Sáng tácTản văn

Ghi chép nhanh: về những kẻ thao túng cộng đồng bằng cách áp đặt giới hạn của con người

641142

(trích bản nháp giáo trình Đối mặt với bóng tối)


 

Vì sao trong câu truyện “Bộ quần áo mới của Hoàng đế”, không ai dám cười khi thấy hoàng đế cởi truồng? Vì sao người yêu nào cũng bắt bạn thề hẹn đời đời kiếp kiếp bên nhau, trong khi chỉ có chết mới giúp bạn thực hiện lời thề này, và hễ chết lần nào là cả hai lại quên béng mất điều mình hứa? Vì sao cứ ba ngày một lần, ai đó lại rót vào tai bạn rằng đàn ông là phải thế này thế nọ, thanh niên là phải thế này thế nọ, yêu nhau là phải thế này thế nọ, xuống trái đất là phải thế này thế nọ…, trong khi bạn không được chọn là trai hay gái, chọn già luôn một thể và bỏ qua bước thanh niên, chọn ra đời hoặc không ra đời, chọn có tình cảm hay không có tình cảm?

Vì sao người ta cứ cố áp đặt những giới hạn vô lí nên đầu  nhau như thế? Còn những giới hạn hợp lí, như quyền tự do tư tưởng, không gian riêng tư và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, sao cứ mãi bị người ta bỏ qua? Nếu giới hạn sinh ra không phải để mỗi người được bảo vệ, mà là để mỗi người bị ép buộc và soi mói, thì giới hạn sinh ra để làm gì? Và ai trên cái hành tinh này đang hưởng lợi từ tất cả những lằn ranh đó?

Có những kẻ thao túng cộng đồng bằng cách áp đặt các giới hạn. Trong những hình thức thao túng được liệt kê trong tiểu luận này, có thể đây là tinh vi và ngầm ẩn nhất. Trong mọi trường hợp, kẻ bị thao túng tưởng rằng mình đã tự ra những quyết định đúng đắn, vì trong hoàn cảnh đó mình không có quyền lựa chọn.

 

I. Bản chất của những giới hạn đặt ra với con người

 

1. Mục đích

Các giới hạn đặt ra cho con người, nếu đúng đắn, thì đều xuất hiện vì cùng một lí do. Đó là nó giúp các nguồn lực được phân phối và sử dụng một cách hiệu quả nhất có thể. Ví dụ: qui định cấm trẻ con nghịch diêm giúp các bậc cha mẹ tiết kiệm được cả que diêm, đứa trẻ lẫn cái nhà. Các qui định về sở hữu tài sản đảm bảo mỗi người được hưởng những gì mà họ làm ra, cũng như chuyển nhượng nó cho người khác. Luật hình sự đảm bảo mỗi người không vượt qua giới hạn, mà tại đó, họ có thể cố ý làm tổn hại đến các nguồn lực thuộc sở hữu của tâp thể hoặc những người xung quanh…

Các giới hạn đúng đắn khác, mà luân lí, luật pháp và nội qui của các tổ chức có thể đặt ra đều không nên vượt ra ngoài mục đích đó. Vì nếu vượt ra ngoài, giới hạn sẽ trở thành rào cản làm lãng phí nguồn lực, thành cơ hội để ăn cắp nguồn lực, và hoàn toàn đi ngược lại mục đích ban đầu. Ví dụ: một giới hạn luân lí bị lạm dụng, theo đó học trò phải tuyệt đối cung kính và phục tùng thầy cô, bằng những biểu hiện cụ thể như thăm nhà, tặng quà vào dịp lễ lạt, đã tạo ra một cơ hội để tham nhũng. Giới hạn được tạo thành từ quan niệm xã hội, theo đó mọi hoạt động của con người đều không nên nằm ngoài mục đích học giỏi đỗ đạt, rồi kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm gái, đẻ và nuôi con, đã làm phí phạm toàn bộ tài nguyên con người, vì ở đây con người chỉ được gán cho những động lực và mục đích của con gia súc. Mặt khác, nó cũng tạo cơ hội để làm nảy nở mọi chiêu trò trục lợi, vì khi mọi người đều chấp nhận sử dụng toàn bộ tài nguyên của mình cho những mục đích tầm thường, vì một động lực tầm thường duy nhất là trở nên giống hệt bầy đàn để được bầy đàn công nhận, thì toàn bộ nhân cách của họ cũng bị tầm thường hóa theo. Và dù sao, hễ ta lãng phí tài nguyên nào, sẽ lập tức có kẻ trục lợi đến bên ta để nuốt trọn tài nguyên đó.

 

2. Cách thức hình thành

Để các giới hạn đặt ra cho con người không vượt qua mục đích đúng đắn của nó, là giúp nguồn lực được phân phối và sử dụng một cách hiệu quả, chúng cần được qui định bởi hai thứ, là các hệ thông chuẩn mực và hệ thống luật lệ. Trong đó, hệ thống chuẩn mực gán định nghĩa cho từng tài nguyên, dù là tài nguyên vật chất, thời gian hay con người, và cung cấp một thước đo để ta xác định giá trị mà mình gán cho chúng. Chẳng hạn, nếu có hệ chuẩn mực tốt trong lĩnh vực ẩm thực, ta sẽ nhận biết được mình đang ăn cái gì, nguyên liệu có tươi và xịn không, sự phối hợp giữa nhiệt độ, gia vị và thời gian trong quá trình chế biến có thông minh không, món ăn truyền tải cảm xúc và phong thái nào cho mình, và ta phối hợp nó với món nào, đồ uống nào, loại người nào, không – thời gian nào thì hợp… Trong khi đó, hệ thống luật lệ giúp xác định đường lối hợp lí để trao đổi tài nguyên giữa những người khác nhau. Chẳng hạn, một hệ thống luật lệ đơn giản, dạng qui ước riêng giữa hai cá nhân, sẽ giúp họ biết khi đi ăn với nhau, họ không nên nói những chuyện gì, không nên rủ những ai, không nên ngồi ở chỗ nào, hoặc ai nên trả tiền và ai nên gọi món…

Như vậy, để phá hỏng quan niệm đúng đắn về giới hạn của con người, hòng từ đó trục lợi, kẻ trục lợi phải tấn công hệ thống chuẩn mực và hệ thống luật lệ của nạn nhân. Có hai cách để làm việc này. Thứ nhất, là làm sai lệch hai hệ thống này, bằng cách can thiệp vào chúng thông qua mọi phương thức thao túng khác mà chúng ta đã tìm hiểu – như tiếng ồn cảm xúc của đám đông, hình mẫu phù phiếm, hoặc những hợp đồng lợi ích vật chất – tình cảm không sòng phẳng và minh bạch. Thứ hai, là tạo ra một tâm lí còn tệ hơn, theo đó thì để “là chính mình”, chúng ta không cần hệ thống chuẩn mực và luật lệ nào hết. Ở đây, chỉ xin nói nhanh rằng tâm lí tệ hại này chỉ là một lối ngụy biện của những kẻ tham lam và hèn nhát, mà tự trong thâm tâm đã muốn thỏa hiệp để trục lợi. Trước tiên, cần nhớ rằng mọi hệ thống chuẩn mực và luật lệ đều chỉ là những công cụ giúp chúng ta không bị lừa bởi mình hoặc bởi người, rồi từ đó bị kẻ khác thao túng. Một khi đã bị thao túng, thì chẳng ai còn “là chính mình” được: họ chỉ là bản sao của một ảo ảnh mà người khác vẽ ra. Thứ hai, nếu hệ chuẩn mực và luật lệ đã là những công cụ, thì để không bị lệ thuộc vào chúng, ta chỉ cần hiểu rõ chúng có bản chất là gì, và sử dụng chúng như thế nào thì có lợi cho mình và mọi người. Nếu có điều kiện, ta có thể cùng lúc sử dụng nhiều hệ chuẩn mực và luật lệ, như những bộ công cụ khác nhau để giải quyết những công việc khác nhau, mà ở đó chúng phù hợp nhất và phát huy được công dụng nhất. Thứ ba, chỉ những kẻ mà từ đầu đã đánh mất bản thân, để trở thành một công cụ của thế lực bên ngoài, thì mới không còn “là chính mình” khi sử dụng một bộ công cụ.

 

3. Động lực thúc đẩy

Trong những giới hạn được đặt ra cho con người, những giới hạn hợp lí và những giới hạn phi lí hình thành vì những động lực thúc đẩy khác nhau. Ở góc độ cá nhân, những giới hạn hợp lí đặt ra cho một người chỉ hình thành khi người đó biết mình muốn gì, mình có gì, môi trường đang như thế nào, và cần phải làm những gì để đạt được những gì mình muốn, dựa trên những gì mình và môi trường có, theo cách hiệu quả nhất. Ở đây, tính hiệu quả không chỉ bao gồm sự tiết kiệm nguồn lực con người, vật chất và thời gian. Nó còn bao gồm khả năng duy trì kết quả một cách bền vững và lâu dài, cũng như khả năng “thu hồi vốn”, hoặc “sinh lời” về mặt nguồn lực cho cả môi trường lẫn bản thân, để mình và môi trường có khả năng cộng tác với nhau trong những lần đầu tư khác. Chẳng hạn, để đi từ nhà đến trường một cách nhanh chóng và an toàn, bạn quyết định tuân thủ luật giao thông. Để đi đến quyết định này, bạn đã tính toán rằng nếu mình và mọi người cùng không tuân thủ luật giao thông, giao thông sẽ rơi vào hỗn loạn, khiến tất cả mọi người mất nhiều thời gian để di chuyển hơn, đồng thời mình có thể bị xe đâm chết. Trong trường hợp này, tuân thủ luật giao thông là giới hạn đem lại lợi ích tốt đẹp và bền vững nhất cho tất cả. Nhưng một kết luận như vậy chỉ có thể được rút ra bằng một quá trình tính toán logic, với ba đặc điểm sau. Một: bạn biết mình muốn gì, và đã đặt ra một mục đích cho mình. Hai: bạn không lập tức lao vào mục đích, mà dừng lại để tìm phương thức hiệu quả nhất nhằm đạt được mục đích. Ba: bạn nhận thấy lợi ích của cá nhân và môi trường gắn bó với nhau, vì thế lợi ích của môi trường cũng phải được xem như một trong những mục đích của mình.

Những giới hạn phi lí được đặt ra cho con người lại được hình thành từ dạng động lực hoàn toàn khác. Trong mọi trường hợp, quá trình tính toán logic kể trên không diễn ra. Thay vì quan sát và tính toán, người ta chỉ phản ứng tức thời với một kích thích nào đó, có bản chất là một cảm giác khó chịu, đến từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài. Nếu đó là giới hạn mà cá nhân tự đặt ra cho bản thân, kích thích đó có thể là cảm giác khó chịu khi phải thú nhận tội lỗi của mình, khi phải chi tiêu không vượt quá những gì mình làm ra, khi phải vứt bỏ những niềm tin mà lí trí khẳng định là sai lầm, hoặc khi không được những người xung quanh công nhận hoặc bợ đỡ. Nếu đó là giới hạn mà tập thể đặt ra cho cá nhân, kích thích ở đây có thể là cảm giác khó chịu từ đòn roi, từ việc chia tay người yêu, hoặc từ việc tẩy chay và trù dập… Cần lưu ý rằng kích thích là một thành tố sẵn có trong môi trường, và ta buộc phải thừa nhận nó một cách trọn vẹn, để dùng nó làm dữ liệu cho những tính toán của ta. Vì thế, không nên xem một kích thích là đúng hoặc sai, hay hoặc dở, dù đó là kích thích đến từ bên trong môi trường tâm lí của chính mình. Khi phán xét một kích thích, ta sẽ bóp méo dữ liệu đầu vào, và vì thế làm lệch lạc toàn bộ quá trình suy nghĩ. Hay, dở, đúng, sai, chỉ được quyết định qua cách hành xử của ta khi bắt gặp các kích thích. Và bất cứ khi nào ta phản ứng với các cảm giác khó chịu theo kiểu phản xạ có tính bản năng, thay vì quan sát xem mình thật sự muốn gì, các thứ tự ưu tiên của mình là gì, nên chọn những gì làm mục đích, đâu là phương pháp để đạt được những mục đích một cách hiệu quả nhất về lâu về dài, và giới hạn nguồn lực cho từng giai đoạn, thì ta đang hành xử dở, dưới một thái độ sai, vì những giới hạn mà ta đặt ra cho mình cũng chẳng có gì khá hơn những giới hạn đặt ra với con chó Pavlov. Giữa những kích thích có dạng cảm giác khó chịu từ môi trường với lối hành xử dở của ta có một bước trung gian: nỗi sợ.

Về mặt logic, thói quen phản xạ tức thời, theo kiểu bản năng, trước những cảm giác khó chịu từ môi trường, có thể là căn nguyên của mọi suy nhược, hư hỏng nơi con người cá nhân và mọi vấn nạn trong xã hội. Khi cá nhân không biết mình thật sự muốn gì và thứ tự ưu tiên của mình là gì, vì phản ứng với kích thích ngay thay vì dừng lại quan sát, thì hiển nhiên mọi hành động của cá nhân sẽ chỉ dẫn đến một chuỗi cố gắng vô tận, đem lại không gì khác ngoài chuỗi bất mãn vô tận cho bản thân. Cá nhân sẽ bị thao túng bởi lòng tham và nỗi sợ bên trong, cũng như bởi bất cứ ai biết kích thích hai cảm giác này, rồi lợi dụng chúng để thao túng con người. Thao túng những giới hạn mà một người đặt ra cho bản thân là khởi đầu của mọi cách thao túng khác.

Trong tiếng Hy Lạp cổ, tên của titan Ananke có thể được hiểu là “cưỡng ép”, “khó chịu”, hoặc “cần kíp”. Từ này mô tả khá rõ cội nguồn của những giới hạn không hợp lí mà con người đặt ra cho bản thân, và bản chất các chiêu trò lợi dụng những giới hạn đó để thao túng. Chi tiết hơn, trong tiếng Hán, bản thân từ Giới có thể được hiểu là làm trung gian, bứt rứt, lo lắng (介), giá trị (價), than thở (唶), đến lúc (屆), cấm đoán (戒), giới hạn (界), và khớp xương (骱) – nơi diễn ra các chuyển động của một cơ thể. Bất kể những dụng ý ma thuật của kẻ thiết lập ngôn ngữ, lí trí cho biết sẽ không hay nếu chúng ta định giá dựa trên lời than thở, nếu ta coi giới hạn là điểm cấm đoán, nếu ta ra quyết định trong tình trạng bứt rứt, lo lắng, nóng vội, nếu ta không nghĩ bằng bộ não, mà nghĩ bằng đà chuyển động tay chân, và nếu ta giao quyền định đoạt cho kẻ môi giới giữa mình và vấn đề của mình, tức kẻ dùng lòng tham và nỗi sợ để thao túng ta, thay vì tự mình tìm hướng giải quyết.

 

II. Phương thức thao túng cộng đồng bằng cách áp đặt giới hạn của con người

 

1. Năm đặc tính của mô hình ra quyết định dở

Về bản chất, mỗi giới hạn mà bạn tự đặt ra cho bản thân mình là một ranh giới ngăn cách các quyết định của bạn với nhau. Khi bạn chạm đến giới hạn ngăn quyết định A với quyết định B, quyết định B bắt đầu và quyết định A chấm dứt. Nói cách khác, chạm đến giới hạn không có nghĩa là bạn dừng lại, bạn chỉ bước từ quyết định A sang quyết định B. Cũng cần lưu ý rằng các giới hạn mà người khác hoặc ngoại cảnh áp đặt lên bạn là vô nghĩa, trừ phi chính bạn tự coi chúng là giới hạn của bạn.

Như vậy, giới hạn không cố định, nó chỉ là một thành tố trong cơ chế ra quyết định của con người. Thao túng con người bằng cách tác động vào những giới hạn mà họ tự đặt ra cho mình, về bản chất, là thao túng cách thức ra quyết định của họ. Để thực hiện điều đó, kẻ thao túng phải bẫy nạn nhân vào những mô hình ra quyết định dở, với năm đặc điểm sau:

a. Quyết định không được coi là công cụ để đạt được một mục tiêu cụ thể. Thay vào đó, vì chỉ là phản xạ kiểu con chó Pavlov, quyết định bị đánh đồng với mục tiêu. Nói cách khác, bất kể hậu quả của quyết định là gì, thì bản thân quyết định đã được coi là có ý nghĩa, là đáng khen hoặc đáng cảm thông.

b. Cũng vì lí do a, mà trọng quyết định này, hiệu quả sử dụng tài nguyên không cần được tính đến.

c. Cũng vì lí do a và b, mà mọi thành tố quan trọng của quá trình thu thập và xử lí thông tin, như dữ liệu được phân loại, được sắp xếp theo trình tự và các luật logic, đều bị đánh giá thấp, thậm chí bị cho là tầm thường hoặc tội lỗi, và bị bỏ qua.

d. Việc phản ứng tức thời, theo kiểu bản năng, với các kích thích khó chịu từ môi trường bên ngoài hoặc môi trường nội tâm được khuyến khích.

e. Các thói quen vô thức, tức những thói quen mà ta không hiểu vì sao mình có, hậu quả là gì, và hình thành từ những lỗ hổng tâm lí nào của bản thân, được dung dưỡng hoặc đề cao. Trong khi đó, những bộ chuẩn mực và luật lệ có ý thức – mà ta hiểu rõ công dụng của chúng, cái giá của chúng, và việc chúng giúp ta bù đắp những khiếm khuyết tâm lí nào – lại bị bỏ qua hoặc hạ thấp.

 

2. Những ví dụ về các mô hình ra quyết định dở

Nếu các nhà tâm lí học không sai khi cho rằng đa số đời sống của con người vẫn còn là đời sống vô thức, thì trong thực tế, đa số các mô hình ra quyết định mà chúng ta sử dụng hằng ngày là mô hình dở. Bạn không biết chúng dở một phần vì bạn chọn phong cách sống của con chó Pavlov, phần khác, là vì trong mắt bạn, chúng vẫn đang ngụy trang thành những bộ chuẩn mực và luật lệ được chấp nhận bởi số đông. Dưới đây, hãy thử xem xét vài ví dụ, để xem năm đặc điểm của một mô hình ra quyết định dở bộc lộ trong thực tế như thế nào.

 a. Khuôn mẫu giới tính

Ngày nay, hầu hết các nền văn hóa đều chia sẻ một mô hình thịnh hành, trong đó phụ nữ được coi là phái yếu, còn đàn ông được coi là phái mạnh. Người ta chấp nhận quan điểm này một cách vô thức và không thắc mắc, rồi dựa vào nó để ấn định giới hạn cho bản thân. Chẳng hạn, không ít người, ở nhiều nền văn hóa, đang bị ám ảnh về một giới hạn trong khuôn mẫu tình yêu và gia đình, trong đó đàn ông, vì là phái mạnh, phải chu cấp đầy đủ mọi nhu cầu vật chất của vợ con. Quan điểm đàn ông là “người chủ gia đình”, “trụ cột gia đình” hình thành cũng vì lí do đó. Trong khi đó, ở cực đối lập, nhiều phong trào đòi bình đẳng giới đang bị lái hướng thành phong trào giành quyền lãnh đạo cho phụ nữ, xuất phát từ một lập luận đầy ngụy biện, rằng vì phụ nữ là phái yếu, họ chắc chắn phải ít bạo lực, và ít tranh chấp hơn đàn ông. Như vậy, cả phe ủng hộ đàn ông cầm quyền lẫn phe ủng hộ phụ nữ cầm quyền đều hình thành từ cùng một niềm tin, rằng đàn ông thì mạnh, còn phụ nữ thì yếu.

Đây có phải là một hệ giới hạn hợp lí để áp đặt lên nhân loại? Trước hết, cần nhớ rằng về mặt khoa học, quan điểm “đàn ông mạnh, phụ nữ yếu” chỉ có thể được chứng minh là đúng trên phương diện cơ bắp. Quả thực hệ nội tiết tự nhiên của đàn ông cho phép họ phát triển những cơ bắp mạnh hơn phụ nữ. Nhưng sức mạnh của đàn ông chỉ dừng lại ở đây. Ngay trên phương diện thể chất, tuổi thọ của đàn ông đã thấp hơn phụ nữ. Về mặt trí tuệ, chắc chắn phụ nữ mạnh hơn đàn ông trong nhiều lĩnh vực quan trọng, chẳng hạn như điều trị tâm lí và giáo dục trẻ em. Tóm lại, quan điểm “phái mạnh, phái yếu” chỉ đúng nếu ta chứng minh được bằng khoa học rằng sức mạnh cơ bắp tỉ lệ thuận với sức mạnh của mọi cơ quan và chức năng khác trong cơ thể, và cũng tỉ lệ thuận luôn với sức mạnh của cái đầu. Tất nhiên, chỉ thoạt nghe, ta đã thấy chuyện này hoàn toàn vô lí. Vậy mà số đông vẫn chấp nhận hệ giới hạn “phái mạnh, phái yếu” một cách không thắc mắc. Ở đây, trong năm đặc điểm của một mô hình ra quyết định dở, ta đã thấy sự hiện diện của đặc điểm c và e.

Trong thực tế, nam giới và nữ giới có năng lực thông tin khác nhau. Tính nam, theo truyền thống vương quyền của cả phương Đông lẫn phương Tây, được cho là gắn liền với năng lực lí trí và khả năng giữ trọn vẹn các nguyên tắc hành xử đúng đắn của bản thân – như can đảm, lịch thiệp và trượng nghĩa. Trên điểm này, các tiêu chuẩn để xác định giới hạn tinh thần của một anh quân tử Tàu, một hiệp sĩ cuối Trung Cổ và quí ông Anh vốn không khác nhau mấy. Về bản chất, chúng đều đặt nền tảng trên năng lực xử lý thông tin theo các nguyên tắc logic, cả trong công việc lẫn trong đời sống xã hội, và năng lực giữ trọn vẹn các nguyên tắc đó, bất kể các kích thích khó chịu từ môi trường bên ngoài hoặc môi trường nội tâm.

Trong khi đó, tính nữ lại gắn liền với năng lực lưu trữ dữ liệu và trích xuất dữ liệu một cách thông minh, bất kể nguy cơ bóp méo sai lệch từ hệ thống phân tích mà mình hoặc người khác đang dùng. Đây chính là bản chất của cái được gọi là năng lực cảm xúc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng năng lực cảm xúc không hề xuất phát từ sự từ chối bỏ các nguyên tắc thu thập và xử lí thông tin. Ngược lại, thực ra nó bắt nguồn từ việc giữ vững những nguyên tắc tương tác với dữ liệu, bất chấp điều kiện ngoại cảnh. Chẳng hạn, một người mà khi rơi vào tâm trạng bất ổn sẽ tùy tiện xóa bỏ hoặc tô vẽ những kỉ niệm trong kí ức của mình, tức là tùy tiện chỉnh sửa kho dữ liệu khi bắt gặp thông tin kích thích, thì không thể được coi là một người có năng lực cảm xúc cao. Cảm xúc của cô ta là cảm xúc giả, vì được hình thành trên dữ liệu giả, nên phải khẳng định rằng năng lực cảm xúc của cô ta rất thấp. Người có năng lực cảm xúc cao cũng không phải là loại người “chợt vui, chợt buồn”, như thể không có lí trí và không biết đến điều kiện ngoại cảnh. Trong thực tế, một người như thế là một người có triệu chứng của bệnh thần kinh. Cô ta không có cảm xúc: cô ta chỉ là con chó Pavlov đang phản ứng với các kích thích vụn vặt từ môi trường. Tất cả những phản ứng này đều bắt nguồn từ bản năng, chứ không hề dựa trên việc truy xuất một cách thông minh bộ dữ liệu cũ. Nếu gọi những phản ứng vụn vặt kiểu này là cảm xúc, thì phải khẳng định rằng đó là những cảm xúc manh mún, tạm bợ, và rẻ. Chúng dễ dàng đến thì cũng dễ dàng qua. Cảm xúc đáng giá, ngược lại, phải được hình thành dần từ một tiến trình kí ức dài lâu, mà chủ nhân hiểu rõ, tôn trọng, và lưu trữ một cách trung thực. Để những cảm xúc này xuất hiện, còn phải có những điều kiện ngoại cảnh phù hợp. Và một người có năng lực cảm xúc cao, nghĩa là người hiểu lí do và giá trị của cảm xúc, sẽ vừa không gặp khó khăn trong việc thừa nhận cảm xúc thật của mình, vừa không gặp khó khăn trong việc thể hiện và sử dụng cảm xúc đó theo cách đảm bảo lợi ích của các bên.

Trong hệ giới hạn nam – nữ hợp lí nêu trên, nam tính và nữ tính được phân biệt với nhau bằng các năng lực thông tin mà chúng đại diện. Bằng hệ giới hạn đó, ta có thể sử dụng tài nguyên năng lực của từng giới một cách hiệu quả hơn, sao cho đạt được những mục tiêu mà mình đặt ra trong công việc và đời sống. Trái lại, hệ giới hạn “phái mạnh, phái yếu” không hề coi hai phái như hai tài nguyên cần quản trị một cách hiệu quả. Thay vào đó, trong mọi trường hợp áp dụng, việc người nam mạnh, vì vậy gắn liền với sự bao tiêu hoặc bạo lực được xem là lẽ đương nhiên. Khi gặp kích thích khó chịu, chẳng hạn như nữ đòi quà nam, nam – nam gây gổ để thể hiện, hoặc nam cần áp đặt ý kiến trong gia đình, hành động bao tiêu và bạo lực vì thế cùng được xem là hiển nhiên, dù nó có hướng đến một mục tiêu nào hay không, và đâu là hậu quả, chi phí. Ở đây, chúng ta thấy rõ đặc điểm a, b và d trong năm đặc điểm của một mô hình ra quyết định dở.

Thực ra, mô hình “phái mạnh, phái yếu” hoàn toàn phù hợp để áp dụng cho bầy đàn của những động vật có trí tuệ kém phát triển, mà con đực chỉ có công dụng cung cấp sức mạnh cơ bắp, và con cái chỉ có công dụng sinh đẻ. Nhưng khi nó được áp dụng cho xã hội loài người, nơi cơ bắp ít quan trọng hơn, và việc sinh đẻ cũng không quá cần thiết, thì những trục trặc lập tức phát sinh. Dù bạn có nhận thức được hay không, thì hệ giới hạn “phái mạnh, phái yếu” chính là căn nguyên của một lượng lớn các vấn nạn trong xã hội của con người. Ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ kẻ nào mà lí trí bị lãng quên, hệ giới hạn này sẽ gắn nam tính với tính bầy đàn, và với sự đua tranh để trở thành con đầu đàn bằng việc chứng tỏ sức mạnh nổi trội. Đây chính là cơ chế tâm lí ẩn đằng sau tệ ăn nói thô bỉ, rượu chè, nghiện ngập để chứng tỏ nam tính, thói trưởng giả, bạo hành gia đình, cùng nạn hiếp dâm và ấu dâm. Tâm lí này cũng sản sinh những cuộc chiến tranh trả đũa, những cuộc chạy đua vũ trang,  và những phong trào chính trị đặt nền tảng trên cuộc đập phá đầy kích động của đám đông ngu dốt. Trong tất cả những tệ nạn nêu trên, mọi hành động của nam chính đều nhằm mục đích phá hoại khoảng không gian riêng tư cá nhân, để biến các nạn nhân thành một phần của bầy đàn, rồi chứng tỏ rằng mình là con đầu đàn bằng khả năng gây ra nỗi sợ. Các kích thích từ nam chính này, đến lượt nó, sẽ gây khó chịu cho những cá thể người xung quanh. Nếu họ dùng lí trí để ra quyết định trước các kích thích khó chịu này, thì bầy đàn không thể lây lan, và mọi cố gắng thể hiện của con đực kia sẽ trở nên công cốc. Nhưng nếu những người xung quanh phản ứng lại các kích thích theo bản năng, thì bầy đàn sẽ hình thành, và chuỗi bạo lực, sợ hãi sẽ lan rộng. Sự hình thành của bầy đàn cũng tạo điều kiện để trò chơi của con cái bắt đầu, với việc vừa đóng vai mục tiêu cần tranh giành, vừa đóng vai bên yếu thế, cần được giúp đỡ. Kết quả: lối sống kí sinh, chủ nghĩa tiêu thụ. Trong trường hợp này, chỉ riêng hệ giới hạn lệch lạc về giới tính cũng đã dung dưỡng đủ kiểu thao túng nguy hiểm – từ những cô đào mỏ, những ông bố bạo lực và trưởng giả xóm, cho đến những trùm tư bản, trùm truyền thông, trùm tình báo, những nhà độc tài quân sự, và những nhà cách mạng mị dân.

Vì vậy, khi ai đó nói với bạn rằng đàn ông thì phải thế này và phụ nữ thì phải thế kia, mà không giải thích làm thế thì bạn có lợi lộc gì, hãy nhớ rằng họ đang muốn bạn tự áp đặt một giới hạn cho bản thân, để bạn làm lợi cho một kẻ thao túng.

 b. Thể chế chính trị

Thể chế chính trị là một cách đặc biệt hiệu quả để áp đặt các giới hạn lên con người. Lí do: nó cho phép ta trực tiếp áp đặt một hệ thống chuẩn mực và luật lệ lên mọi cá nhân trong xã hội. Ở trên, tôi đã phân tích rằng hệ thống chuẩn mực và luật lệ là phòng tuyến duy nhất giúp chúng ta không bị kẻ áp đặt giới hạn thao túng. Vì vậy, nếu kẻ thao túng áp đặt được hệ thống chuẩn mực và luật lệ cho toàn xã hội, thì bạn chắc chắn bị thao túng, trừ phi bạn có đủ năng lực để tự viết một hệ thống mới cho chính bản thân.

Ở đây, chỉ xin lấy ví dụ về một thể chế, mà ít nhiều đại diện cho tính chất của “phái mạnh” trong hệ quan điểm lệch lạc về giới tính. Đó là thể chế độc quyền (Plutocracy).

Trong thể chế độc quyền, quyền lực nằm gọn trong tay các nhóm lợi ích nắm độc quyền khai thác các tài nguyên. Chừng nào tài nguyên còn nằm trong tay một nhà độc quyền, thì dù quốc gia có nền dân chủ, pháp quyền và truyền thông tư nhân hay không, nhóm lợi ích vẫn cầm quyền, vì tất cả những định chế nêu trên đều dễ dàng bị tiền thao túng. Thể chế độc quyền vận hành dựa trên tinh thần “phái mạnh”, Theo đó, toàn xã hội được xem như một bầy đàn lớn, nơi không ai được đảm bảo một khoảng không gian riêng tư tối thiểu – chẳng hạn như quyền tự do tư tưởng – vì ngay cả thông tin trong toàn xã hội cũng đã trở thành một tài nguyên bị nhà độc quyền nắm trong tay. Trong trật tự này, toàn xã hội, hoặc toàn bộ lĩnh vực mà sự độc quyền chi phối, trở thành mục tiêu trong cuộc chiến giành giật của những con đầu đàn. Trong trò chơi độc quyền, mạnh được yếu thua, các phe đều dùng nỗi sợ để kiểm soát mọi người, và mọi chuẩn mực, luật lệ đều chỉ là lớp vỏ giả trang vô nghĩa.

Vấn đề chính của thể chế độc quyền là gì? Là khi toàn bộ tài nguyên đều thuộc sở hữu của một nhà độc quyền, thì việc đặt ra những giới hạn duy lí cho mỗi người, sao cho tài nguyên được sử dụng theo cách hiệu quả tối đa, đương nhiên là không cần thiết. Cả nhà độc quyền lẫn kẻ tay không sẽ đều nghĩ như vậy. Chẳng hạn, ở nơi mà một tập đoàn nắm độc quyền sản xuất và phân phối sữa, dù chất lượng sữa có tệ đến mấy, người tiêu dùng cũng sẵn sàng nới rộng giới hạn chịu đựng của bản thân. Đó là điều đương nhiên, khi họ không còn sự lựa chọn khác nào. Vì người tiêu dùng không than phiền, nhà độc quyền cũng sẽ mạnh tay nới lỏng giới hạn về yêu cầu chất lượng sản phẩm với nhân công, và giới hạn về giá bán. Ông ta không còn quan tâm đến những giới hạn này, cái ám ảnh ông ta là giới hạn mà một đối thủ cạnh tranh tiềm tàng – như một hợp tác xã nuôi bò hoặc một tập đoàn ngoại nguốc – có thể vượt qua, rồi từ đó hiện diện trên thị trên thị trường để trở thành một mối đe dọa. Và vì cả người tiêu dùng lẫn nhà độc quyền đều lựa chọn như thế, công nhân sẽ sẵn sàng vượt qua mọi giới hạn của luật an toàn thực phẩm, vì họ thấy họ có làm ẩu hoặc đánh tráo nguyên liệu chế biến sữa cũng không sao. Trước tình hình đó, cả báo chí, tòa án lẫn chính quyền địa phương đều nới lỏng giới hạn với việc nhận tiền đút lót của tập đoàn sữa, vì họ thấy có kiện tụng cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì, và nếu ủng hộ bên đâm đơn kiện, họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị trả thù. Như vậy, chỉ sự độc quyền trên thị trường sữa thôi cũng đã khiến cả người tiêu dùng, nhà độc quyền, công nhân, báo chí, tòa án và chính quyền địa phương đồng lòng nới lỏng các giới hạn lí tính. Giới hạn ở đây bao gồm cả các nguyên tắc đạo đức cá nhân lẫn các nguyên tắc pháp luật. Và vì trong số này, có bốn đối tượng mà tầm ảnh hưởng bao trọn toàn bộ xã hội, là người tiêu dùng, chính quyền, tòa án và báo chí, đương nhiên hệ thống các nguyên tắc đạo đức và pháp luật của toàn xã hội cũng bị ảnh hưởng theo. Mà có vô số kẻ trục lợi, thuộc mọi phương thức khác, có thể kiếm chác từ mỗi lần nới lỏng giới hạn này.

 c. Những khuôn mẫu về mối quan hệ

Trong hai ví dụ trước, ta đã tìm hiểu những giới hạn bất hợp lí mà một cộng đồng, hoặc một thể chế có thể áp đặt lên một cá nhân. Sẽ rất thiếu sót, nếu chúng ta bỏ quên những giới hạn mà các cá nhân có thể áp đặt lên nhau khi cùng tham gia một mối quan hệ.

Trong phần trước, khi phân tích phương thức thao túng cộng đồng bằng danh nghĩa “phục vụ cộng đồng”, tôi đã mô tả các mối quan hệ – dù giữa hai cá nhân với nhau, hai cộng đồng với nhau, hay giữa cá nhân với cộng đồng – như những hợp đồng lợi ích vật chất và tình cảm. Khi hợp đồng sòng phẳng và minh bạch, mối quan hệ có tính lành mạnh, và bạn khó bị trục lợi, dù là bởi người còn lại trong mối quan hệ hay bởi những bên trung gian. Nhưng khi hợp đồng không sòng phẳng và không minh bạch, nguy cơ bị trục lợi sẽ luôn chờ sẵn.

Nếu mọi mối quan hệ có bản chất là một hợp đồng lợi ích vật chất và tình cảm, thì đương nhiên mối quan hệ chỉ là công cụ để ta đạt được những mục tiêu mà ta kì vọng. Khi tham gia một mối quan hệ, trong thâm tâm bạn mong rằng nó sẽ đem lại cho mình một lợi ích nào đó, dù là về tình cảm hay vật chất, chứ bạn không muốn về tay không. Nếu hiểu mình thật sự muốn gì từ một mối quan hệ, ta sẽ biết đâu là giới hạn cần thiết, mà khi chạm ngưỡng đó, ta phải chỉnh sửa hoặc chấm dứt hợp đồng. Nhờ đó, mối quan hệ sẽ thường xuyên được điều chỉnh kịp thời, sao cho thỏa mãn được mong muốn của các bên liên quan, trước khi những trục trặc nhỏ ban đầu tích tụ đủ lâu để làm nảy sinh một cơn khủng hoảng đáng tiếc.

Tuy nhiên, để có thái độ rõ ràng và minh bạch này, ta phải trung thực thừa nhận những dục vọng và hạn chế của mình, đồng thời thừa nhận một nguy cơ, rằng việc thực hiện hợp đồng có thể không như mình kì vọng. Trong khi đó, đa số mọi người lại thích lừa người khác và tự lừa bản thân hơn. Chúng ta muốn trong mắt mình và trong mắt người khác, mình để lại ấn tượng tốt đẹp và sạch sẽ hơn bản chất của mình. Chúng ta muốn có hi vọng, trong khi nếu mọi hợp đồng quan hệ đều được thanh toán một cách sòng phẳng bởi cả hai bên, thì sẽ chẳng có gì để hi vọng, cho đến khi ta đặt ra vấn đề chấm dứt, chỉnh sửa hoặc gia hạn cái hợp đồng đó. Vì mức can đảm rất giới hạn này, một sự dối trá tập thể đã hình thành, và xã hội không đánh giá cao thái độ rõ ràng, minh bạch trong các mối quan hệ. Ai giữ thái độ rõ ràng, minh bạch và lí tính, người đó thường bị xem là thất đức, thiếu lí tưởng, thiếu chân thành, thậm chí bất nghĩa, bất nhân. Không đáng ngạc nhiên: khi mọi người đều có nhu cầu trục lợi, thì sẽ hình thành những tiêu chuẩn xã hội hỗ trợ sự trục lợi.

Hãy xem xét những hình mẫu mối quan hệ được xem là lí tưởng trong cuộc sống, văn chương và sản phẩm giải trí. Trong tuyệt đại đa số, chúng là những mối quan hệ không có bất cứ giới hạn nào về nguồn lực con người, thời gian và không gian. Chẳng hạn, người yêu lí tưởng được cho là người yêu gắn bó vĩnh cửu, xuất hiện bất cứ lúc nào mình cần, sẵn sàng làm mọi thứ vì mình. Người lãnh đạo lí tưởng là người dành trọn đời vì nước vì dân, không có một tế bào nào trên người dám dừng lại một giây để nghĩ về tư lợi. Lòng yêu nước lí tưởng là sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì dân tộc, dù bản thân mình không biết dân tộc là gì, nó đem lại cho mình cái gì và nó ở đâu ra. Xã hội lí tưởng là xã hội mà mọi người tuyệt đối tốt với nhau, sẵn sàng cho nhau tất cả mà không đòi lại. (Nhưng tiếc thay, vì mọi người thực ra không thích nhau lắm, nên kết cục là mọi người phải cho xã hội tất cả, trong lúc rặn ra nụ cười để chứng minh rằng mình là người tốt.)

Trong tất cả những hợp đồng quan hệ nêu trên, mối quan hệ đều không được coi là công cụ để giúp những người tham gia đạt được một mục đích nào đó. Thay vào đó, bản thân mối quan hệ được xem như mục đích cần đạt được, bất kể khó khăn. Đây chính là lí do khiến người ta tốn rất nhiều thời gian duy trì, níu kéo một mối quan hệ cá nhân, hoặc đổ công sức để chứng tỏ sự gắn bó của mình với một tập thể, mà không chịu nghĩ xem lợi ích thu lại là gì. Trong thâm tâm, họ hiển nhiên kì vọng rằng mình sẽ thu được lợi ích. Tuy nhiên, mong muốn này lại bị che lấp bởi một mong muốn khác: muốn mình được thừa nhận là người hết lòng hết dạ. Nhưng vấn đề là dù họ có thu được lợi ích hay không, và có hết lòng hết dạ hay không, thì chính sự bất cân bằng thu-chi, cùng tinh thần thiếu sòng phẳng và thiếu minh bạch mà họ dung dưỡng trong mối quan hệ, trong bản thân mình và trong đối tác của mình, tự nó cũng đã trở thành mầm bệnh dần làm hỏng mối quan hệ.

Nhưng vì sao trong các mối quan hệ kiểu này, người ta lại cần được thừa nhận rằng mình là người hết lòng hết dạ? Không hết lòng hết dạ mà vẫn đạt được mục đích thì có sao đâu? Chẳng phải như thế thì càng lời?

Người ta chỉ coi một mối quan hệ là mục đích, thay vì công cụ, và cố chứng tỏ mình hết lòng hết dạ với mối quan hệ đó, khi hội đủ hai điều kiện sau:

_ Họ tin rằng lợi ích từ mối quan hệ đó là nguồn lợi tối quan trọng trong đời mình

_ Họ tin rằng mối quan hệ đó là không thể thay thế

_ Họ tin rằng mình không đủ tài nguyên để chi trả cho hợp đồng quan hệ, vì thế phải cố chứng tỏ rằng mình đã “hết lòng hết dạ”, để mồi chài đối tác rủ lòng thương.

Về bản chất, họ cũng bị rơi vào một thế độc quyền: độc quyền về mối quan hệ. Theo đó, đối tác của họ trong mối quan hệ được coi là duy nhất, không thể thay thế bởi bất cứ ai. Họ nhìn đối tác như một tài nguyên cực khan hiếm, nhưng lại có tầm quan trọng sống còn với mình. Chính vì tình trạng khan hiếm này, họ luôn cảm thấy mình không đủ nguồn lực để chi trả cho mối quan hệ, vì tài nguyên bị độc quyền có thể tăng giá tùy tiện bất kể người tiêu dùng có muốn hay không, và dù sự tăng giá này vi phạm hợp đồng đã kí kết. Thêm vào đó, thế độc quyền và tình trạng khan hiếm cũng khiến họ luôn cảm thấy mình bị đe dọa từ các đối thủ cạnh tranh, nhiều lần hơn mình về khả năng chi trả. Đó là lí do khiến tất cả các giới hạn lí tính bị bỏ qua, nạn nhân phản ứng một cách hoảng loạn trước mọi kích thích nhất thời của môi trường, và giao các giới hạn của bản thân cho nhà độc quyền tùy tiện thao túng.

Như vậy, titan giới hạn Ananke cũng đồng thời là titan thao túng sự độc quyền, với năng lực tạo ra tình trạng khan hiếm giả tạo.

 

3. Chiến lược và chiến thuật thao túng

a. Về mặt chiến lược:

Kẻ thao túng cần tạo một tình huống, trong đó các bên tham gia mối quan hệ phải cùng vứt bỏ lí tính trong việc xác định giới hạn cho người khác và cho bản thân. Nói cách khác, không gian riêng tư, nơi mỗi cá nhân có một khoảng tuyệt đối bí mật và an toàn, phải được phá bỏ.

Để phá bỏ không gian riêng tư trong một cộng đồng nhiều người, có hai cách.

_ Cách thứ nhất là thiết lập một tình trạng độc quyền nào đó, để buộc tất cả mọi người phải bu vào một người, hoặc khiến một người tin rằng mình xứng đáng được tất cả mọi người bu vào cưng nựng.

_ Cách thứ hai là tận dụng đặc tính bầy đàn của đám đông.

Cần lưu ý rằng về lâu về dài, đám đông chắc chắn dẫn đến kết quả độc quyền, vì khi chưa có khoảng không gian cá nhân được đảm bảo, không ai cảm thấy an toàn cho tới khi chiếm được hết tài nguyên. Và trong mọi thời điểm, độc quyền luôn đi kèm đám đông, vì độc quyền khiến lí trí trở nên vô dụng khi mọi chuẩn mực, luật lệ đều vô nghĩa.

Đối với cá nhân, có một cách, là trở thành một người đặc biệt thân thiết, tới mức không thể thay thế trong mắt nạn nhân cần thao túng. Đây rốt cuộc cũng là một dạng độc quyền: độc quyền mối quan hệ.

b. Về mặt chiến thuật:

Để buộc một cá nhân tự từ bỏ giới hạn lí tính quen thuộc với mình, phải hoặc khiến lí trí của người đó yếu đi, hoặc khiến người đó, bằng lí trí, nhất thời tin rằng mình không có lựa chọn nào khác. Có ba cách để đạt được những kết quả như vậy.

_ Thứ nhất, là áp đặt các hệ chuẩn mực và luật lệ rởm, trong đó các quyết định dựa trên lí trí bị phê bình nhân danh đạo đức, lí tưởng hoặc các xu hướng thời thượng đang lên.

_ Thứ hai, là xóa mờ năng lực lí trí của nạn nhân bằng cách thiết lập một số yếu tố môi trường, chẳng hạn các tiếp xúc da thịt, tiếng ồn của đám đông, tiếng nhạc vũ trường, hoặc chất kích thích…

_ Thứ ba, là tạo ra cảm giác nhất thời, rằng nạn nhân không có quyền lựa chọn. Chẳng hạn, gây hoảng loạn bằng tin đồn, bằng vũ lực, bằng tình trạng khan hiếm, độc quyền các tài nguyên, kể cả tài nguyên con người (tư thế VIP) hoặc tài nguyên thời gian (tình trạng gấp rút), hoặc bằng mối quan hệ được cho là không thể thay thế đối với nạn nhân.

 

III. Cách nhận diện người bị thao túng bằng trò chơi áp đặt giới hạn

 

1. Chỉ dựa vào những phân tích trên, bạn cũng đã có khá đủ căn cứ để nhận diện nạn nhân và thủ phạm trong trò chơi áp đặt giới hạn để thao túng. Nhưng nếu còn chưa hoàn toàn chắc chắn, thì bạn có thể nhận diện nạn nhân dựa trên những đặc điểm sau:

_ Thiếu một khoảng không gian và thời gian cá nhân, mà ở đó họ cảm thấy được an toàn, riêng tư và thoải mái.

_ Coi một mối quan hệ, dù là giữa họ với một cá nhân hay với một tập thể, như là mục đích cần đạt được, thay vì một công cụ, có thể có tính giai đoạn, để đạt được một số lợi ích mà mình muốn.

_ Thích được nhiều người xúm vào phục vụ, cưng nựng, tôn thờ, hoặc thích phục vụ, tôn thờ một tập thể hoặc cá nhân.

_ Thường xuyên ra quyết định bằng cách phản ứng vội vàng, theo kiểu bản năng với các kích thích nhất thời từ môi trường, thay vì ra quyết định dựa trên các hệ chuẩn mực và luật lệ, dù là của riêng mình.

_ Khi làm việc, chỉ tìm cách trốn tránh những cảm giác khó chịu nhất thời mà mình có thể rơi vào, thay vì suy nghĩ, cải tiến phương pháp, để tìm cách sử dụng tài nguyên theo cách hiệu quả nhất nhằm làm lợi cho mình và các bên liên quan.

_ Tin rằng mình không có lựa chọn nào khác.

 

2. Thực ra trong trò chơi áp đặt giới hạn, các nạn nhân bị thao túng bằng tâm lí bỏ cuộc, chấp nhận bám víu và lệ thuộc, vì lười nhác hoặc hèn nhát. Từ tâm lí bỏ cuộc đó, có thể phát sinh các não trạng sau:

_ Bừa, ẩu, dễ dãi, ham lợi nhỏ. Vì thế sẵn sàng vứt bỏ hệ chuẩn mực, luật lệ, nguyên tắc của tập thể hoặc của chính bản thân, chỉ để lảng tránh những cảm giác khó chịu nhất thời hoặc để trục lợi.

_ Không đủ tỉnh táo để nhận ra rằng lối phản ứng vội vàng, hoảng loạn trước mọi kích thích của mình xuất phát từ một tình trạng khan hiếm tài nguyên, và đó có thể là một tình trạng khan hiếm giả, do các bên hưởng lợi từ sự độc quyền bắt tay dàn dựng để thao túng.

_ Tự vứt bỏ ý chí và óc sáng tạo, để chấp nhận giới hạn mà người khác áp đặt cho mình như một điều hiển nhiên. Trong khi đó, nếu lấy lại ý chí và sự tập trung, người đó có thể tìm ra cách vượt qua giới hạn để đạt được thứ mình cần, hoặc tìm ra cách xóa bỏ những giới hạn được áp đặt một cách vô lí.

Vì tâm lí bỏ cuộc này, thay vì tĩnh lại, dành thì giờ định hướng để tìm cách bơi vào bờ, nạn nhân tiếp tục cố bám víu và lệ thuộc vào cái phao cứu sinh mà kẻ thao túng vứt cho, để rồi vĩnh viễn quẫy đạp không ngừng chỉ để giữ cái phao đứng yên trước các đợt sóng. Càng nhiều người cùng bám vào một cái phao, sóng đánh càng hỗn loạn, cái phao càng dập dềnh, và vì thế người ta càng đạp mạnh hơn vì sợ. Nhưng nếu không ai quẫy đạp nữa, để biển và người tĩnh đi, cái phao sẽ nhanh chóng trở nên vô dụng, tầm thường và bị vứt bỏ.

Cũng như vậy, chữ “Giới” (khớp xương) chỉ tồn tại khi sự chuyển động vẫn còn, để các lóng xương còn có lí do để bám vào nó. Mặt khác, chừng nào các lóng xương còn bám vào “Giới”, mọi cử động của cơ bắp đều sẽ khiến cử động diễn ra. Bản thân “Giới” là một sự chuyển động để bám víu và một sự bám víu vào chuyển động, cả hai diễn ra đồng thời. Nếu chuyển động ngừng, “Giới” trở thành vô dụng và vô nghĩa.

 

IV. Cách nhận diện kẻ thao túng bằng trò chơi áp đặt giới hạn

 

1. Khoanh vùng để giới hạn phạm vi tìm kiếm đối tượng

Khoanh vùng dần, bằng cách tiến hành các bước sau:

_ Xác định những biểu hiện bề mặt của trò chơi giới hạn: nạn nhân điển hình bao gồm những người cụ thể nào, và giới hạn mà họ bị áp đặt là gì.

_ Khoanh vùng các cá nhân và tập thể trực tiếp truyền đạt giới hạn này cho nạn nhân, đồng thời kiểm tra và chế tài để đảm bảo nạn nhân không vượt qua giới hạn.

_ Khoanh vùng các cá nhân và tập thể hưởng lợi từ việc áp đặt giới hạn đó.

_ Xác định những động lực lợi ích, về cả vật chất lẫn tình cảm, khiến họ chấp nhận giới hạn đó.

_ Xác định dạng các não trạng của tâm lí bỏ cuộc mà từng nạn nhân đã rơi vào.

_ Xác định những gói thông tin (người, văn hóa phẩm, định chế, thói quen sống…) đã khiến nạn nhân bị tiêm nhiễm các não trạng đó, và khoanh vùng các cá nhân, tập thể từng thúc đẩy họ tiếp xúc với những gói thông tin đó.

_ Xác định tình trạng khan hiếm tài nguyên, nếu có, và khoanh vùng những bên liên quan có thể tạo ra tình trạng khan hiếm này.

_ Khoanh vùng những cá nhân và tập thể hưởng lợi từ tình trạng khan hiếm đó.

Tổng hợp các đối tượng đã khoanh vùng trong toàn bộ các bước trên, rồi thử vẽ một sơ đồ quan hệ có thể có giữa các đối tượng. Sau đó, dựa trên mối quan hệ của từng đối tượng với các nạn nhân, gạn lọc dần để chọn ra những nhân vật có khả năng cầm đầu hệ thống nhất.

 

2. Áp dụng phương pháp thử với các gương mặt tình nghi còn sót lại

Nếu ta thử không chấp nhận giới hạn, hoặc thử đặt câu hỏi về những giới hạn đã được chấp nhận bởi số đông, những kẻ chủ mưu sẽ không lộ diện, mà bí mật xử ta bằng chính những nạn nhân đã bị chúng kiểm soát. Vì vậy, thay vào đó, có thể thử bằng những cách sau:

_ Thử chấp nhận trò chơi giới hạn và lối chuyển động của khớp xương, xem sau đó có những kích thích nào được gửi đến mình, rồi lần theo để truy tìm nguồn của các kích thích.

_ Thử bày ra một trò vui vô thưởng vô phạt, để khiến một lượng lớn các nạn nhân vừa giải tỏa được sự khó chịu từ các kích thích, vừa xao nhãng khỏi việc chuyển động cùng “khớp xương”. Sau đó, quan sát xem có những lực lượng nào giãy nảy lên vì chuyện vô thưởng vô phạt này.

 

V. Cách hạ bệ kẻ thao túng cộng đồng bằng trò chơi áp đặt giới hạn

Tiến hành tuần tự các bước sau:

 

1. Xác định một trật tự thông tin chuẩn mực, không dung dưỡng kẻ áp đặt giới hạn để thao túng con người

Từ nền tảng vững chắc là là trật tự thông tin này, ta sẽ phát triển nội dung của tất cả các đòn truyền thông mà ta dùng trong chiến dịch hạ bệ kẻ thao túng. Chiến dịch cũng là phương tiện để ta từng bước thiết lập trật tự thông tin chuẩn mực trong cộng đồng, cho tới khi nó thay thế hoàn toàn trật tự thông tin cũ, là thứ dung dưỡng các thủ đoạn trục lợi bằng trò chơi giới hạn.

Trật tự cần thiết lập được truyền đạt bằng những nội dung sau:

_ Những gói thông tin truyền bá chủ nghĩa hoài nghi, gây mất niềm tin, đảo lộn hệ giá trị, đẩy mọi người vào thế phải tự mindfuck. Ai tiếp cận những gói thông tin này, người đó buộc phải tự đặt câu hỏi về ý nghĩa, công dụng thực tế và giới hạn của mọi hệ thống giá trị, luật lệ, nguyên tắc và nguồn lợi mà số đông thường tôn thờ.

Chỉ khi đã tự chất vấn bản thân về lợi ích và nguy cơ từ những bộ công cụ đang cám dỗ mình, người ta mới trở thành một người sử dụng công cụ khôn ngoan, thay vì trở thanh công cụ của các công cụ.

Ví dụ: trong văn chương, có thể tìm đọc “Walden – Một mình sống trong rừng” của Henry David Thoreau, các truyện ngắn của Oscar Wilde, Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung, “Bên Kia Cánh Cửa” của Hà Thủy Nguyên. Trong triết học, có thể tìm đọc “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử, “Kẻ phản Kitô”, “Zarathustra đã nói như thế” hoặc “Hoàng hôn của các thần tượng” của Nietzsche. Trong điện ảnh, có thể xem “Matrix”, “Fight Club”, “Watchmen”…

_ Những gói thông tin lưu giữ và bảo vệ các hệ chuẩn mực và luật lệ, để áp dụng cho các mối quan hệ, các giai tầng và các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, từ nhiều giai đoạn lịch sử, vùng địa lí và nền văn hóa. Trong số đó, có cả những gói thông tin thiết lập khoảng không gian và thời gian riêng tư tối thiểu phải có cho các cá nhân.

Ví dụ: hệ thống giám sát năng suất, hệ thống kiểm tra chất lượng sản phẩm, luật lao động qui định ngày làm 8 tiếng, nghỉ thứ bảy Chủ nhật, luật Hôn nhân & Gia đình…

_ Những hệ thống lưu giữ trung thực kí ức của cá nhân và tập thể, chẳng hạn như nhật kí và lịch sử. Thông tin lưu trữ trong những hệ thống này sẽ chỉ cho ta thấy việc hấp tấp phản ứng theo kiểu bản năng trước các kích thích từ môi trường, thay vì bình tĩnh phân tích tình huống bằng lí trí, rồi phối hợp với các hệ chuẩn mực và luật lệ để ra quyết định, là một lựa chọn rất ngu.

_ Hệ thống thống kê, giúp ta theo dõi môi trường bằng một cái nhìn vừa định lượng, vừa có tính tiến trình, vừa bao quát. Khi đã theo dõi môi trường theo cách này, ta sẽ không dễ dàng bị dắt mũi bằng các kích thích nhất thời từ môi trường.

Ví dụ: riêng một con số thống kê về chi phí quảng cáo cho mỗi đầu sản phẩm trên thị trường thôi cũng có thể khiến nhiều người tiêu dùng thay đổi thói quen mua sắm.

_ Khả năng truy cập thông tin từ những môi trường khác, bên ngoài khu vực mà trò chơi giới hạn có hiệu lực. Khi có giao lưu thông tin với bên ngoài, tất sẽ có trao đổi tài nguyên với bên ngoài, nhờ đó thế độc quyền cũ bị phá vỡ.

Ví dụ: Internet xuất hiện, phá vỡ thế độc quyền của báo chí chính thống Việt Nam, từ đó phá vỡ thế độc quyền về tiếng nói chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên, nếu không có những thành tố khác trong trật tự thông tin chuẩn mực, như liệt kê bên trên, bản thân những cánh cổng nối ra bên ngoài rồi cũng sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn của đám đông, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những kẻ thao túng và trục lợi mới.

 

2. Chuẩn bị một lựa chọn khác để phá vỡ thế độc quyền tài nguyên (nếu có)

Chẳng hạn, nếu muốn đánh bại một trang review nhà hàng bằng lượng vote của người sử dụng, mà giờ đây đang độc quyền chiếm sới phê bình ẩm thực và định hình xu hướng ẩm thực trên mạng nhờ sự dễ dãi của nó, bạn cần chuẩn bị sẵn một hệ thống phê bình khá hơn. Tất nhiên, “lựa chọn khác” để phá vỡ thế độc quyền phải được xây dựng dựa trên trật tự thông tin chuẩn mực, mà bạn định sẵn trong khâu trước. Nó cũng phải được giữ cho an toàn, không chết yểu, cho tới khi bạn dùng đến trong các khâu sắp tới.

Trong trường hợp những lựa chọn khác đã có sẵn trong môi trường, và chỉ bị kẻ thao túng làm cho không phát huy được năng lực, bạn có thể cộng tác với họ để đỡ tốn sức cho khâu này. Nhưng nếu họ từ chối tuân thủ trật tự thông tin chuẩn mực, hãy chia tay ngay, đừng cố níu kéo. Những người không sẵn sàng hi sinh vì hệ chuẩn mực, nguyên tắc khi gặp hoàn cảnh khó khăn cũng chính là những người sẵn sàng phá vỡ nó khi có điều kiện trục lợi.

 

 3. Gây các kích thích khó chịu, buộc kẻ thao túng phải tự lộ mặt

Bày ra một hoạt động giải trí vừa chính đáng và trong giới hạn cho phép, vừa vô thưởng vô phạt, và kéo một lượng lớn các nạn nhân tham gia vào đó. Nhờ hoạt động giải trí vừa hình thành, các nạn nhân sẽ phần nào giải tỏa được sự khó chịu từ các kích thích, và có thời gian thư giãn để tĩnh lại, nhờ đó ít bị trò chơi giới hạn kiểm soát hơn. Thêm vào đó, cuộc vui sẽ khiến họ xao nhãng khỏi kẻ thao túng, và đồng loạt bu vào một tụ điểm khác, khiến kẻ thao túng bực mình. Khi kẻ thao túng can thiệp một cách vô lí để đòi chấm dứt cuộc vui, ta đóng vai người bị hại và người nhường nhịn, ngoan ngoãn tạm chấm dứt hoạt động giải trí và mời nạn nhân ra về, nhưng theo cách khiến cho nạn nhân cảm thấy tiếc nuối nhất. Một thời gian sau, tiếp tục kéo nạn nhân vào những hoạt động giải trí khác, hình thức ngày một đa dạng hơn. Tiếp tục làm như vậy, cho đến khi sự can thiệp vô lí của kẻ trục lợi lặp đi lặp lại đủ nhiều, và sự trao đổi qua lại giữa những nạn nhân cùng tham gia cuộc vui cũng đủ nhiều, tới mức họ cùng nhau cảm thấy khó chịu với kẻ trục lợi kia, và mang máng nhận ra mình đang bị thao túng.

Trong trường hợp sự thao túng không quá chặt chẽ, cũng có thể thay hoạt động giải trí này bằng một việc lao động chuyên môn, mà trong đó trật tự thông tin chuẩn mực được áp dụng và lợi ích thu được rất rõ rệt.

Ngoài ra, nếu kẻ thao túng không quá mạnh, và cũng chưa thể kiểm soát hoàn toàn tâm trí của các nạn nhân, có thể bỏ qua khâu này, để bắt đầu luôn khâu kế tiếp.

 

 4. Dùng đòn truyền thông để lật tẩy thủ đoạn thao túng

Nội dung của toàn bộ các đòn truyền thông được sử dụng trong khâu này đều phải được xây dựng dựa trên trật tự thông tin chuẩn mực đã định.

Ban đầu, nên ưu tiên các nội dung có tính hài hước. Mọi gói thông tin kiểm soát tâm trí đều tồn tại bằng cách cấu trúc một phần năng lượng của chúng ta theo nó, để duy trì nó trong bộ nhớ của chúng ta và chi phối suy nghĩ của chúng ta. Khi ta lố bịch hóa một gói thông tin, trong mắt chúng ta, nó trở thành một sự tồn tại vô lí và một khoản đầu tư lãng phí. Vì thế, phần năng lượng bị cấu trúc kia không còn chấp nhận lực nén nữa, nó từ chối cấu trúc cũ và bật ra thành tiếng cười. Cảm giác thoải mái từ tiếng cười sinh ra do dòng thông tin được khai thông, và năng lượng được giải phóng khỏi lực nén.

Vì vậy, khi đối phó với một phương thức thao túng dựa trên sức ép từ những cảm giác khó chịu, nên dùng sự hài hước làm viên đạn đầu tiên.

 

 5. Tạo ra các kích thích khó chịu, bẫy kẻ thao túng vào trò chơi phao cứu sinh, để buộc hắn phải đổi từng nạn nhân lấy các quyền lợi ngắn hạn

Mọi kẻ thao túng cộng đồng bằng cách làm mục nát các nguyên tắc lí tính của cộng đồng, từ trong bản chất, đều là một kẻ vô nguyên tắc. Hắn là một phần của trò chơi phao cứu sinh, nên mang nặng tâm thế hời hợt, hám lợi ngắn hạn, dễ bị kích động của trò chơi phao cứu sinh. Vì trò chơi này là một sự chuyển động để bám víu và một sự bám víu vào chuyển động, cả hai diễn ra đồng thời, nếu chúng ta cố chuyển động ngược chiều để dừng nó lại, có khi chúng ta càng khiến chuyển động của nó nhanh hơn. Chẳng hạn, ở Mỹ, Bộ Nông nghiệp Mỹ độc quyền kiểm soát cả việc cấp phép cho thực phẩm biến đổi gene lẫn việc dán nhãn không biến đổi gene, nên phong trào chống thực phẩm biến đổi gene càng cực đoan thì nhóm lợi ích đứng đằng sau cơ quan này càng có lợi. Còn nếu chúng ta nên mượn lực của trò chơi để cướp dần nguồn động năng, sẽ đến lúc cái khớp xương cũ trở nên vô dụng, khi mọi cơ bắp đều đã ngừng bám vào nó.

Để cướp dần nguồn động năng, cần tạo ra những tình huống buộc đối phương phải chọn lựa giữa việc phản bội nạn nhân này và giữ chặt lấy nạn nhân kia. Ngay khi một nạn nhân vừa được nhả ra, phải đưa anh ta vào những “lựa chọn khác” mà bạn đã chuẩn bị sẵn. Khi những “lựa chọn khác” lớn dần, các nạn nhân còn lại sẽ nhận ra rằng thế độc quyền tài nguyên đã bị phá vỡ, và đồng loạt rời bỏ kẻ trục lợi.

 

6. Thiết lập trật tự thông tin chuẩn mực trong cộng đồng một cách vững chắc

Trong khâu này, ngoài những việc hiển nhiên phải làm để thiết lập trật tự kia, nhớ ghi chép lại cẩn thận mọi thông tin xoay quanh cuộc hạ bệ vừa rồi, qua góc nhìn của nhiều phía.

*

Tiểu luận này được phát triển từ giáo trình
một khóa học cũ của Book Hunter.

Mời các bạn tìm các khóa học sắp tới tại ĐÂY.

Share
Share: