Sáng tácTản văn

Hà Nội, sương và huyền thoại

Book Hunter Hà Nội sương và huyền thoại

(Ảnh minh họa: Điện Kính Thiên tại núi Long Đỗ, Hoàng thành Thăng Long. Đây là vị trí đầu tiên của đến Bạch Mã thờ thần Long Đỗ)

Việt Nam là mảnh đất của những huyền thoại: từ gốc đa, tảng đá, con sông, ngọn núi… cho đến những con phố, những ngôi nhà cổ, những góc hồ… Tính huyền thoại này lại càng thêm phần kỳ ảo ở mảnh đất Hà Thành. Trời đất có bốn mùa thay nhau chuyển đổi thì có đến hai mùa rưỡi mảnh đất kinh kỳ chìm trong sương. Màn sương, đó chính là dung môi để huyền thoại nảy sinh, nơi thực và ảo lẫn lộn giao hòa, nơi vạn vật mờ mờ chỉ thấy bóng chứ chẳng thể thấy hình, nơi con người vật lý bỗng chốc bị soán chỗ bởi con người tinh thần. Tôi cho rằng, không phải lối sống gia phong nền nếp hay thói quen tài tử đã làm nên tinh thần người Hà Nội, mà là màn sương huyền thoại đã làm nên màu sắc của Hà Nội – một thứ màu bàng bạc, mơ hồ như bức tranh thủy mặc.

Tại sao tôi nói Hà Nội là mảnh đất của huyền thoại? Sở dĩ nằm trong mấy lý lẽ: Thứ nhất, chẳng mấy thành phố trên thế giới có số lượng các vị thần thánh, tiên quỷ nhiều như ở nơi đây. Mà vị thần thánh, tiên quỷ nào cũng gắn liền với các huyền thoại hấp dẫn, mỗi người một vẻ, không ai trùng ai. Nếu đạo diễn nào có thể lấy từ các thần tích ấy mà dựng thành phim, thì chắc hẳn đạo diễn ấy sẽ có một tác phẩm độc nhất vô nhị. Thứ hai, hầu như các con phố ở Việt Nam đều có rất nhiều các câu chuyện ma mà đứa trẻ con nào nghe kể cũng rúm ró người lại nhưng vẫn tròn mắt lắng nghe với cảm giác vừa sợ hãi lại vừa thích thú. Thứ ba, các tác phẩm thơ ca, văn chương, âm nhạc có cái khí vị của Hà Thành đều lúc mơ lúc thực, vừa thoáng vẻ lịch lãm đô thành lại vừa nhuốm màu cổ thi bàng bạc. Khí vị này khiến cho các tác phẩm được thổi hồn từ tinh thần Hà Nội, khác biệt với các tác phẩm về vùng đất khác. Tinh thần Hà Nội không cần được ca ngợi, mà nó lẩn khuất trong âm giai, trong ngôn từ, và đặc biệt trong cách nhìn thế giới của người nghệ sĩ lúc nào cũng được phủ một lớp sương.

Nếu liệt kê các vị thần ở Hà Nội, chúng ta có thể có một tiểu luận nghiên cứu đồ sộ. Nhưng các vị thần có ảnh hưởng tới văn hóa và lối sống của người Hà Nội chỉ có  Tứ Trấn Thăng Long mà thôi. Tứ Trấn Thăng Long bao gồm bốn ngôi đền: Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ đóng ở Trấn Bắc, Kim Liên thờ Cao Sơn đại vương ở Trấn Nam, Bạch Mã thờ thần Long Đỗ ở Trấn Đông, Voi Phục thờ thần Linh Lang ở Trấn Tây. Bốn vị thần này hoàn toàn độc lập, không bị lệ thuộc vào hệ thống của Phật giáo hay Nho giáo. Nếu bạn giở bản đồ Hà Nội, dùng bút vẽ một đường xoáy nối bốn điểm Tứ Trấn này sẽ thấy trung tâm của Tứ Trấn nằm ở Chùa Một Cột – ngôi chùa độc đáo với dáng vẻ kỳ lạ mà đến nay vẫn không ai hiểu ẩn ý của kiến trúc ấy.

Hai vị thần Trấn Đông và Trấn Nam, là thần Long Đỗ và Cao Sơn Đại Vương đều có phẩm tính ít đua tranh nhưng không dễ bị bắt nạt. Trong khi đó hai vị thần Trấn Tây và Trấn Bắc đều uy võ hơn người. Có lẽ bởi phía Đông và Nam Hà Nội không phải đương đầu với binh biến giống như phia Tây và Bắc.

Linh Lang ở Trấn Tây vốn là một vị hoàng tử nhà Lý (có người cho rằng là thuộc nhà Trần), có tài quân sự, trong một trận có thể giết mấy vạn quân địch. Nhưng do sát nghiệp nặng nề, Linh Lang sớm qua đời. Ngưỡng mộ tài quân sự của ông, dân chúng lập đền thờ ở ngay sát Thủ Lệ, tức vườn Bách Thú hiện nay. Đền Voi Phục thờ ông ngày nay được cơi nới rộng ra. Bên cạnh ban thờ Linh Lang còn có ban thờ Tứ Phủ rất bề thế mà đứng đầu là Mẫu Cửu Trùng Thiên. Ban thờ Linh Lang có phần lép vế, người tới thắp hương đa số không biến đến ông mà chỉ biết đến Mẫu Cửu Trùng Thiên. E là Trấn Tây ngày nay, không còn do thần Linh Lang đảm nhiệm mà đã chuyển sang cho Mẫu Cửu Trùng Thiên mất rồi. Để một vị nữ thần trấn thủ Hà Nội, có lẽ cũng là xu hướng của thời đại mới.

Huyền thoại xung quanh Trấn Bắc Huyền Thiên Trấn Vũ không nhiều. Nhưng cho đến nay, bức tượng Huyền Thiên Trấn Vũ là bức tượng đồng đen duy nhất còn sót lại từ sau khi Lê Chiêu Thống ra lệnh cho Nguyễn Hữu Chỉnh thu gom tượng thần phật toàn miền Bắc, nung tượng làm tiền để giải quyết vấn đề ngân khố kiệt quệ, nhân dân đói kém lúc bấy giờ. Không rõ tại sao bức tượng còn sót lại, có thể là vì uy linh của thần quá lớn, cũng có thể là vì bức tượng thần quá đẹp khiến Chỉnh không nỡ đem đi đúc tiền. Đền nằm ngay đầu đường Thanh Niên, cạnh hồ Trúc Bạch, đối diện hồ Tây. Giữa Hà Nội xô bồ, đền lúc nào cũng giữ được vẻ u tịch. Chiều chiều, các đệ tử của Việt Võ đạo lại luyện quyền cước trong ánh sương mờ mờ, dưới những tán cổ thụ sum suê… Thật có không khí cổ xưa!

Cao Sơn đại vương ít người biết đến. Các thông tin lịch sử cho thấy Cao Sơn là một vị thần thuộc hệ thống cấp dưới của Đức Thánh Tản Viên ở Ba Vì, Hà Tây (nay đã thuộc Hà Nội). Những ghi chép hay chuyện truyền khẩu về Cao Sơn không có nhiều. Có lẽ, đây là vị thần có thân phận mập mờ nhất trong Tứ trấn. Nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, trong cuốn sách “Thần, người và đất Việt” cho rằng tục thờ Cao Sơn trên các địa bàn khu vực trung du và đồng bằng Bắc Bộ là dấu vết của tục thờ đá cổ xưa từ thời bộ lạc. Dường như, thể thiết lập Tứ trấn, các thế lực tâm linh dù ở cõi dương hay cõi âm đã có một sự thỏa hiệp với các tín ngưỡng thời man khai. Sự thỏa hiệp này cho thấy một sự xung đột giữa các sắc tộc cổ xưa di dân đến khu vực Hà Nội đã được an định bằng việc đưa tín ngưỡng thờ đá vào hệ thống Tứ Trấn trong ba triều đại thịnh trị Lý – Trần – Lê. 

Trong Tứ Trấn Thăng Long, thân phận cao quý nhất có lẽ là thần Long Đỗ. Theo truyền thuyết, ông chính là linh khí của vùng đất Thăng Long, được phong là thành hoàng Thăng Long. Thần Long Đỗ là vị thần duy nhất trong Tứ Trấn không có công trạng chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Truyền thuyết về thần Long Đỗ gắn liền với việc phá giải trấn yểm của Cao Biền. Cách hành xử của thần thể hiện rõ một “chân nhân bất lộ tướng”. Theo “Việt điện u linh”, khi thấy Cao Biền định trấn yểm Đại La, ông hiện lên khuyên giải. Cao Biền không nghe, vẫn tiếp tục làm lễ, ông dùng phép khiến toàn bộ vàng và bùa tan biến thành tro. Cách hành xử không khốc liệt và bạo lực, vẫn khiêm tốn hòa ái, nhưng lại có thể khiến cho kẻ xấu phải nể sợ mà không dám xâm phạm. Thần Long Đỗ đại diện cho cách hành xử của người Hà Thành, khiêm tốn nền nã nhưng ân uy vẫn rõ ràng. Người Hà Nội bây giờ không còn có được phong thái đĩnh đạc như vậy nữa. Đền Bạch Mã thờ ông nằm ở phố Hàng Buồm, nhìn bên ngoài không bề thế như Trấn Tây, Trấn Bắc, Trấn Nam, nhưng vào bên trong mới thấy được sự tinh tế và thuần nhất. Những cây cột sơn son với họa tiết cổ được vẽ kỹ lưỡng, ban thờ thanh nhã và uy nghiêm. Nếu như đền chùa miền Bắc có được không khí như đền Bạch Mã, chắc hẳn  văn hiến cõi Việt đã đạt đến độ tinh hoa.

Bốn ngôi đền cổ ấy là chuẩn mực cho các ngôi đền ở Hà Nội (dù cho bây giờ không phải đền chùa nào cũng học theo được). Cứ mỗi khi thu tới xuân về, lớp sương phơn phớt màu không gian, những ngôi đền lại dậy lên khí sắc thâm trầm giữa bốn bề nhộn nhạo của phố phường. Cả bốn ngôi đền ấy, chỉ cần bước vào sẽ thấy phố xá lùi lại phía sau như một cõi nào xa xăm. Nếu vào chùa để cầu giải thoát, và nhà thờ để cầu cứu rỗi thì khi chúng ta vào những ngôi đền Tứ Trấn sẽ thấy thức dậy phần nào tinh thần Thăng Long trong các mẩu ký ức mơ hồ còn sót lại qua các tác phẩm nghệ thuật.

Nhờ vào màn sương che mờ và hào khí toát ra từ bốn ngôi đền tứ trấn, mà cõi u hồn ở đất Thăng Long không có màu sắc u uất. Những câu chuyện ma trong đời sống của người Hà Thành đều nhuốm màu tang thương, man mác buồn. Dân Hà Nội vẫn sống trong ngôi nhà ma. Chỉ trừ mấy ngôi nhà vắng chủ lâu ngày như 300 Kim Mã hay nhà ma ở phố Hàng Trống một thời, người ta thêu dệt lên đủ chuyện kinh dị. Tuy có kinh dị, không mấy ai dám lại gần. nhưng dưới lớp sương bạc của các huyền thoại, những ngôi nhà ma này đều hiu hắn một màu vàng của cái không khí cũ kỹ, tựa gam trầm trong bức tranh sống động của thời hiện đại.

Trong xứ sương mờ của huyền thoại này… những thứ âm sắc ồn ào tựa như lệch pha… Hà Nội là nơi của điệu ca, lời thơ buồn man mác không rõ từ đâu, nhưng cái buồn ấy không da diết mà cao ngạo, một thứ buồn của nỗi cô đơn thần thánh, không thể bị sự xô bồ làm ô uế. Tứ Trấn Thăng Long có vẻ như không phải là để ngăn kẻ địch, mà để giữ gìn nỗi buồn thanh thoát này. Bởi chỉ có nỗi buồn cô đơn và sang trọng mới ngăn không cho con người lao vào tham vọng ngu xuẩn của đời thường, để con người được là chính mình. Những ai ở Hà Nội mà chưa có cảm giác buồn buồn và hư huyễn ấy, nhất định không thể có được tinh thần của người Hà Nội.

Hà Nội nay đã đổi khác. Dân di cư và hiện đại hóa khiến chốn đô thành ngày càng trở nên ồn ào và xô bồ, nhưng màn sương còn đó, Tứ Trấn còn đó, những tinh thần buồn không vướng bụi phố phường vẫn còn đó… Mọi thứ nhơ bẩn một lúc nào đó sẽ bị cuốn trôi… Lúc ấy, tinh thần Hà Nội sẽ thức dậy trong màn sương và tạo ra các huyền thoại mới.

Hà Nội vẫn ở đây, nhưng như thể đã xa. Hà Nội tưởng như đã không còn khí vị, nhưng khí vị vẫn lẩn khuất trong sương. Nếu ai đã từng lang thang trong màn sương sẽ có thể tin chắc rằng, chỉ cần còn sương thì sẽ còn huyền thoại, chỉ còn huyện thoại thì sẽ còn tinh thần Hà Nội.

Hà Thủy Nguyên

Tháng 1 năm 2016

Share
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *