là đeo cùng một lớp mặt nạ cảm xúc, giả tạo và cố định, cho cả kẻ mạnh lẫn kẻ yếu đang đứng lẫn lộn trong một đám đông. Vì thông tin được truyền và lưu trữ bằng năng lượng, nhờ sự cộng hưởng của một dạng cảm xúc giả duy nhất, đời sống thông tin của những kẻ yếu trong đám đông đó sẽ được được kẻ mạnh, và được sự đông đúc, giúp duy trì, lan tỏa và làm cho phình to dần. Chẳng hạn, dễ thấy mọi tin đồn và trào lưu nhảm đang bành trướng hiện nay đều phải đặt nền tảng trên một cảm xúc duy nhất. Nếu cảm xúc này bị gián đoạn, hoặc có quá nhiều dòng cảm xúc khác biệt tranh chấp nhau, chắc chắn tin đồn sẽ bị nghi ngờ, và trào lưu nhảm sẽ xịt. Ở đây, cần lưu ý thêm rằng vì cảm xúc chung chỉ là cảm xúc giả, nó sẽ bóp méo toàn bộ dòng chảy thông tin trong xã hội, khiến thông tin chỉ lan truyền theo những cách lệch lạc, nghĩa là những cách có lợi cho kẻ yếu kém về năng lực xử lí thông tin. Đó là tin đồn, tin vịt, tin vụn, tin rác, tin tuyên truyền, tin bị hệ thống kiểm duyệt thiếu vô tư tùy tiện cắt xén… Trong khi đó, dưới tác động từ lớp mặt nạ cảm xúc chung của đám đông, những dạng truyền tin chuẩn mực – như hệ thống học thuật, thi ca và nghệ thuật cao cấp, hoặc thậm chí là sự trao đổi cảm xúc chân thành giữa các cá nhân – sẽ rất khó có cơ hội được tồn tại nguyên vẹn. Nhờ đó, dòng chảy thông tin rởm, phù hợp với thói quen tiêu thụ của những kẻ có năng lực thông tin què quặt, sẽ ngày càng lớn lên. Trong khi đó, đời sống thông tin chuẩn mực, thứ cần để nuôi dưỡng những chuyên gia xử lí thông tin, sẽ ngày càng bị bóp chết. Tình hình càng tệ hơn, khi việc chia sẻ cùng một dòng chảy thông tin khiến mọi gói thông tin chuẩn mực được cung cấp bởi các chuyên gia đều có nguy cơ trở thành nguyên liệu đầu vào, mà bọn tật nguyền thông tin dùng để tạo ra thêm các sản phẩm thông tin rởm. Và khi kẻ mạnh đứng lẫn lộn cùng kẻ yếu trong đám đông, kẻ yếu sẽ dễ dàng giả làm kẻ mạnh, còn luồng thông tin rởm sẽ dễ dàng được mông má lên thành luồng thông tin cao cấp. Cảm xúc giả của tập thể là con virus mà những kẻ tật nguyền về đường thông tin tung ra, để biến toàn bộ xã hội thành tật nguyền, khi dòng chảy thông tin đã trở nên bệnh hoạn. Nó mượn lực của các cơ thể khỏe mạnh để tồn tại và lây lan, nó biến từng tế bào khỏe mạnh thành ra giống như nó. Trong đời sống thông tin, nạn dịch zombie là có thật. Và từ thế kỉ 18 đến nay – khi toàn cầu hóa mở cổng thông tin cho các dân tộc man rợ, dân chủ hóa làm dép mũ ngang nhau, đà tăng dân số làm phình to tầng lớp thấp, và sự phát triển của công nghệ thông tin giúp cả cá nhân những kẻ mạnh lẫn đám đông những kẻ yếu tối tân hóa vũ khí của mình – cuộc chiến giữa loài người và bầy zombie thông tin chỉ có thể thêm gay cấn.

Để giữ não của mình, bạn phải chọn lựa. Nếu bạn cho rằng bóng tối đồng nghĩa với sự từng trải và sâu sắc, và vì thế đáng tự hào, hẳn bạn nghĩ rằng bóng tối trong mình là một lớp áo đẹp để đem khoe, thay vì một vấn đề cần giải quyết. Nói cách khác, bạn đang tự hào rằng mình là kẻ thiếu hiểu biết, suy yếu, sợ hãi và lệ thuộc. Lựa chọn này không những đẩy mọi vấn đề mà bạn đang gặp phải vào thế tồn đọng, mà còn khiến bạn dần thoái hóa trong nọc độc của đám đông.

Nơi nào có bóng tối, nơi đó có sự thất bại trong việc xử lý thông tin. Như vậy, những người ngập ngụa trong bóng tối của môi trường và của chính bản thân không thể được xem là từng trải và sâu sắc. Họ chỉ chưa đủ từng trải và sâu sắc để xử lý thông tin một cách thành thục, và nhờ đó, nhìn những trải nghiệm của mình bằng một thái độ bình thường.

(còn nữa)

*

Tiểu luận này được phát triển từ giáo trình
một khóa học cũ của Book Hunter.

Mời các bạn tìm các khóa học sắp tới tại ĐÂY.

Share
Share: