Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệm

Đối mặt với bóng tối (9): Màng lọc thông tin là gì?

Divergent_Allegiant_Trailer_01

Đọc các phần trước của loạt bài Đối mặt với bóng tối tại ĐÂY


 

I. Màng lọc thông tin là gì?

Trong phần I-2, chúng ta đã mô tả quá trình lưu chuyển thông tin của một cá nhân bằng một bộ sơ đồ đơn giản. Trên sơ đồ đó, mỗi biển cấm màu đỏ tương ứng với một vị trí mà bóng tối thông tin có thể xuất hiện. Nói cách khác, khi thông tin đi qua vị trí của biển cấm đó, chúng sẽ không còn vẹn nguyên. Ở đó, thông tin gốc bị ngăn chặn, sửa đổi, bổ sung, bóp méo, hoặc suy diễn… Nhưng cái gì đã tồn tại ở những vị trí đó, để tác động đến thông tin theo những cách này? Chúng ta đã liệt kê một số nguyên nhân quan trọng. Trong đó, có các nguyên nhân vật lí, như “núi sông cách trở”, song sắt, hoặc sự tồn tại của một bức tường cách âm… Cũng có những nguyên nhân xuất phát từ các quyết định chủ động của con người, như việc người truyền tin quyết định giữ bí mật, hoặc quyết định nói dối… Tuy nhiên, tuyệt đại đa số các nguyên nhân còn lại lại liên quan đến một “phần mềm” tâm trí mà người truyền hoặc người nhận tin sử dụng để giải mã, phân loại, xử lí, hoặc lưu trữ thông tin. Nó bao gồm ngôn ngữ mà người đó dùng, các bộ kiến thức và kĩ năng chuyên môn mà người đó học, các nỗi ám ảnh và thói quen sống, các quan điểm đạo đức, chính trị, óc thẩm mỹ và thái độ với các mốt thời trang… Về bản chất, tất cả những “phần mềm tâm trí” nêu trên, dù hay dù dở, dù được cài đặt một cách chủ động hay hình thành trong vô thức, đều là những gói thông tin mà chúng ta dùng để xử lí thông tin. Đây chính là các “màng lọc thông tin” mà tôi đang đề cập đến.

1. Mục đích của màng lọc thông tin

Các màng lọc thông tin, dù hay hay dở, đều tồn tại vì một mục đích chung. Đó là giảm sức lực và thời gian mà chúng ta phải bỏ ra để xử lí một số thông tin nhất định. Chẳng hạn, ngôn ngữ giúp con người hiểu nhau một các nhanh chóng và đỡ tốn kém hơn. Kiến thức lịch sử, quan điểm chính trị và quan điểm đạo đức giúp bạn đỡ mất thời gian khi phải quyết định bỏ phiếu cho ai, hoặc thể hiện thái độ nào với từng chính sách. Kĩ năng chuyên môn, cùng các thói quen nghề nghiệp giúp bạn xử lí công việc nhanh và nhẹ nhàng hơn. Bảng cửu chương giúp bạn đỡ phải dùng ngón tay để đếm… Như vậy, dễ thấy mọi màng lọc thông tin đều là một lộ trình xử lí thông tin được vẽ sẵn, để việc xử lí này diễn ra nhanh, rẻ và ít nguy cơ sai sót hơn.

2. Các nguy cơ từ màng lọc thông tin

Tuy nhiên, với bản chất này, mọi màng lọc thông tin sẽ luôn tiềm ẩn trong nó một số nguy cơ, mà người sử dụng phải thường xuyên đối mặt.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Thứ nhất, vì mỗi màng lọc thông tin là một lộ trình suy nghĩ được vẽ sẵn, thường xảy ra trường hợp ta nhất nhất suy nghĩ theo một lộ trình đã biết, đã dùng thành thói quen, mà tự động gạt đi tất cả những lộ trình khả thi còn lại. Thậm chí, nhiều người còn tôn sùng lộ trình suy nghĩ duy nhất mà họ vô tình được làm quen, và coi tất cả những lộ trình còn lại là học thuyết ngoại lai, dị giáo. Chẳng hạn, trong các sinh hoạt tôn giáo, chính trị, học thuật và đời sống, không ít người xem giáo phái, chủ nghĩa, phương pháp luận hoặc nhãn quan đạo đức của mình là duy nhất đúng, và kịch liệt bài bác mọi hệ thống khác với bộ phần mềm tâm trí mà mình được cài.

Thứ hai, vì mỗi màng lọc thông tin giống như một phần mềm tính toán tự động, chỉ đòi hỏi ta điền vào một số loại dữ liệu nhất định, rồi cho ta kết quả ngay, nó khuyến khích ta bỏ qua tất cả những dữ liệu khác, vì cho là không cần xét đến. Chẳng hạn, nhiều nhà kinh tế học đánh giá tình hình sai vì có khuynh hướng bỏ qua các dữ kiện không có tính định lượng, hoặc sự thật rằng đời sống kinh tế địa phương không vận hành theo trật tự mà mô hình kinh tế của họ mô tả. Cực đoan hơn, có người còn từ chối mọi thông tin nằm ngoài số dữ kiện mà phần mềm tâm trí của họ đòi hỏi. Chẳng hạn, cho đến ngày nay, trong nhiều nhánh Thiên chúa giáo, tín đồ vẫn được dạy rằng Kinh thánh là cuốn sách duy nhất mà họ cần đọc trong một đời người, vì để làm người tốt và được lên thiên đường thì chỉ cần có thế. Trong giáo phái Brahma Kumaris, tín đồ được dạy rằng họ không nên đọc cuốn sách nào khác ngoài các cuốn kinh của bản phái, vì các sách khác “không chứa đựng tính Thượng đế bên trong”, và dễ khiến họ lầm đường lạc lối.

Vì hai lí do này, càng liên tục dùng đi dùng lại một màng lọc thông tin, người dùng càng dễ mắc kẹt trong nó, rồi mất đi mọi tầm nhìn khác và lựa chọn khác. Dần dần, màng lọc thông tin đó sẽ không còn là một lộ trình suy nghĩ hữu dụng để giúp người dùng tìm đường thoát, mà trở thành một mê cung bẫy người dùng bên trong. Chuyện này xảy ra khi người dùng không chỉ lệ thuộc vào màng lọc về mặt dữ liệu và phương thức tư duy, mà còn lệ thuộc vào nó về mặt cảm xúc, các mối quan hệ và nhân cách. Trong tình trạng lệ thuộc này, màng lọc thông tin sẽ không còn là công cụ của người dùng, mà thay vào đó, người dùng sẽ trở thành công cụ của màng lọc thông tin.

Thứ ba, vì mỗi màng lọc thông tin là một lộ trình xử lí thông tin, nếu người dùng không cẩn thận phân định rõ ba thứ – là dữ liệu gốc, các suy luận của màng lọc, và các kết luận mà mình rút ra từ số suy luận này – thì càng dùng màng lọc để xử lí thông tin, họ sẽ càng bóp méo số thông tin gốc. Trong mắt họ, thông tin gốc không còn vẹn nguyên: nó đã bị trộn lẫn với những lập luận của phần mềm và những kết luận của họ. Có thể nói rằng trong trường hợp này, họ đã không còn nhìn thông tin gốc theo đúng bản chất của nó vốn là nữa, mà thay vào đó, họ nhìn thông tin gốc qua lăng kính định kiến mà màng lọc tạo ra.

Bằng ba cách này, nếu bạn lệ thuộc vào một màng lọc tâm trí, màng lọc sẽ khiến bạn đưa ra kết luận sai, ngay cả trong trường hợp từng suy luận đơn lẻ của bạn đều đúng về mặt logic.

Để đối mặt với những nguy cơ từ màng lọc thông tin, cần làm ba việc.

Một: hiểu cặn kẽ về nguồn gốc, bản chất, cơ chế vận hành, công dụng và hạn chế của màng lọc thông tin mà mình đang sử dụng. Chỉ trong trường hợp đó, người dùng mới kiểm soát màng lọc thông tin, thay vì bị màng lọc kiểm soát, và mới trở thành chủ nhân thay vì công cụ của màng lọc thông tin.

Hai: học cách dùng song song nhiều màng lọc thông tin cùng một lúc, để không bị hạn chế, lệ thuộc và kiểm soát bởi một trong số các màng lọc này.

Ba: trong quá trình phân loại và lưu trữ thông tin, cần phân định rõ ba nội dung, là thông tin gốc, các suy luận của mình dựa trên thông tin gốc, và các kết luận được rút ra từ suy luận. Bằng cách này, ngay cả khi bị đánh lừa bởi màng lọc thông tin, người dùng vẫn không mất đi thông tin gốc, và vì thế vẫn chưa hoàn toàn đi lạc.

3. Ba nguồn của màng lọc thông tin

Các màng lọc thông tin thường đến từ ba nguồn.

Một: những gì bạn được học, dù bạn học chúng một cách vô tình hay có chủ ý. Số này bao gồm các bộ kĩ năng, thói quen, quan điểm mà bạn hấp thu từ người khác, chứ không tự tạo ra. Chẳng hạn: ngôn ngữ, quan điểm đạo đức, tôn giáo và chính trị, kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, xu hướng thẩm mĩ chịu ảnh hưởng từ người khác…  Nhìn chung, đây là những bộ phần mềm tâm trí được người khác viết ra. Sau đó, nó được cài vào não bạn bởi họ hoặc chính bạn, một cách chủ ý hoặc vô tình.

Hai: kinh nghiệm của bạn. Kinh nghiệm là những phần mềm, hoặc bản vá cải tiến cho phần mềm tâm trí mà bạn tự viết. Để tạo ra một màng lọc tâm trí dạng kinh nghiệm, bạn phải làm đi làm lại một việc theo nhiều cách khác nhau. Đa số các cách đó sẽ thất bại, chỉ một số cách thành công. Qua những trải nghiệm này, bạn biết cách làm nào là hiệu quả. Thêm vào đó, việc lặp đi lặp lại một chuỗi hành động trong khuôn khổ của cách làm hiệu quả này sẽ giúp bạn hình thành một phần mềm tâm trí tự động.

Ba: những chấn thương tâm lí của bạn. Dù người ta thường nhầm lẫn các màng lọc dạng kinh nghiệm và dạng chấn thương tâm lí với nhau, hai màng lọc này thực ra rất khác. Trong khi kinh nghiệm được rút ra từ dữ kiện về cả cách thức thất bại lẫn cách thức thành công, chấn thương tâm lí chỉ nảy sinh từ dữ kiện về cảm giác thất bại. Dữ kiện làm nên kinh nghiệm tập trung vào cách thức, còn dữ kiện làm nên chấn thương tâm lí tập trung vào cảm giác. Kinh nghiệm là bộ phần mềm để xử lí thông tin, nhằm giải quyết vấn đề, còn chấn thương tâm lí là bộ phần mềm báo động thôi thúc bạn từ chối xử lí thông tin, thậm chí chặn thông tin và xóa dữ liệu, để chạy trốn khỏi vấn đề.

Trong ngắn hạn, các chấn thương tâm lí không phải là không hữu dụng. Nó giúp bạn lảng tránh những chuỗi xử lí thông tin mà bạn chưa có khả năng thực hiện, nhờ đó giúp bạn tránh khỏi tình trạng treo máy. (Nếu hiểu rằng thông tin được lưu trữ và xử lí bằng năng lượng, và năng lượng của con người thể hiện dưới dạng cảm xúc, bạn có thể dùng cụm từ “treo máy” để mô tả những tình huống quá tải cảm xúc tiêu cực).

Tuy nhiên, về lâu về dài, các chấn thương tâm lí cũng đặt ra những nguy cơ lớn. Hết lần này đến lần khác, chúng ngăn cản bạn xử lí những thông tin mà đằng nào bạn cũng phải xử lí, giải quyết những vấn đề mà đằng nào bạn cũng phải giải quyết. Mà càng để lâu, vấn đề sẽ càng tích dồn, và trở nên trầm trọng hơn, giống như một vết thương lâu ngày bị mưng mủ. Trong khi đó, thực ra mọi thông tin đều có thể xử lí và mọi vấn đề đều có thể giải quyết, nếu khổ chủ kiên trì sắp xếp lại dữ kiện cũ, bổ sung dữ kiện mới, và thử xử lí kho dữ liệu – mà giờ đã gọn gàng và đầy đủ hơn – bằng những màng lọc khác mà trước đây chưa dùng đến.

Các chấn thương tâm lí hình thành bằng cách nào? Khi chúng ta rơi vào thế bế tắc trong việc xử lí một dòng thông tin (ví dụ: dòng thông tin xoay quanh một cơn đau, sự sụp đổ của một niềm tin, hay sự trục trặc của một mối quan hệ), các thông tin đang di chuyển trên dòng chảy đó sẽ bị kẹt lại ở điểm bế tắc. Các thông tin chảy đến trước kẹt lại, tạo thành một đập nước, chặn đứng mọi thông tin chảy đến sau. Càng ngày, lượng thông tin bị kẹt càng lớn hơn, cho đến khi không còn một mẩu thông tin nào có thể lọt qua con đập, và dòng chảy thông tin này hoàn toàn bị nghẽn.

Cần lưu ý rằng lượng thông tin bị nghẽn càng lớn, thì lượng năng lượng đại diện cho những thông tin đó, tức cảm xúc, bị tắc nghẽn cũng càng lớn hơn. Khi chủ nhân từ chối xử dụng dòng chảy thông tin bị nghẽn bằng cách giấu nó đi, cả trước mắt thiên hạ lẫn trước lí trí của chính mình, anh ta sẽ không phải đối mặt với lượng cảm xúc ách tắc. Tuy nhiên, bất cứ khi nào dòng chảy tắc nghẽn này trồi lên từ tầng vô thức, tất cả số cảm xúc ách tắc của cơn treo máy đó sẽ trở lại để quấy rầy anh ta. Nếu hiểu rằng “ẩn ức” là những cảm xúc, suy nghĩ mà chủ nhân phải giấu đi (ẩn) và nén lại (ức), thì có thể hiểu rằng mọi màng lọc thông tin dạng chấn thương tâm lí đều sinh ra từ ẩn ức, và đều tiếp tục làm nảy sinh ẩn ức.

Vì trong dòng chảy thông tin, thông tin chỉ có thể kẹt ở vị trí của một màng lọc thông tin nào đó, có thể nói rằng chấn thương tâm lí là loại màng lọc thông tin sinh ra từ sự thất bại của các màng lọc thông tin. Vì vậy, muốn tháo gỡ một chấn thương tâm lí, cần làm ba việc.

Một: đào toàn bộ số dữ liệu đang bị tắc nghẽn lên. Phân loại, sắp xếp và lưu trữ chúng bằng những phương tiện khác ngoài trí nhớ, để tránh chúng bị sự bất ổn của tâm trí làm cho rối lên và chôn vùi xuống tầng vô thức một lần nữa. Sau khi đã lưu trữ và sắp xếp, thẳng thắn đối mặt với những dữ liệu này, lần lượt từng cái một, để nhìn chúng đúng với bản chất của chúng, thay vì qua lăng kính của các màng lọc thông tin cũ cùng khối cảm xúc tắc nghẽn và rối loạn.

Hai: xác định màng lọc thông tin đã tạo ra tình trạng tắc nghẽn. Cẩn thận nghiên cứu nó, để xác định những hạn chế nào của nó đã khiến tình trạng tắc nghẽn xảy ra.

Ba: nhìn lại toàn bộ số dữ kiện đã thu được từ hai bước trên, để tìm ra những dữ kiện và màng lọc mà mình còn thiếu để có thể xử lí số thông tin bị ách tắc. Bổ sung những thứ còn thiếu này và làm nốt việc xử lí.

Trong số các màng lọc thông tin thuộc dạng “phần mềm ngoại nhập” và dạng kinh nghiệm, có những màng lọc mà chúng ta nhận thức được và sử dụng một cách chủ động, cũng có những màng lọc hình thành hoặc tiêm nhiễm một cách vô thức, và chúng ta chỉ vô tình dùng theo thói quen. Trong khi đó, những màng lọc thông tin thuộc dạng tổn thương tâm lí lại là thứ mà chúng ta luôn chủ động giấu vào tầng vô thức. Nói cách khác, một mặt, loại phần mềm xử lí thông tin này vốn sinh ra từ bóng tối thông tin. Mặt khác, nó luôn khuyến khích người dùng đẩy nó sâu hơn vào trong bóng tối. Vì vậy, các tổn thương tâm lí tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ cho quá trình xử lí thông tin. Vấn đề càng phức tạp hơn, khi nó là thứ dễ bị nhầm với kinh nghiệm, và lại có thể lây nhiễm từ người này sang người khác. Chẳng hạn, chúng ta khó có thể biết được bao nhiêu phần nội dung của cuốn Tư Bản Luận xuất phát từ dữ liệu có thật trong lịch sử, cùng kiến thức và kinh nghiệm hữu dụng của Karl Marx, còn bao nhiều phần của nó xuất phát từ những tổn thương tâm lí của ông ta. Trong khi đó, không thể phủ nhận một thực tế rằng các tổn thương tâm lí của Marx có thể lây qua bạn đọc thông qua cuốn sách này, dưới dạng những mã độc thuộc dạng “ẩn ức” được cài trong một phần mềm xử lí thông tin được xếp vào dạng “kiến thức”.

(còn nữa)

Share
Share: