Hiểu thực tạiTôi chiêm nghiệm

Ghi chép nhanh: Về những phù thủy ngôn từ đang thao túng cộng đồng

Magneto

(trích bản nháp giáo trình Đối mặt với bóng tối)


 

 I. Bản chất của phù thủy ngôn từ

 

1. Thao túng ngôn từ là thao túng khoảng cách giữa ngôn từ và thực tế

Trong mọi nền văn hóa, mọi bộ phim hay tập truyện, dường như các phù thủy – kẻ thao túng tâm trí – luôn dành một mối quan tâm lớn cho vấn đề ngôn từ. Trong truyện, phim, chúng ta hay bắt gặp cảnh phù thủy sử dụng thần chú. Có những phù thủy đánh nhau cả đời chỉ để tranh nhau một câu thần chú được tạo thành từ một dãy âm tiết lố bịch. Vậy “thần chú” là gì, và các phù thủy quan tâm đến ngôn từ như thế là do đâu?

Như lí giải ngắn gọn trong phim Dr. Strange, mọi câu thần chú đều là cánh cổng để triệu hồi một thực tại khác. Trong nhiều trường hợp, đó là cánh cổng đến một thực tại được lưu trữ trong chính bản thân người tạo ra câu thần chú – như một kí ức, một cảm xúc, một lập luận, một cảnh tưởng tượng, hoặc một kĩ năng của anh ta… Khi đó, thần chú được gọi là nghệ thuật, vì chúng là văn chương, lời nhạc, hoặc kịch bản phim. Thần chú mở cổng, đón người tiếp nhận bước vào một thế giới riêng, rất thật với người tạo ra câu thần chú. Nhưng để truyền tải trọn vẹn một thế giới riêng, cánh cổng này phải được viết bằng một thứ ngôn ngữ sáng sủa, rành mạch và chặt chẽ, để truyền thông tin một cách trung thực, sao cho người viết và người nhận có cơ hội hiểu văn bản theo một hoặc nhiều cách giống nhau.

Ở góc nhìn này, những câu nói thành thực nhất chính là những thần chú chính đạo nhất, và mạnh nhất.

Tuy nhiên, nhiều phù thủy dùng thần chú để đánh lừa, chứ không phải để truyền đạt một tình cảm, suy nghĩ hay kí ức thật. Họ không dùng ngôn ngữ để truyền đạt thông tin, họ dùng ngôn ngữ để che giấu và bóp méo thông tin. Trong trường hợp đó, thần chú là cánh cổng đưa nạn nhân đến một thực tại lệ thuộc, nơi phù thủy thao túng toàn bộ dòng chảy thông tin. Thực tại này phá hoại năng lực trao đổi và xử lí thông tin của nạn nhân, khiến nạn nhân dễ dàng bị phù thủy thao túng các mối quan hệ và suy nghĩ.

Chính mánh khóe này đã tạo ra các câu thần chú tối nghĩa, loằng ngoằng của phù thủy xấu mà bạn thường thấy trong phim. Nó cũng tạo ra những phương thức lừa gạt mà lâu nay, các “phù thủy ngôn từ” vẫn thường dùng để dắt mũi chúng ta trong đời sống thường nhật.

Cần lưu ý rằng các phù thủy ngôn từ hiếm khi nói sai thực tế. Để không bị buộc tội là lừa đảo, họ tránh chỉnh sửa thông tin. Thay vào đó, họ chỉ chỉnh sửa ngôn từ, tức là cổng truyền tin. Thông qua việc thao túng cái cổng truyền tin này, họ sẽ khiến bạn dồn mọi sự chú ý đến mẩu tin này, trong khi hoàn toàn quên lãng mẩu tin kia, hoặc kích động bạn tự chèn ý mình vào thông tin gốc… Thay vì lừa bạn, thường thì họ khiến bạn tự lừa mình, chỉ bằng cách tác động vào ngôn ngữ. Đó là thứ khiến loại phù thủy này khác hẳn những kẻ thao túng mà chúng ta từng tìm hiểu trước đây.

 

2. Thao túng ngôn từ của một người là thao túng suy nghĩ và các mối quan hệ của người đó

Hãy làm một thí nghiệm. Trong cả hai lần thử, bạn đặt ra cùng một vấn đề, rồi nghĩ thầm trong đầu về vấn đề đó.

Trong lần thử thứ nhất, bạn cố tình suy nghĩ không theo trình tự, cố tình sử dụng thứ ngôn ngữ chứa thật nhiều thì tương lai, từ biểu cảm và tiếng lóng, đồng thời cố tình kéo dài thời gian suy nghĩ ra một tiếng đồng hồ.

Trong lần thử thứ hai, trước khi việc suy nghĩ bắt đầu, bạn cố tình lập cho mình một khung dàn bài để phân tích vấn đề và tìm giải pháp. Sau đó, bạn chỉ nghĩ trong phạm vi, và theo thứ tự của khung dàn bài đó, không lan man rộng hơn. Bạn ghi lại đầy đủ các suy nghĩ của mình ra giấy để không quên, và để tiện đối chiếu, xem chúng có võ đoán, sơ hở, hoặc có khớp với nhau về mặt logic hay không. Bạn tự kiểm duyệt não, hạn chế sử dụng những dữ liệu mà mình chưa nắm chắc, như tin đồn hoặc chuyện tương lai, đồng thời từ chối sử dụng những từ biểu cảm và tiếng lóng trong quá trình suy nghĩ. Khi vấn đề được giải quyết xong theo trình tự của khung dàn bài, chấp nhận kết quả và dừng suy nghĩ.

Sau mỗi lần thử, hãy ghi kết quả của quá trình suy nghĩ. Tiếp đó, lặp lại thí nghiệm theo công thức tương tự, nhưng không phải với quá trình tự suy nghĩ, mà với quá trình trao đổi, thảo luận giữa hai người, rồi giữa một nhóm nhiều người với nhau. Sau cùng, bạn hãy so sánh kết quả của hai lần suy nghĩ trong mỗi thí nghiệm, xem chúng khác nhau nhiều thế nào, và khác nhau ở những điểm nào.

Bạn sẽ ngạc nhiên, khi thấy ngôn ngữ mà mình sử dụng trong quá trình tư duy có thể đẩy suy nghĩ của mình đi chệch nhau nhiều đến thế. Nếu không chủ động để mắt đến vấn đề này, khó có thể nói rằng bạn đang kiểm soát não bạn, hay những kẻ chi phối ngôn ngữ mà bạn dùng đang kiểm soát não bạn.

 

3. Thao túng ngôn từ là thao túng các hợp đồng

Để trục lợi, phù thủy ngôn từ phải tác động vào các hợp đồng. Bởi năng lực chính của họ là thao túng ngôn từ trong một cuộc trao đổi thông tin, nếu muốn trục lợi, họ phải gắn cuộc trao đổi thông tin nhiều kẽ hở này với một cuộc trao đổi lợi ích thực tế.

Những hợp đồng lợi ích mà họ can thiệp vào có thể bao gồm cả lợi ích vật chất lẫn lợi ích tình cảm. Đó có thể là hợp đồng giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, hoặc thậm chí giữa cá nhân và tập thể với “cái toàn thể” – tức những những siêu tập thể” vô hình trừu tượng – như “thượng đế”, “đạo”, “lẽ tự nhiên”, “quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm”…

Mỗi hợp đồng đều cần có hai nội dung. Một, là các định nghĩa (và giới hạn mà định nghĩa tạo ra) được gán cho các bên tham gia hợp đồng và cho những thứ được trao đổi. Hai, là quan hệ trao đổi giữa các bên tham gia hợp đồng, trên những vật trao đổi đã được định nghĩa rõ.

Để trục lợi từ hợp đồng, phù thủy sẽ điều chỉnh ngôn từ trong hợp đồng, nhằm tác động vào các định nghĩa và các quan hệ trao đổi. Sự tác động này chẳng nhằm mục đích nào khác, ngoài khiến nạn nhân dồn mọi sự chú ý vào những chi tiết mà chúng muốn họ thấy, và bỏ quên những chi tiết mà chúng muốn họ lờ đi. Nhờ đó, trong nạn nhân và bản hợp đồng sẽ tồn tại những kẽ hở thông tin, mà phù thủy có thể lợi dụng để trục lợi.

Các phương thức tạo kẽ hở thông tin quen thuộc bao gồm:

 

a. Không định nghĩa rõ ràng các bên tham gia hợp đồng và những thứ được đem trao đổi, khiến những thành tố này không được giới hạn một cách rõ ràng. Các giới hạn đặt ra cho các thành tố này mờ nhạt đến nỗi chúng chồng lấn lên nhau, hoặc có thể giải thích theo cách nào cũng được. Một nguồn lợi không được định nghĩa rõ ràng cũng giống như một kho thóc được rào một cách tạm bợ. Vì phù thủy ngôn từ là kẻ duy nhất chú ý đến lỗ hổng đó, đương nhiên họ sẽ nghĩ ra nhiều cách để lẻn vào kho thóc trong đêm.

Để tạo ra một định nghĩa hoặc giới hạn mơ hồ bằng ngôn từ, kẻ thao túng có nhiều cách. Chẳng hạn, họ có thể sử dụng những từ định lượng mang tính ước lượng, như “hầu hết”, “tuyệt đại đa số”, “chẳng mấy người”, “bất cứ ai”… Thoạt nghe những từ đó, nạn nhân sẽ dễ dàng chấp nhận ấn tượng ban đầu mà ngôn từ khơi gợi, và không kiểm chứng xem những nhận định này có xuất phát từ con số thống kê trong thực tế hay không. Một cách khác là dùng những từ ngữ chỉ các tập thể, “cái toàn thể” hoặc “chân lí” chung chung, để nạn nhân dễ dàng bị thuyết phục do cảm tình, mà không suy xét đến từng hoàn cảnh cá biệt và trường hợp cụ thể.

Ví dụ:

_ Trong Đạo Đức Kinh, Lão Đam tuyên bố Đạo là một “lẽ tự nhiên” chi phối tất cả, tất cả mọi người đều phải thuận theo, nhưng lại không thể hiểu nổi và định nghĩa. Đây là luận điệu quen thuộc, hiện diện trong mọi tôn giáo muốn độc quyền kiểm soát đời sống tinh thần của thế gian. Bằng thần thoại và giáo lí, những tôn giáo đó đưa ra một hợp đồng giữa con người cá nhân với một “cái toàn thể” bao hàm vạn vật, và chi phối vạn vật. Tuy nhiên, thay vì tự tuân thủ hợp đồng cá nhân này, và dừng ở đó, họ lại có tham vọng áp đặt nó cho tất cả mọi người bằng chính trị, quân sự và truyền thông. Như vậy, giới hạn tối quan trọng đầu tiên của hợp đồng, là tính chất tự nguyện cá nhân, đã bị phá vỡ.

Tiếp đó, từng đối tượng và điều khoản trong những hợp đồng thuộc loại này cũng không có định nghĩa và giới hạn rõ rệt. Chẳng hạn, thế nào là “lẽ tự nhiên”? Nếu đó là một thứ tác động lên vạn vật, buộc vạn vật phải tuân lệnh, thì nó đã không còn tự nhiên. Nếu nó cần một giáo luật, tổ chức giáo hội và hàng giáo phẩm để áp đặt những mệnh lệnh của mình lên con người, thì nó càng không có chút gì tự nhiên, mà đã lộ nguyên hình là một sự cưỡng ép. Ngay cả nếu nó cần được viết vào một cuốn sách, để người ta đọc mà tự sửa mình, thì sự tác động của nó vào tâm trí người đọc cũng đã khiến mọi sự không còn diễn ra một cách tự nhiên. Việc duy nhất mà con người có thể làm cho “lẽ tự nhiên” là đừng nhắc đến nó, để đừng lợi dụng nó. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đã đặt ra vấn đề “lẽ” – tức sự phân biệt và chọn lựa, hoặc đã đặt ra vấn đề “đạo” – tức con đường này thay vì con đường kia, thì sự tự nhiên cũng đã không còn tồn tại. Tóm lại, thực ra “lẽ tự nhiên” không có thật, “đạo” cũng không có thật, và mọi giáo lí đều là hợp đồng mà con người cá nhân phải kí với một thứ không có thật, do bị thuyết phục hoặc cưỡng ép bởi một tập thể hữu hình, với sức mạnh chính trị, bạo lực và tài chính đứng đằng sau. Thêm vào đó, những điều khoản trong hợp đồng này cũng là không giới hạn. Vì “lẽ tự nhiên”, “đạo”, “thượng đế”… bao hàm tất cả, đương nhiên con người cá nhân sẽ được đề nghị cống hiến mọi thứ mình có để phục vụ đối tác này. Và vì đó chỉ là đối tác ảo, đương nhiên toàn bộ số lợi ích đó sẽ rơi vào túi kẻ trung gian trong khâu kí kết và duy trì hợp đồng, tức các tổ chức tôn giáo.

_ Cần lưu ý rằng mánh khóe trên không chỉ tồn tại trong tôn giáo. Nó còn được áp dụng cho mọi lí tưởng chính trị từng xuất hiện từ trước tới nay. Chẳng hạn, hàng tỉ người trên thế giới đã và đang nói “dân tộc là tất cả”, “nhân dân là tất cả”, “giai cấp vô sản là tất cả”, “tự do là tất cả”…, nhưng có ai định nghĩa được dân tộc, nhân dân, giai cấp và tự do là cái gì? Không ai định nghĩa được những thứ vô hình này, nhưng ai cũng nhìn thấy những bộ máy chính trị hữu hình đang nhân danh chúng, và trục lợi từ chúng, khi làm bên trung gian trong hợp đồng được kí giữa lí tưởng vô hình với con người cá nhân. Đôi lúc, khi hợp đồng để lại những hậu quả quá mức tai hại và những tình cảnh rõ ràng là vô lí, kẻ trục lợi cố gắng gia hạn hợp đồng, bằng cách thuyết phục đám động rằng “lí tưởng không sai, chỉ có việc thực hiện nó bị sai”. Đám đông nghe theo, và tiếp tục trả giá một cách không giới hạn cho bản hợp đồng, mà quên mất rằng khi một đối tượng không có giới hạn rõ ràng, thì ta không có cách nào để xác định rằng đối tượng đó sai hay đúng. Và đã là lí tưởng thì đương nhiên phải không có giới hạn.

_ Chẳng hạn, hễ ai sử dụng khái niệm “nhân quyền”, kẻ đó đang muốn áp đặt những điều khoản mà mình đề nghị lên toàn bộ số hợp đồng quan hệ mà bảy tỉ người trên thế giới đã, đang và sẽ kí với nhau. Dù những điều khoản mà họ đề nghị là gì, thì vì khái niệm “nhân quyền” không hề có giới hạn về cả đối tượng, hoàn cảnh áp dụng, thời gian lẫn không gian, họ cũng đang mang một tham vọng quá lớn và quá sức. Chẳng hạn, vì “con người” là một khái niệm không thể định nghĩa rõ ràng và dứt điểm, người ta tranh cãi bất tận về việc các bào thai, quái thai, hoặc kẻ giết người hàng loạt có đáng được xem là con người hay không, vì thế có đáng được đảm bảo quyền sống hay không. Vì không thể gán cho “quyền con người phổ cập” một nguồn gốc chính đáng nào, ngoài những con ngáo ộp vô hình và không thể định nghĩa – như “thượng đế” hoặc “lẽ tự nhiên” – người ta buộc phải nói dối và diễn kịch, để dân chúng không nhận ra rằng “quyền con người” chỉ là một hợp đồng truyền thông mà các chính khách các nước thắng trận kí với nhau sau hai cuộc chiến tranh thế giới. Vì không thể định nghĩa rõ ràng một số điều khoản trao đổi trong các hợp đồng lợi ích liên quan đến nhân quyền, chẳng hạn như “quyền bình đẳng” hoặc “quyền mưu cầu hạnh phúc”, dù nhân quyền được quảng cáo như một hợp đồng để chia sẻ lợi ích giữa con người với nhau, nó đã chỉ trở thành một cái cớ để các quốc gia và các thành phần xã hội phát động chiến tranh, đấu đá. Và vì tất cả những lí do nêu trên, ai cũng biết rằng nhân quyền không có thật, chưa bao giờ được thực hiện và vĩnh viễn không thể thực hiện, ở mọi nơi và mọi thời điểm. Tuy vậy, ai cũng tìm thấy lí do để dùng nhân quyền như một cái cớ đầu môi, giúp áp đặt các điều khoản và thiên kiến của mình lên toàn bộ lịch sử, mọi vùng đất và mọi cá nhân, bất kể sự khác biệt về điều kiện và mục đích sống.

 

b. Sử dụng nhiều tính từ hoặc văn cảnh, nhất là những từ hoặc văn cảnh kích động cảm xúc, để mô tả các bên tham gia hợp đồng, những thứ được trao đổi và quan hệ trao đổi. Những tính từ này sẽ kích động các ham muốn và nỗi sợ sẵn có trong nạn nhân, khiến nạn nhân tự gắn cho các thành tố trong bản hợp đồng những giá trị mà họ tự tưởng tượng ra, do sự thúc đẩy của nỗi ám ảnh sẵn có bên trong mình, rồi dồn toàn bộ sự chú ý vào những giá trị ảo này, thay vì chú ý đến giá trị thật mà kiểm tra, đo đạc được, hoặc tin được dựa trên xác suất. Ở đây, thay vì ám thị nạn nhân, kẻ thao túng kích thích nạn nhân tự ám thị, tự mắc cái bẫy tâm lí do chính mình bày ra. Nhờ đó, nạn nhân không biết là mình bị lừa, và khi đã quá muộn thì cũng không thể qui trách nhiệm cho kẻ thao túng.

Cần lưu ý rằng quá trình trò chuyện qua lại hoặc độc thoại nội tâm càng kéo dài, thì thứ ngôn từ biểu cảm chi phối quá trình này càng lái nạn nhân đi xa khỏi kết luận ban đầu mà lẽ ra họ đã đạt được.

Ví dụ:

_ Nếu bạn gạt bỏ mọi ngôn từ và văn cảnh có tính kích động cảm xúc khỏi “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (Karl Marx) hoặc Kinh Tân ước, nội dung của các văn bản này sẽ ngắn đi rất nhiều, và tính thuyết phục của chúng sẽ chẳng còn bao nhiêu. Không đáng ngạc nhiên, nếu sau khi đọc phần văn bản còn sót lại, hầu hết công nhân sẽ ra quyết định dựa trên lượng vốn phải bỏ ra và tiền lãi mà cuộc cách mạng mang lại cho họ, thay vì dựa trên “nhiệt tình giai cấp”. Và hầu hết con chiên sẽ tự hỏi vì sao việc Jesus bị xử tử bởi đám đông Do Thái và chính quyền La Mã lại liên quan đến việc mình phải nghe lệnh và nộp phí duy trì một giáo hội La Mã, mà hàng giáo chức giảng kinh điển Do Thái và mặc trang phục của các thầy tế Ai Cập từng đuổi bắt Moses.

_ Cho đến giờ, các “quyền cá nhân”, như “quyền công dân” và “quyền tư hữu” vẫn thường được đánh đồng với tự do. Lí do: người ta đánh đồng các “quyền” của mình với lợi ích của mình, vì họ cho “quyền” là thứ mà ta được hưởng. Không ai để ý một sự thực rằng ai chấp nhận “quyền công dân”, kẻ đó chấp nhận từ bỏ một phần tự do của mình, để bị lệ thuộc vào, và kiểm soát bởi, cái chính quyền đã cho phép họ có “quyền công dân”. Ai quá bị ám ảnh về “quyền tư hữu” của mình, kẻ đó sẽ trở thành con tốt trong trò chơi thị trường, nơi mỗi người bị nô dịch bởi ham muốn của chính bản thân, và chủ nô là những kẻ kiểm soát dòng tiền và dòng thông tin – như ngân hàng, luật sư, bảo hiểm, môi giới…

Lưu ý: nhiều phù thủy cao tay có thể dùng các hình ảnh và âm thanh biểu cảm thay cho tính từ, hoặc dùng các hoàn cảnh trong đời sống thực thay cho văn cảnh trên giấy, để thao túng nạn nhân một cách êm ái hơn.

Ví dụ:

_ Nếu nhà thờ là những căn nhà ống có trần thấp, cửa sổ vuông thay vì có vòm tròn hoặc vòm nhọn, phòng rộng theo chiều ngang, thay vì sâu theo chiều dọc, và bục hành lễ không được xây cao, có khi các con chiên sẽ bỏ đi quá nửa. Lí do: cách bố trí phòng này khiến những người và tượng thờ đứng trên bục mất đi vẻ bí ẩn, cao xa và mạnh mẽ. Nếu các buổi lễ bị lược đi phần thánh ca và cử hành bí tích, chắc số tín đồ bỏ đi sẽ còn đông hơn.

 

c. Dùng lời nói để chia rẽ, cô lập các đối tượng trên thị trường và kí hợp đồng riêng với từng bên. Nhờ vậy, mình có thể nắm được thông tin về tất cả các bên, đồng thời thao túng toàn bộ dòng chảy thông tin của từng bên, để kích thích lòng tham và nỗi sợ riêng của mỗi người, sao cho tất cả các bên trên thị trường đều lao vào chống lại nhau trong một cuộc chiến mà mình là kẻ buôn vũ khí.

Ví dụ:

_ Giới ngân hàng, bảo hiểm và luật sư rất ủng hộ đề nghị không giới hạn quyền tư hữu của John Locke. Lí do: khi tài nguyên có hạn, dân số ngày càng đông, mà thực ra về mặt tự nhiên, chẳng ai vốn sinh ra đã sở hữu mảnh đất nào hết, thì việc không giới hạn quyền tư hữu chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng tranh chấp đất đai. Mà không ai khác, ngoài họ, là kẻ cung cấp vũ khí trong trò chơi tranh chấp này. Tương tự, cơ quan công an và mật vụ rất thích một hợp đồng xã hội chọn “bảo vệ tổ quốc” là ưu tiên tối cao, vì từ hợp đồng này, sẽ dễ hình thành trò chơi đấu tố giữa các thế lực và các công dân, một trò chơi biến họ thành bên trung gian hưởng lợi nhiều nhất. Trong khi đó, “các tổ chức dân sự ôn hòa”, tự gán cho mình sứ mệnh “làm trung gian đối thoại”, lại rất thích nuôi dưỡng mâu thuẫn giữa chính quyền với nước ngoài, hoặc với một số bộ phận người dân.

 

d. Sử dụng thật nhiều thì tương lai, để biến phần lợi ích trao đổi trong các hợp đồng thành các món nợ, rồi tìm cách kiếm lời từ khoảng chênh thời gian và hiệu ứng tâm lí của các bên nảy sinh do món nợ đó.

Ví dụ:

_ Quảng cáo về những lợi ích của thẻ tín dụng.

_ Lời tiên tri của Karl Marx về chiến thắng của cuộc cách mạng vô sản toàn cầu, và chế độ hoàn hảo mà giai cấp vô sản sẽ dựng nên sau chiến thắng đó.

_ Lời hứa của Giáo hội về thiên đường và địa ngục sau khi chết. Vì sợ hãi và ham muốn những điều chưa xảy đến, mà không ai còn sống có thể kiểm chứng, các con chiên ngoan ngoãn chịu sự điều khiển của giáo hội trong suốt phần đời còn lại, cho đến khi họ chết và tự đi trải nghiệm xem có thiên đường, địa ngục hay không.

 

e. Dùng hệ tiêu chuẩn trong lĩnh vực này để phán xét trong các vấn đề thuộc lĩnh vực nọ, trong khi hai lĩnh vực vốn không liên quan đến nhau.

Ví dụ:

_ Năm 2016, để lôi kéo khách hàng, Alphabook hô khẩu hiệu “Đọc sách là yêu nước!”.

 

f. Lợi dụng các mẩu thông tin dạng fact để tạo ấn tượng sai lầm.

Ví dụ:

_ Tất cả các tổ chức bảo vệ môi trường đều liên tục viện dẫn rất nhiều số liệu, để thuyết phục quần chúng rằng tốc độ biến đổi khí hậu toàn cầu đang tăng đến mức báo động, và thể nào ngày tận thế cũng sắp diễn ra. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng ở một số giai đoạn của thời tiền sử, khi con người chưa xuất hiện, tốc độ tan băng ở các cực, thể hiện tốc độ thay đổi của nhiệt độ trung bình hằng năm, còn cao hơn tốc độ tan hiện nay. Ngoài ra, những người viện dẫn các nghiên cứu đó cũng nhấn mạnh rằng trong lịch sử trái đất, dù có con người hay không thì vẫn luôn có biến đổi khí hậu, và ta không nên quá hoảng hốt trước hiện tượng đó.

_ Đầu năm 2016, học hỏi kinh nghiệm tổ chức cách mạng đường phố ở Ai Cập và Libya, các tổ chức chính trị đối lập Việt Nam đã phát động một chiến dịch truyền thông nhắm vào ngành cảnh sát. Để chứng minh rằng “công an Việt Nam đang giết dân”, họ dồn toàn lực để đưa tin về các vụ bạo hành hoặc xô xát giữa công an và dân thường, mà thực ra hầu hết là với họ. Tổng số vụ việc được đề cập đến trong chiến dịch không lớn hơn số đầu ngón tay. Tuy nhiên, những người đưa tin đã tập trung vào những hình ảnh và chi tiết máu me trong vụ việc, để kích động cảm xúc của công chúng. Đáng tiếc, tỉ lệ dân chúng chết vì cảnh sát ở Mỹ rất có thể đang cao hơn ở Việt Nam. Theo tờ Washington Post, trong năm 2015, có 965 người bị cảnh sát Hoa Kỳ bắn chết. Trong số các nạn nhân, chỉ có 564 người mang súng, 281 người mang một vũ khí khác, và 90 người không có vũ trang. Theo tờ The Guardians, trong 24 ngày đầu năm 2015, cảnh sát Mỹ bắn chết 59 người, nhiều hơn tổng số người chết vì cảnh sát Anh trong 24 năm gần nhất. Thật thú vị: bất kể những con số thực tế đó, số bằng chứng “công an Việt Nam giết dân” do phe đối lập cung cấp vẫn được phía Mỹ sử dụng trong các buổi đối thoại nhân quyền với Việt Nam.

Cũng như số liệu, các hình ảnh và lời kể chi tiết nêu trên có thể coi là fact. Tuy nhiên, các mẩu fact vụn vặt là vô giá trị nếu được tiếp nhận một cách đơn lẻ và rời rạc, thay vì đặt trong một cái nhìn tổng thể về vấn đề và một logic vững vàng để kết nối các chi tiết. Trong trường hợp đó, thay vì giúp chỉ ra sự thật, fact có thể bị lợi dụng để kích động cảm xúc đám đông, nhằm che đậy sự thật tổng quan.

 

II. Cách nhận diện người bị phù thủy ngôn từ thao túng

Ngoài việc từng tham gia những hợp đồng lợi ích có tính chất như vừa mô tả, mà không biết tự đặt mình vào vị trí kẻ trục lợi, những người bị phù thủy ngôn từ thao túng còn thường có nm hững biểu hiện sau:

_ Lệ thuộc hoàn toàn vào một bên tham gia hợp đồng về mặt thông tin hoặc lập luận.

_ Thích sử dụng các khái niệm chung chung, không rõ ràng hoặc đao to búa lớn, các từ hoặc văn cảnh kích động cảm xúc, hoặc thì tương lai trong ngôn ngữ đời thường của mình. Vì suy nghĩ vận hành trên nền ngôn ngữ, một thói quen ngôn ngữ lỏng lẻo đã, đang và sẽ sẽ khiến những hợp đồng lừa mị dễ dàng được tâm trí chấp nhận hơn.

_ Hay nghĩ mông lung. Càng suy nghĩ không mạch lạc, rõ ràng, người ta càng dễ bị ngôn từ can thiệp vào quá trình suy nghĩ.

Nhìn chung, mỗi phương thức thao túng mà chúng ta từng tìm hiểu đều tận dụng một động lực riêng lẻ nào đó của nạn nhân. Tuy nhiên, các phù thủy ngôn từ thì không như thế. Họ dùng ngôn từ để tấn công trực tiếp vào những điểm yếu trong hệ thống tư duy của nạn nhân. Từ lỗ hổng của hệ thống tư duy mà đòn đánh đó tạo ra, mọi động lực của nạn nhân đều có thể bị lợi dụng để giúp họ trục lợi.

 

III. Cách nhận diện phù thủy ngôn từ

Trong trường hợp những mô tả trên chưa giúp bạn tìm ra ai là phù thủy ngôn từ đang thao túng cộng đồng, hãy thực hiện những bước sau:

 

1. Khoanh vùng để thu hẹp phạm vi điều tra

_ Xác định rõ hợp đồng lợi ích (tức mối quan hệ cá nhân – cá nhân, cá nhân – tập thể hoặc tập thể – tập thể) đang bị thao túng để trục lợi.

_ Liệt kê tất cả các bên trong hợp đồng đó, kể cả những bên vô hình (như lí tưởng, định chế, thần thánh, “lẽ tự nhiên”,…), rồi vẽ sơ đồ quan hệ lợi ích và trao đổi thông tin giữa các bên. Lưu ý: trên cùng một sơ đồ, các mũi tên chỉ dòng chảy lợi ích và dòng chảy thông tin cần được vẽ khác màu nhau.

_ Lập hồ sơ về tất cả những đối tượng tham gia hợp đồng. Ngoài các đề mục thông thường, hồ sơ phải cho biết đối tượng đang tham gia những hợp đồng lợi ích nào khác trong cùng thời điểm. Từ đó, ta sẽ nhận ra những đối tượng có thể trục lợi từ việc thao túng hai hợp đồng cùng lúc (chẳng hạn: kẻ thao túng hợp đồng tôn giáo, văn hóa để phục vụ hợp đồng chính trị hoặc hợp đồng kinh doanh, kẻ thao túng hợp đồng giải trí để lấy tài nguyên dữ liệu cho hợp đồng tình báo…).

_ Dựa trên sơ đồ quan hệ đã vẽ ở trên, khoanh vùng những đối tượng có khả năng dùng ngôn từ để thao túng nhiều bên trong hợp đồng. Sau đó, tiếp tục khoanh vùng những đối tượng có khả năng trục lợi từng việc ngôn từ bị thao túng.

_ Trực tiếp trao đổi với từng bên tham gia hợp đồng, để làm rõ quan điểm cá nhân của họ về bản hợp đồng, và về từng đối tác trong hợp đồng. Đối chiếu quan điểm các bên, để nhận ra những hiểu lầm nảy sinh do thông tin bị ách tắc. Tiếp tục trao đổi, để xác định rõ trong trường hợp cụ thể, ai là thủ phạm của tình trạng ách tắc thông tin. Khoanh vùng những kẻ gây hiểu lầm, và ghi rõ những hiểu lầm mà họ gây ra cho đối tác.

_ Đối chiếu các vùng đã khoanh, rồi suy luận để tìm ra những người có khả năng là hung thủ nhất.

 

2. Sử dụng phương pháp thử để ghi nhận phản ứng của các đối tượng tình nghi

_ Việc thao túng bằng ngôn từ chỉ có thể tiến hành nếu nạn nhân sử dụng ngôn từ trong quá trình trao đổi hoặc suy nghĩ. Vì vậy, khi đang tiến hành những trao đổi hoặc suy nghĩ liên quan đến hợp đồng, thử bất ngờ im lặng, không nói hoặc nghĩ một lúc, xem từng đối tượng tình nghi phản ứng ra sao. Ghi chép và phân tích các phản ứng này, để xác định những đối tượng đang chủ động dùng ngôn từ để giăng bẫy.

_ Thử khơi thông dòng chảy thông tin, để lần lượt đánh tan từng hiểu lầm giữa các bên, xem các bên phản ứng thế nào. Lưu ý rằng trong quá trình này, để đảm bảo an toàn, nên mượn miệng của các bên trong hợp đồng để truyền tin, thay vì tự mình phát ngôn, làm hung thủ chú ý.

 

III. Cách hạ bệ một phù thủy ngôn từ đang thao túng cộng đồng để trục lợi

Lần lượt làm các bước sau:

 

1. Phác họa một trật tự thông tin chuẩn mực, không dung dưỡng các phù thủy ngôn từ

Ta sẽ lấy trật tự thông tin này làm nền tảng, để từ đó xây dựng nội dung cho các đòn truyền thông dùng trong cuộc chiến.  Nhờ đó, sau mỗi đòn đánh, một trật tự hợp vệ sinh hơn sẽ được dần thiết lập và củng cố trong môi trường thông tin. Cuộc chiến chỉ kết thúc khi trật tự thông tin chuẩn mực đã được thiết lập hoàn chỉnh, và được công nhận là một trong những trật tự chính thống của cộng đồng. Nếu không, sau khi ta hạ bệ phù thủy ngôn từ đang tại vị hiện nay, sẽ có những phù thủy khác tiếm ngôi, và lợi dụng chính những lỗi tư duy và kẽ hở thông tin cũ của cộng đồng để trục lợi.

Một trật tự thông tin cần thiết sẽ bao gồm những điểm sau:

_ Cơ sở dữ liệu và hệ thống đào tạo ngôn ngữ, giúp người ta biết chính xác mình đang nói gì, và người nghe không hiểu lầm người nói.

Ví dụ: hệ thống đào tạo môn ngữ văn; từ điển cho từng lĩnh vực chuyên môn; từ điển từ nguyên; ghi chép về lịch sử của các khái niệm;…

_ Các phương thức và công cụ giúp cộng đồng trao đổi một cách rõ ràng, đầy đủ với nhau, lưu trữ một cách chính xác những trao đổi đó, và xử phạt những kẻ trục lợi bằng ngôn ngữ.

Ví dụ: Luật Hôn nhân & Gia đình giúp tiến hành và lưu trữ các trao đổi xoay quanh hợp đồng hôn nhân; một trang web lưu trữ mọi phát ngôn của các chính khách, và ghi chép đầy đủ tiến độ thực hiện từng điều mà họ tuyên bố, đồng thời thống kê tỉ lệ cam kết cụ thế/phát ngôn chung chung, tỉ lệ hành động/tuyên bố của từng chính khách…

_ Cơ sở dữ liệu về lịch sử của các tập thể, cá nhân và khái niệm.

Ví dụ: lịch sử tổ chức, lịch sử khái niệm, từ điển từ nguyên, phóng sự điều tra, hồ sơ tội phạm, nhật kí,…

_ Các phương thức và luật lệ đảm bảo rằng trong một khoảng thời gian nào đó, mỗi cá nhân đều có cơ hội tách khỏi dòng thông tin của hợp đồng mà mình tham gia. Nhờ đó, họ sẽ có thời gian để thư giãn, tĩnh tâm và tham khảo thêm thông tin bên ngoài, thay vì bị ngôn từ của hợp đồng chi phối hoàn dòng trao đổi và suy nghĩ.

Ví dụ: Các định chế và cơ sở dữ liệu bênh vực quyền tự do học thuật giúp con người đỡ bị chi phối bởi dòng thông tin từ nhà nước và từ các đám đông. Phòng riêng cách âm và bất khả xâm phạm giúp các thành viên gia đình đỡ bị chi phối bởi dòng thông tin từ những người chung hợp đồng huyết thống. Cơ hội và kinh nghiệm thưởng thức các thú vui tinh tế giúp con người cá nhân quen dần với việc xử lí thông tin vừa chi tiết, vừa tổng thể, trong lúc vừa thư giãn, vừa tỉnh táo; nhờ đó, họ sẽ đỡ bị phù thủy ngôn từ thao túng bằng màn “tập trung chi tiết, bỏ qua tổng thể”, “say mê tổng thể, xem nhẹ chi tiết”, bằng các từ ngữ kích động cảm xúc, hoặc các chiêu trò để chia rẽ những người có quan hệ lợi ích gắn bó với nhau…

_ Các gói thông tin (người, văn hóa phẩm, định chế, thói quen sống…) chuyên dùng để phê bình những tình cảm kích động mà người ta từng gán cho các khái niệm. Nhờ chúng, người ta sẽ hình thành thói quen thận trọng khi tiếp nhận ngôn từ.

Ví dụ: “Trại Súc vật” của George Orwell, “Kẻ phản Ki-tô” và “Hoàng hôn của các Thần tượng” của Nietzsche, “Nam Hoa Kinh” của Trang Tử, “Từ điển Triết học” của Voltaire…

_ Các nguyên tắc thống kê và sử dụng số liệu thống kê.

_ Các nguyên tắc logic.

Ví dụ: Những tác phẩm về luật logic của Aristotle.

 

2. Chuẩn bị một vùng yên tĩnh

Nếu lập tức tác động vào những người đang bị phù thủy ngôn từ thao túng, ta sẽ gặp hai vấn đề. Một: những người này dễ bỏ ngoài tai mọi phân tích của ta, phần vì họ đang say đắm trong ma túy ngôn từ, phần vì họ đã bị ràng buộc bởi những hợp đồng mà phù thủy ngôn từ chi phối. Hai: lợi dụng đòn truyền thông của ta, phù thủy ngôn từ có thể khơi dậy một cuộc tranh cãi hỗn loạn và liên miên – là chiến trường mà trên đó hắn có lợi.

Vì vậy, trước hết, cần tập hợp những người tỉnh táo, không bị phù thủy ngôn từ thao túng, và muốn hạ bệ phù thủy, để cùng nhau xây dựng một cộng đồng yên tĩnh làm “an toàn khu”. Nhờ có vùng yên tĩnh, những người bị ta thuyết phục sau này có thể bước vào những hợp đồng lợi ích mới, thay vì tiếp tục bị ràng buộc bởi những hợp đồng mà phù thủy ngôn từ thao túng toàn bộ dòng thông tin. Thêm vào đó, nhìn vào sự hiệu quả và dễ chịu của “an toàn khu”, các nạn nhân sẽ hiểu rằng lời nói của kẻ trục lợi không khớp với bằng chứng thực tế.

Cộng đồng yên tĩnh này cần có những đặc điểm sau:

_ Được xây dựng dựa trên nội dung và lề luật của trật tự thông tin chuẩn mực mà ta đã phác thảo.

_ Gắn bó với nhau vì chia sẻ cái gạch đầu dòng bên trên, thay vì kì vọng vào những hợp đồng lợi ích phát sinh khác.

Để kiểm tra tư cách thành viên, có thể buộc người mới tham gia trải qua một số bài test, chẳng hạn như dịch thuật. Việc dịch đòi hỏi cùng lúc ba kĩ năng. Thứ nhất, là hiểu chính xác nội dung văn bản. Thứ hai, là giải mã chính xác ngôn ngữ gốc. Thứ ba, là mã hóa nội dung đã hiểu thành bản dịch, một cách mạch lạc và trung thực, sao cho người đọc không bị hiểu lầm. Ai thực hiện tốt cả ba khâu này, người đó sẽ ít bóp méo thông tin trong quá trình trao đổi và suy nghĩ bằng ngôn ngữ. Thêm vào đó, khi dịch, ta cũng phải làm việc cùng lúc trên hai hệ thống: hệ thống ngôn ngữ của văn bản gốc và hệ thống ngôn ngữ của bản dịch, hệ thống tư duy của tác giả và hệ thống tư duy của ta. Nếu biết hiểu, chấp nhận và giữ nguyên vẹn cùng lúc hai hệ thống thông tin, đồng thời chuyển dữ liệu từ hệ thống này sang hệ thống kia một cách chính xác và trung thực, ta sẽ ít bị thao túng bằng các ngôn từ kích động cảm xúc. Ngoài ra, trong quá trình dịch, ta cũng phải liên tục xem xét thông tin dưới cả cái nhìn chi tiết lẫn cái nhìn tổng thể, nên sẽ dần miễn dịch với lối đưa tin thiên lệch, chú trọng bên này để che lấp bên kia.

 

3. Khơi thông dòng chảy thông tin

Từng bước khơi thông dòng chảy thông tin giữa các bên trong hợp đồng. Thể hiện rằng ta làm việc này để giúp hợp đồng hoạt động hiệu quả hơn và mọi người vừa được lợi, vừa hiểu nhau hơn, thay vì trực tiếp lên án và qui trách nhiệm cho kẻ thao túng. Sau khâu này, một số bên chịu thiệt sẽ tự nhận ra mình bị lừa, trong khi kẻ thao túng sẽ có những phản ứng tiêu cực, làm cho hắn trở nên khả nghi hơn trong mắt đám đông. Đó là tiền đề để ta tung các đòn truyền thông trực tiếp.

Trong trường hợp kẻ thao túng đang mạnh, khâu này cần được tiến hành một cách từ từ và ngầm ẩn. Cần tính toán để xác định trình tự tung các thông tin, và cách tận dụng phản ứng của các bên. Thêm vào đó, nên mượn miệng của một bên tham gia hợp đồng để tung tin, vì họ danh chính ngôn thuận hơn trong việc này.

 

4. Tung đòn truyền thông trực tiếp

Khi kẻ thao túng đã dùng hết các chiêu trò đối phó, và cộng đồng đã sẵn sàng, ta chuyển sang tấn công bằng đòn truyền thông trực tiếp. Nội dung truyền thông cần được phát triển dựa trên nền tảng là trật tự thông tin chuẩn mực, mà từ đầu ta đã phác thảo. Cần lưu ý rằng ngoài việc tiết lộ sự thật, chiến dịch truyền thông còn cần nhằm hai mục đích. Một, là tước dần từng mảng hợp đồng khỏi tay phù thủy ngôn từ. Cần tập trung vào những mảng lợi ích then chốt, đang làm trụ đỡ cho quyền lực của phù thủy, và sắp xếp thứ tự đánh sao cho phù thủy không kịp trở tay, đồng thời các cột trụ này sụp đổ theo lối domino nếu có thể. Hai, là tổ chức lại từng phần tài nguyên của cộng đồng, mà phù thủy vừa bị tước quyền kiểm soát, theo trật tự thông tin chuẩn mực do mình đưa ra.

 

5. Chính thức thiết lập trật tự thông tin chuẩn mực

Sau khi phù thủy ngôn từ hoàn toàn bị hạ bệ, nhanh chóng tạo hoàn thành việc thiết lập trật tự thông tin chuẩn mực, để áp dụng riêng cho phần cộng đồng chia sẻ nó. Các định chế và hoạt động để duy trì trật tự này đã hiện diện trong “vùng yên tĩnh” từ trước, giờ chỉ cần hoàn thiện và tăng qui mô.

 

Ngôn ngữ không phải là thông tin, nó chỉ là công cụ truyền tin. Ngôn ngữ chỉ có giá trị khi nó được dùng để truyền tải thông tin một cách trung thực. Trong mọi trường hợp khác, ngôn ngữ sẽ trở thành công cụ để bóp méo thông tin. Bằng công cụ này, sẽ có kẻ dựa vào khoảng cách giữa nội dung thực của thông tin và ảo ảnh mà ngôn ngữ tạo ra để trục lợi.

Chúng ta tạo ra ngôn ngữ, đừng để ngôn ngữ tạo ra chúng ta. Con người tạo ra ngôn ngữ, chứ ngôn ngữ không tạo ra con người. Ai để ngôn ngữ tạo ra bản thân, toàn bộ kẻ đó chỉ là một lời nói dối. Ai để ngôn ngữ điều khiển bản thân, kẻ đó chỉ là công cụ của một công cụ.

Mà để giữ cho bản thân làm chủ ngôn ngữ, thay vì để ngôn ngữ làm chủ bản thân, bạn phải hiểu bản thân và hiểu ngôn ngữ.

 

*

Tiểu luận này được phát triển từ giáo trình
một khóa học cũ của Book Hunter.

Mời các bạn tìm các khóa học sắp tới tại ĐÂY.

Share
Share: