Tôi đọcVăn chương - Cái đẹp

HÁT ĐỐI CỦA NAM NỮ THANH NIÊN Ở VIỆT NAM – Nguyễn Văn Huyên

ngaynaychuy_qsml

Dưới đây, xin gửi tới các bạn bản tóm tắt luận án tiến sĩ văn học của ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của Việt Nam, do nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy lựa chọn để giới thiệu trong cuốn Chân trời có người bay.

Tìm Chân trời có người bay trên Hang Cáo tại ĐÂY.


Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam là luận án tiến sĩ văn học của Nguyễn Văn Huyên. Đây là một luận văn đặc sắc về cả đề tài, tư liệu và phương pháp nghiên cứu. Chúng tôi trích giới thiệu phần lớn bản tóm tắt của ông,nghĩ rằng nó sẽ giúp ích nhiều không chỉ cho những đề tài luận án tương tự và cả không tương tự nữa, nhất là ở phương pháp nghiên cứu.

*

Thơ ca là một thú vui khuây khỏa sâu sắc đối với người nông dân Việt Nam; họ làm thơ bất cư lúc nào, bất cứ vào dịp nào. Người Việt bao giờ cũng nồng nhiệt ngợi ca những niềm vui và mối tình của mình. Họ luôn luôn sẵn sang thể hiện cảm xúc của họ bằng những cấu thơ để hát ngay lên được.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Quả vậy, ở Việt Nam, người ta ca hát để chào mừng những lễ hội công cộng hoặc riêng. Người ta còn ca hát vào dịp gặt mùa và cấy lúa. Người ta hát lúc sang ngang hay xuôi ngược trên dòng sông. Ở xứ này, vần và điệu trong thơ ca là kết quả tự nhiên của bản năng quần chúng. Do vậy, nghệ thuật thơ ca chiếm một vị trí quan grong trong đời sống tinh thần và đao đức của xứ này.

Những lễ hội có ca hát được đệm theo bằng nhảy múa và âm nhạc thì rất nhiều. Tôi tự xác định cho mình việc nghiên cứu một trong số những hội hè ấy, hội hát đối đáp. Nam nữ thanh niên ở nông thôn và thường thường là ở sân nhà dưới ánh trăng luân phiên nhau hát những khúc hát đối thoại.

Đây là một lễ hội quan trọng của tuổi trẻ người Việt. Các buổi lễ hội này được các nhà chức trách làng xã đứng ra tổ chức, hoặc giả, do một gia đình giàu có, một vị thân hào cho tiền tổ chức, còn có thể là những cuộc ứng tác ngay trên đường đi, dọc bờ sông hoặc trên những chiếc thuyền lớn xuôi ngược trên sông vào những đêm trăng.

Dẫu rằng tôi không bao giờ thực sự vượt ra ngoài đề tài của mình, những việc nghiên cứu những câu hát đối đáp – vốn chỉ là dịp vui chơi của nông dân chúng ta – lại có thể góp phần giải quyết những vấn đề chung hơn.

Nếu tôi đã dành cả sự nỗ lực đầu tiên và nghiêm túc của mình cho việc nghiên cứu môn văn học dân gian này, chính là để xuyên qua nó mà tiếp cận một số vấn đề chung.

Những vấn đề đó thuộc hai loại:

Với tư cách là những khúc hát ứng tác, cách biểu hiện này là điều quan tâm của các nhà tâm lý học và ngôn ngữ học, những người muốn xác định cơ chế của sự ứng tác thơ ca. Vấn đề là, phải nghiên cứu những khúc hát như là phương tiện biểu cảm, và từ đó, nắm được thơ ca Việt Nam trong cội nguồn dân gian của nó.

Mặt khác, hội hát đối là một truyền thống cũ còn sống động không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác nữa. Nó là bộ phận của những lễ hội phức hợp hơn: Hội xuân, hội Thu. Nó là bộ phận của tổ chức xã hội Việt Nam. Như tôi vừa nói, trong một số trường hợp, lễ hội ngày do các nhà chức trách trong làng hoặc một vài nhà giàu có đứng ra tổ chức. Nó là hình thức còn sống sót từ những lễ cưới hỏi từ rất lâu đời. Từ đó, một loại vấn đề thứ hai làm cho các nhà xã hội học quan tâm: các vấn đề về văn học và văn hóa dân gian.

Vả chăng, những vấn đề ấy có thể đặt ra từ mọi truyền thống của chúng ta và mọi loại hình ca hát của chúng ta. Tôi đã nêu những vấn đề đó từ những “ Khúc hát đối” vì lễ hội này sinh động nhất và quần chúng nhất. Tôi nghiên cứu nó vào lúc nó sắp biến đi trước những tư tưởng mới và những kỹ thuật mới. Nhiệm vụ như vậy là rất cấp bách trong lĩnh vực này hơn là ở các lĩnh vực khác; ngoài ra, việc nghiên cứu nó là có thế làm được: người ta có thể biết được lễ hội sẽ diễn ra ở đâu, lúc nào và như thế nào ?

Bởi vậy, tôi tin rằng tính cấp thiết và sự khả thi đã quá đủ để biện minh cho lợi ích của công trình nghiên cứu của tôi.

Vậy là có hai vấn đề được đặt ra cho tôi. Các nam nữ thanh niên đã làm thế nào để có thể ứng tác được những câu thơ trong những cuộc thi hát như vậy? Hội hát đối đáp là gì trong khuôn khổ xã hội Việt Nam?

Tôi đã vận dụng các phương pháp ngôn ngữ học và dân tộc học.

Trước hết là phương pháp ngôn ngữ học.

Cho tới nay, các nhà ngữ pháp học đã phân tích tiếng Việt bằng cách sử dụng khuôn khổ ngữ pháp tiếng Pháp. Người ta ít quan tâm đến việc phân tích ngôn ngữ mà lại đi tìm một thứ ngữ pháp thích đáng, thích đáng để chuyển tiếng Pháp sang tiếng Việt. Tôi đã loại bỏ phương pháp ấy.

Tôi cũng đã tránh không dùng nhưng phân tích tinh tế của các nhà tâm lý học về vấn đề ứng tác thơ ca. Tôi tự hạn định mình trong việc theo dõi công việc lao động của đám đông, tìm lai cái cơ chế của lời ăn tiếng nói bình thường là nơi xuất phát của loại thơ ca bình dân ấy, hay để nói ngắn gọn, của loại thơ ca tiếng Việt ấy. Bởi vì tôi đã biết rằng tôi sẽ không bao giờ tìm ra được cơ chế của sự ứng tác thơ cả trong những bài biện luận tài tìn về thiên tài, cũng như trong bài này bài nọ, bàn về phương pháp gieo vần làm thơ, mà đúng là phải đi tìm trong ngôn ngữ học.

Theo phía ấy mà tìm tòi, tôi nghĩ đã thấy ra rằng câu thơ là từ ngôn ngữ có nhịp điệu mà ra, nhất là ngôn ngữ có nhịp điệu của các ngạn ngữ, phương ngôn. Ngôn ngữ ấy không phải là văn xuôi; cũng không hoàn toàn là thơ. Nó được tạo thành bằng những nhóm từ đối xứng, hoặc bằng cách đặt kề nhau hay xen kẽ nhau những từ nhóm đôi được tạo ra bằng các lặp từ, phục thuộc hoặc phối hợp từ.

Như vậy, phương pháp ngôn ngữ học của tôi là phân tích các văn bản, bám theo sự vận hành của cơ chế ngôn ngữ bình dân, chứ không đi trước những cơ chế ấy với những ý kiến đã có sẵn.

Thứ đến, tôi sử dụng phương pháp dân tộc học . Tôi chú ý quan sát các sự kiện. Muốn vậy, tôi đã dùng nhiều cách, ngoài những nhận xét của riêng tôi, bằng những bảng phỏng vấn, tôi đã nhận được nhiều sự chỉ dẫn của nhiều người thông tin bản xứ đang ở Việt Nam hoặc ở Pháp.

Những điều tả ấy được bổ sung bằng cách khai thác thêm sách vở, các bài báo sưu tập. Việc khai thác này không mất công gì ghê gớm lắm: Người ta đã viết về lễ hôi này quá ít. May sao, chúng tôi có được một số tập văn bản có giá trị tư liệu rất quý: có tập là những bài hát, câu ca, có tập là những câu ca dao tục ngữ. Tôi cũng đã sử dụng nhiều cuốn Nam hải dị nhân là sách ghi tiểu sử của các danh nhân, cả một cái kho sự kiện về tín ngưỡng dân gian.

Bằng rất nhiều cách như thế, tôi đã nghiên cứu lễ hội hát đối. Đầu tiên, tôi chú ý tìm hiểu xem nó đã diễn ra ở đâu, vào lúc nào, dưới hình thức nào, trong những điều kiện nào; nó phục vụ cho ai; nó tùy thuộc vào cái gì; vào ai.

Khi đã phân tích xong lễ hội đó, tôi so sánh nó với những sự kiện thứ yếu, kế cận với nó, làm phức tạp thêm việc ứng tác thơ ca sóng đôi trong những ngày hội mùa xuân và mùa thu.

Tôi chú tâm vào đó, không phải là để giải quyết một vài vấn đề nào đó bằng những quy nạp khéo léo, mà là để đặt chúng vào chỗ. Tránh không làm những so sánh rộng rãi, để làm sang tỏ những vấn đè mà lễ dạm hỏi này đặt ra, tôi đã đến viện thực tế Đông Dương khác.

Vậy phương pháp của tôi là phương pháp ngôn ngữ học và dân tộc học. Nó cho phép tôi sử dụng nhiều phương tiện điều tra khác nhau, làm việc không có định kiến, giới hạn và soi sang phạm vi nghiên cứu của mình.

Từ việc điều tra này, tôi tin đã nêu lên được một số kết quả điều tra tích cực…

Trước tiên, việc ứng tác thơ ca là một vấn đề ngôn ngữ, văn hóa giáo dục. Những câu thơ mà người nông dân chúng ta hát lên là từ những ngôn từ dân gian mà ra. Ngôn ngữ có một nội dung biểu cảm kép có thể tách ra được, do sự liên tưởng tạo thành. Người hát, trong cuộc sống bình thường, đã quen phân tích những từ nhóm đôi đó và tách chúng ra để lập thành những từ nhóm đối xứng. Sự đối xứng kép – ngữ nghĩa và ngữ pháp – của các từ trong nhóm tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa các từ với nhau. Ngữ pháp và logic trong câu lệ thuộc vào nhịp điệu, vào những tổ hợp hình ảnh và miêu tả đối xứng nhau.

Sự tương đồng về nghĩa và sự đối xứng về ngữ pháp, đấy là nền tảng của câu thơ rồi. Hai cấu liên tiếp trở thành hai câu thơ khi chúng sóng đôi với nhau. Như vậy, tôi đã chỉ rõ được rằng cách làm thơ tiếng Việt là “ việc cách điệu hóa, chuẩn hóa nhịp điệu của ngôn ngữ” theo đúng công thức của ông Meillet.

Cách làm thơ như vậy có khuynh hướng làm nổi bật những nhóm từ đối xứng, thậm chí sử dụng chúng để biểu đạt những xúc cảm của các nhà văn cũng như của những người ứng tác trong cuộc thi hát của chúng ta.

Như thế là, người hát hằng ngày vẫn nói bằng những nhóm từ đã trở thành những thành ngữ đã có sẵn đối với anh ta. Dẫu không muốn, anh ta cũng đã có một ngôn ngữ có nhịp điệu.

Ngoài ra, tư duy của anh luôn hướng về cái cụ thể: bằng cách liên tưởng, để diễn đạt, biện luận,anh ta xích gần các hình ảnh lại với nhau, đối lập chúng với nhau, tạo nên những phản đề và những tương đồng. Đến những ngày hội ca hát, anh ta chỉ việc làm như thường ngày vẫn làm là xử lý chúng như những “cặp” để rồi ném chúng và những cái khuôn đúc, tức là những khuôn khổ của các nhóm từ. Anh ta chấp nhận, những câu thơ chẵn, sáu và tám từ, trong đó anh ta có thể đưa ra những nhóm hai, ba, và bốn từ thường dùng nhất trong ngôn ngữ hàng ngày.

Hơn nữa, người ứng tác thường vay mượn trong những kho tàng truyền miệng những đoạn nói có vần điệu, những ca dao, tục ngữ. Cần nói thêm rằng việc sử dụng các câu thơ đối với người Việt Nam rất uyển chuyển. Có thể kết hợp những câu thơ cũ thành những bài thơ mới. Nhưng người nông dân không nghĩ rằng cảm hứng thi ca là một việc của ngôn ngữ và giáo dục. Anh ta tin ở cái siêu nhiên. Đối với anh ta, cảm hứng thi ca là một cái gì thần thánh; những câu thơ ứng khẩu là do một bị thần hộ mệnh phán cho, người đó có thể là một anh chàng dốt nát hoặc một người không biết quá mười chữ. Thậm chí anh ta có thể đưa ra một câu trả lời mà không hiểu gì nó cả. Câu đáp đó chỉ được đối phương của anh ta hoặc người đối thoại với anh ta hiểu mà thôi. Vai trò của vị thần ở đây là vai trò kép: một mặt là gây thi hứng cho người được mình phù hộ là kẻ một chữ bẻ làm đôi cũng không biết, mặt khác lại xui khiến cho đối phương cách đặt câu hỏi hoặc hiểu câu trả lời.

Dẫu gì đi nữa, những nhóm từ ấy đều được khai thác trong các bài hát như những đơn vị mỹ học. Qua các đĩa hát và bằng cách ghi chép tại chỗ,tôi đã phân tích được một số bài hát đó. Tôi đã có thể xác định rằng cái mà những người hát tìm kiếm, đấy là những đơn vị mỹ học, những phách mạnh và phách yếu kế tiêp nhau, đối xứng nhau. Tôi đã chỉ rõ rằng: nhịp điệu của câu hát là do những nhóm từ đối xứng tạo nên, và thường thường, muốn có sự đối xứng đó, người Việt sử dụng những từ đệm.Những từ đệm này thường là vô ích đối với nghĩa nhưng lại cực kỳ cần thiết cho nhịp điệu của câu hát. Chúng làm nổi bật lên những từ có ích, nghĩa là những từ có nghĩa nhất định trong câu, đồng thời dùng làm điểm tựa cho hơi thở của người hát.Và vì ngôn ngữ tiếng Việt là một ngôn ngữ độc âm, những từ đệm ấy tránh cho người nghe quá mệt mỏi: vì nếu mọi từ đều có nghĩa cả – tôi muốn nói rằng nếu mọi người đều cần thiết để hiểu câu thơ, câu hát – thì người nghe sẽ chóng mệt.

Tôi cũng chỉ ra rằng lời ca chủ yếu, còn nhạc cụ chỉ đóng một vai trò phụ.

Quả vậy thơ ca dân gian Việt Nam tự nó biết làm say đắm và lôi cuốn mọi phần của tâm hồn con người. Nó thu hút lý trí bằng sự minh bạch của tư duy, bằng sự trong trắng ngây thơ và mạnh dạn của biện luận, bằng sức mạnh của những lời ví von văn chương, của những ngạn ngữ, tục ngữ. Nó làm say đắm lỗ tai bởi sự duyên dáng và hài hòa của một ngôn ngữ tuyệt vời âm vang và giàu nhạc tính, xem lẫn những biểu ngữ kép, những từ tượng thanh, những trạng từ miêu tả, một thứ ngôn ngữ sử dụng những thanh điệu khác nhau để biểu đạt cảm xúc, những thanh điệu cho đến bây giờ chỉ dùng để phân biệt các từ trong các nhóm từ. Nền thi ca ấy còn làm phong phú thêm trí tưởng tượng bằng cái nền thần thoại và truyện kể; giai thoại và chân dung, bằng những liên tưởng đột ngột và bất ngờ.

1934

 

Đọc thêm:

Bộ sưu tập: Đọc để hiểu về nước Việt

Share
Share: