Lịch sử - Văn hoáTôi đọc

Hơn cả Việt Nam: Thời khắc đập tan sự im lặng

mlk_riverside

BookHunter: Vào ngày này, đúng 50 năm trước, Linh mục Martin Luther King đã phát biểu tại nhà thờ Riverside, thành phố New York để lên án chiến tranh tại Việt Nam. Đúng một năm sau đó, ngày 4 tháng 4 năm 1968, Martin Luther King đã bị ám sát. Ông là một nhà hùng biện với nhiều bài nói chuyện gây chấn động nước Mỹ cũng như toàn thế giới. Bài phát biểu “Beyond Vietnam: A time to break silence” là một trong số đó. Chúng tôi xin được lược dịch để giúp độc giả có thêm thông tin và góc nhìn về cuộc chiến diễn ra giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. 

Bài phát biểu đầy đủ bằng tiếng Anh của Linh mục Martin Luther King có thể tìm tại đây: http://www.commondreams.org/views04/0115-13.htm 

***

 

Tôi đến dưới mái nhà linh thiêng kì diệu này tối nay vì lương tâm tôi đã không cho phép bất kì lựa chọn nào khác. Tôi tham gia buổi họp cùng với các bạn vì tôi hoàn toàn nhất trí với tôn chỉ và hoạt động của tổ chức đã đưa chúng ta đến với nhau: tổ chức “Mục sư và giáo dân hành động vì Việt Nam”. Tuyên bố gần đây từ ban điều hành của các bạn cũng là tiếng nói từ trái tim tôi và tôi đồng tình với lời mở đầu của nó: “Thời khắc khi im lặng trở thành sự phản bội đã đến”. Thời khắc đó đã đến đối với chúng ta trong mối bang giao với Việt Nam.

Sự thật của những từ này không cần phải nghi ngờ gì nữa, nhưng cái nhiệm vụ mà nó kêu gọi chúng ta thực hiện thì là một thử thách khó khăn nhất. Kể cả khi bị thúc ép bởi nỗi lòng khơi tỏ sự thật từ bên trong, con người vốn không dễ chấp nhận hành vi phản đối những chính sách của chính phủ, đặc biệt là trong thời chiến. Tương tự, quan điểm của mỗi người cũng không dễ gì lay chuyển mà không gặp phải những thách thức bởi sự lãnh đạm của tư tưởng thủ cựu không chỉ trong lồng ngực một người nào đó mà còn trong toàn xã hội nữa. Hơn thế, khi vấn đề đang được thảo luận dường như bị ai đó làm rối tung lên như người ta vẫn thường làm trong các trường hợp xung đột khủng khiếp như thế này, chúng ta lại ngấp nghé nơi bờ vực đầy mê hoặc của sự mơ hồ, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục.

Một vài người trong số chúng ta, những người đã bắt đầu lên tiếng, nhận ra rằng việc “lên tiếng” thường chẳng dễ dàng gì, nhưng ta không thể im lặng mãi. Chúng ta phải lên tiếng với tất cả sự khiêm nhường vì tầm nhìn hạn chế của bản thân. Và chúng ta cũng nên vui mừng, dĩ nhiên là vậy, vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử quốc gia, khá đông các nhà lãnh đạo tôn giáo đã lựa chọn vượt lên trên những dự liệu về chủ nghĩa ái quốc để có được một sự phản đối cứng rắn phù hợp với chuẩn mực đạo đức dựa trên lương tâm và sự phán xét của lịch sử..

Trong hơn hai năm qua, khi tôi tiêu diệt sự phản bội của tiếng câm lặng của chính mình và cất lời từ chính trái tim đang rực cháy của bản thân, khi tôi đang kêu gọi sự rút lui quyết liệt khỏi chiến tranh khốc liệt ở Việt Nam, nhiều người đã nghi ngờ vào sự sáng suốt của con đường tôi chọn. Sự nghi ngờ này thường bị phóng đại lên trong trung tâm nỗi lo của họ: Tại sao ngài lại nói về chiến tranh, tiến sĩ King? Tại sao ngài lại tham gia phản đối? Hòa bình và quyền công dân là hai thứ khác nhau, họ nói. Và khi tôi lắng nghe, dù hiểu rằng sự lo lắng ấy bắt nguồn từ đâu, nhưng tôi không thể ngăn bản thân khỏi nỗi buồn vô hạn, bởi đặt ra những câu hỏi như thế, có nghĩa rằng họ vẫn chưa thật sự hiểu tôi, cũng như cam kết và lời kêu gọi của tôi. Hơn nữa, nỗi băn khoăn ấy cho thấy rằng họ không biết gì về thế giới mà họ đang sống.

Vậy nên, tôi nhận ra điều quan trọng ở đây là cần cố gắng diễn đạt từ ngữ rõ nghĩa, và tôi tin vào lí do mà tôi đặt niềm tin rằng, con đường từ nhà thờ Dexter Avenue Baptist – nhà thờ ở Montgomery, bang Alabama, nơi tôi bắt đầu làm mục sư – đã dẫn tới khu bảo tồn này tối nay.

Tối nay, tôi đứng trên bục này để tha thiết khẩn cầu đất nước thân yêu của mình. Những gì tôi đang nói không nhằm hướng tới Hà Nội hay Mặt trận giải phóng dân tộc (MTGPDT), cũng không ám chỉ Trung Quốc hay Nga.

Đây cũng chẳng phải là nỗ lực gạt bỏ sự mơ hồ của toàn cảnh vấn đề và sự cần thiết có một giải pháp toàn diện cho thảm kịch ở Việt Nam. Càng không phải nỗ lực biến miền Bắc Việt Nam hay MTGPDT trở thành một hình mẫu biểu tượng, hay lờ đi vai trò của họ trong việc giải quyết thành công vấn đề. Trong khi cả hai (miền Bắc Việt Nam và MTGPDT) có những lí do chính đáng để nghi ngờ vào niềm tin tốt đẹp của tôi ở nước Mỹ, cuộc sống và lịch sử đưa ra những minh chứng hùng hồn cho sự thật rằng mâu thuẫn sẽ không bao giờ được giải quyết nếu thiếu đi sự cho – nhận đầy tin tưởng ở cả hai phía xung đột.

Dẫu sao, tôi đang không nói với Hà Nội và MTGPDT, mà tôi nói với những người anh em Mỹ, những người mà, cùng với tôi, có trách nhiệm cao cả nhất trong việc chấm dứt sự xung đột đã đem lại cái giá quá đắt cho cả hai lục địa.

Tầm quan trọng của Việt Nam

Là một nhà truyền giáo được đào tạo bài bản, có lẽ các bạn không ngạc nhiên khi thấy tôi có thể đưa ra dưới đây bảy lí do chính để đưa Việt Nam vào tầm nhìn đạo đức của mình. Ngay từ đầu, đã có một mối liên kết rất rõ ràng và gần như hiển nhiên giữa cuộc chiến ở Việt Nam và những gian khổ mà tôi và những người khác đang phải đương đầu ở Mỹ. Vài năm về trước ta thấy xuất hiện một tia hy vọng trong quá trình gian khổ đó. Khi ấy, dường như đã có một hy vọng rất thực dành cho tầng lớp nghèo khổ – cả người da trắng lẫn da đen – thông qua một chương trình xóa đói giảm nghèo. Đã có những thử nghiệm, hy vọng, những khởi đầu mới. Thế rồi, quá trình xâm lược Việt Nam diễn ra và tôi đứng nhìn chương trình ấy tan vỡ và bị cắt xén như thế nó chỉ là một món đồ chơi chính trị lúc nhàn rỗi của một xã hội phát điên vì chiến tranh. Và tôi biết, rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ đầu tư tiền và lực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo chừng nào mà những cuộc phiêu lưu như chiến tranh Việt Nam còn tiếp tục lấy đi nhân lực, tài năng và tiền của như một cái ống hút ma quỷ phá hoại không ngừng. Vì thế mà tôi buộc phải coi chiến tranh như kẻ thù của người nghèo và chiến đấu với nó như với kẻ thù vậy.

Có lẽ tôi đã có được cái nhìn bi thảm hơn về thực tế đang diễn ra khi mọi việc trở nên rõ ràng hơn ở chỗ, cuộc chiến này đang không chỉ tàn phá hy vọng của người nghèo nơi quê nhà. Cuộc chiến đã cướp đi những người con trai, những người anh em, những người chồng để đem ra chiến trường và để họ chết với tỉ lệ cao hơn hẳn phần còn lại của dân số nước Mỹ. Chúng ta đưa những thanh niên da đen không có khả năng chống cự đi tám nghìn dặm để bảo đảm quyền tự do ở Đông Nam Á, thứ mà họ còn chẳng tìm thấy ở phía tây nam Georgia và khu Đông Harlem. Và chúng ta còn phải liên tục đối mặt với sự mỉa mai tàn độc khi xem người da đen và những cậu bé da trắng trên màn hình TV khi họ cùng giết người và hy sinh vì một đất nước còn chẳng thể đặt họ vào chung một mái trường. Vậy là, chúng ta xem họ, chung tay đốt cháy ngôi làng nghèo khổ một cách dã man để rồi nhận ra rằng, họ sẽ chẳng bao giờ sống chung trong một khu phố ở Detroit. Tôi không thể câm lặng mãi khi phải đối mặt với những hành động nhẫn tâm như vậy với người nghèo.

Lí do thứ ba của tôi chuyển sang mức độ nhận thức sâu sắc hơn, vì nó bắt nguồn từ kinh nghiệm của tôi ở những khu ổ chuột phía bắc trong hơn ba năm qua – nhất là trong ba mùa hè qua. Khi tôi đi giữa những thanh niên trẻ tức giận, cô độc và tuyệt vọng, tôi đã nói với họ rằng cocktail Molotov và súng trường chẳng thể giải quyết được những vấn đề của họ đâu. Tôi cố thể hiện lòng cảm thông sâu sắc nhất trong khi vẫn duy trì niềm tin rằng xã hội thay đổi một cách có ý nghĩa nhất thông qua các hành động phi bạo lực. Nhưng ngay lập tức, họ hỏi: “Thế còn Việt Nam thì sao?”. Họ hỏi, phải chăng chính đất nước chúng ta không dùng hàng tá vũ lực để giải quyết vấn đề, để mang đến sự thay đổi mà nó muốn hay sao. Câu hỏi của họ đã đánh trúng trọng tâm, và tôi biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ có thể cất tiếng nói phản đối bạo lực đối với tầng lớp bị áp bức trong các khu ổ chuột mà không lên tiếng với nhà cung cấp vũ khi lớn nhất thế giới hiện nay – chính phủ của chúng ta. Vì những cậu trai ấy, vì chính phủ này, vì hàng trăm ngàn tiếng rên xiết dưới gông xiềng bạo lực của nước Mỹ, tôi không thể im lặng.

Gửi tới những người đặt ra câu hỏi: “Nhưng chẳng phải ông là lãnh đạo phong trào dân quyền hay sao?” và những người khác muốn loại trừ tôi ra khỏi cuộc vận động vì hòa bình, tôi có câu trả lời cho họ đây. Vào năm 1957 khi chúng ta thành lập Hội nghị lãnh đạo thiên chúa giáo miền Nam, khẩu hiệu được đặt ra là: “Cứu rỗi linh hồn nước Mỹ.” Ta tin rằng tầm nhìn của mình không thể bị giới hạn ở những quyền nhất định cho người da đen, mà thay vào đó khẳng định niềm tin rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ được tự do hay cứu rỗi khỏi chính nó nếu hậu duệ của những người nô lệ chưa được giải thoát hoàn toàn khỏi những chiếc cùm mà họ đang đeo. Theo một cách nào đó, ta đồng ý với Langston Hughes, nhà thơ da đen ở Harlem, người từng viết những dòng này:

“Ôi, vâng, tôi nói, nước Mỹ đối với tôi chưa từng là nước Mỹ, thế nhưng tôi thề rằng, nước Mỹ rồi sẽ khác!”

Có thể thấy rất rõ rằng không có ai có thể quan tâm đến sự chính trực và cuộc sống ở Mỹ mà lại lờ đi cuộc chiến đang diễn ra ngay lúc này. Nếu linh hồn nước Mỹ bị đầu độc hoàn toàn, có lẽ một phần của cuộc khám nghiệm tử thi sẽ tìm thấy chiến tranh Việt Nam là một phần của chất độc đó. Linh hồn Mỹ sẽ không bao giờ được cứu rỗi chừng nào nó còn hủy hoại những hy vọng sâu kín nhất của con người trên thế giới. Thế nên những người trong chúng ta còn hi vọng vào một nước Mỹ tốt đẹp hơn chỉ còn một con đường duy nhất là biểu tình và bất đồng chính kiến, cùng hành động vì sự khỏe mạnh của vùng đất thân thương này.

Như thể gánh nặng của cam kết với cuộc sống và sức khỏe nước Mỹ là chưa đủ, một trọng trách khác lại được đặt lên tôi vào năm 1964; và tôi cũng không được quên rằng giải thưởng Nobel vì hòa bình cũng là một trọng trách – một trọng trách buộc tôi phải làm việc tích cực hơn bao giờ hết vì “tinh thần cộng đồng”. Đây là một yêu cầu buộc tôi phải vượt lên trên cả tinh thần ái quốc, nhưng nếu ngay cả thứ ấy cũng không tồn tại thì tôi phải sống với trách nhiệm là một mục sư của chúa Jesus Christ. Với tôi, mối quan hệ giữa việc làm mục sư với việc thiết lập hòa bình là quá hiển nhiên, đến nỗi, đôi khi tôi cảm thấy ngạc nhiên trước những người đặt ra câu hỏi tại sao tôi lại lên tiếng phản đối chiến tranh. Chẳng lẽ họ không biết rằng những điều tốt lành sinh ra là dành cho tất cả mọi người – cho cộng sản và tư bản, cho những đứa trẻ của họ và cả của chúng ta, cho người da màu và người da trắng, cho những nhà cách mạng và cả những người ôn hòa? Chẳng lẽ những người đó quên rằng công việc của tôi là vâng theo lời của người đã yêu thương kẻ thù của mình đến nỗi chấp nhận cái chết vì họ? Vậy thì tôi biết nói sao với những người “Việt cộng”, hay Castro hay Mao Trạch Đông, nhân danh một người con của Chúa? Liệu tôi có thể dọa giết họ hay có phải tôi không được phép sẻ chia cuộc sống của mình với họ đúng không?

Cuối cùng, khi tôi cố gắng khắc họa cho các bạn cũng như cho chính tôi con đường dẫn từ Montgomery tới đây, tôi đã có thể đưa ra những gì dễ đi vào lòng người nhất nếu tôi đơn giản nói rằng, tôi phải thành thật với niềm tin của mình, rằng tôi chia sẻ với mọi người lời kêu gọi trở thành đứa con của Chúa. Nhưng, trên cả lời kêu gọi chủng tộc hay quốc gia hay tín ngưỡng là ơn thiên triệu của ý chí cùng tình đoàn kết, và tôi tin rằng Cha đặc biệt lo lắng cho những đứa trẻ không nhà, vô vọng và đau khổ của Người, nên tối nay tôi ở đây để cất tiếng nói cho những con người ấy.

Tôi tin rằng đây là đặc quyền và cũng là gánh nặng cho tất cả chúng ta, những người gắn trách nhiệm với tinh thần thần yêu nước, thứ mang ý nghĩa rộng và sâu hơn cả chủ nghĩa dân tộc, thậm chí vượt lên trên những thánh tựu tự xưng và địa vị xã hội của đất nước. Chúng ta được kêu gọi để lên tiếng vì kẻ yếu, vì những người thấp cổ bé họng, vì những nạn nhân của quốc gia và những người ta gọi là kẻ thù, vì chẳng có tài liệu nào do loài người viết ra có thể khiến những con người ấy không đáng để là anh em của chúng ta.

Những nhà giải phóng lạ kỳ

Trong khi suy xét sự điên loạn ở Việt Nam và tìm cách để hiểu, giải thích cho lòng trắc ẩn trong mình, tâm trí tôi không ngưng nghĩ về những con người nơi đó. Tôi đang không nói đến những người lính của hai phe hay chính quyền Sài Gòn, mà chỉ đơn giản là những con người đã phải gánh chịu lời nguyền chiến tranh trong suốt gần ba thập kỉ qua. Tôi nghĩ về họ vì với tôi, hiển nhiên sẽ chẳng có giải pháp nào là hiệu quả nếu chúng không bao gồm nỗ lực để hiểu và lắng nghe tiếng khóc đau thương từ họ.

Chắc hẳn họ phải nhìn người Mỹ như một đội quân giải phóng lạ kỳ. Người Việt Nam đã tuyên bố độc lập vào năm 1945 sau sự đô hộ cùng lúc của Pháp và Nhật, và trước cuộc cách mạng Cộng sản ở Trung Quốc. Họ được dẫn dắt bởi Hồ Chí Minh. Cho dù họ đã dẫn lời trong bản tuyên ngôn độc lập nước Mỹ vào chính bản tuyên ngôn độc lập của họ, chúng ta vẫn từ chối công nhận nền độc lập của Việt Nam. Thay vào đó, nước Mỹ quyết định hỗ trợ Pháp trong cuộc tái chiếm thuộc địa cũ.

Chính phủ nước Mỹ cảm thấy rằng người Việt Nam chưa “sẵn sàng” để được tự do, và thế là chúng ta lại trở thành nạn nhân của sự ngạo mạn Tây phương, thứ đã đầu độc bầu không khí chính trị quốc tế trong một thời gian dài. Với quyết định tồi tệ ấy, ta chối bỏ một chính phủ cách mạng đang cố giành quyền tự quyết, một chính phủ không được thành lập bởi Trung Quốc (một đất nước mà người Việt Nam không hề có cảm tình) mà hoàn toàn bởi những người bản xứ bao gồm vài người Cộng sản. Đối với nông dân, thành lập chính phủ mới đồng nghĩa với việc đất đai sẽ được phân chia lại, một trong những điều quan trọng nhất đối với họ lúc này.

Trong chín năm sau 1945 ta phủ nhận quyền độc lập của Việt Nam. Trong chín năm ta hăng hái hỗ trợ Pháp trong nỗ lực phá hoại nhằm tái chiếm thuộc địa.

Trước khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta đã chi trả tới tám mươi phần trăm tổn phí chiến tranh cho Pháp. Ngay từ trước khi thất bại ở trận Điện Biên Phủ, người Pháp đã trở nên tuyệt vọng, thể hiện qua những hành động bất cần và cẩu thả, nhưng chúng ta thì không. Nước Mỹ động viên họ bằng nguồn tài chính và quân sự khổng lồ để tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã không còn ham muốn đánh nhau. Sớm thôi, chúng ta sẽ chi trả hầu hết số tiền cho nỗ lực thảm hại này trong cuộc tái chiếm thuộc địa.

Sau khi người Pháp thua cuộc, có vẻ như độc lập và sự phân chia ruộng đất sẽ trở lại nhờ hiệp định Geneva. Nhưng rồi Mỹ lại đến can thiệp, nói rằng Hồ Chí Minh không nên thống nhất một đất nước đang bị chia cắt tạm thời, và một lần nữa người nông dân đứng nhìn nước Mỹ hỗ trợ cho một trong những kẻ độc tài xấu xa nhất thời hiện đại – người mà chúng ta đã chọn ra, thủ tướng Diệm. Nông dân đau đớn trước cảnh Diệm tàn nhẫn triệt hạ mọi thành phần phản đối chính phủ của hắn, bênh vực những địa chủ chỉ biết bóc lột và từ chối ngay cả đề nghị đàm phán thống nhất đất nước của miền bắc. Người nông dân đứng nhìn tất cả mọi thứ bị thao túng bởi sự tác động và bởi số lượng quân đội gia tăng của Mỹ, những người đến đàn áp các cuộc nổi dậy bằng phương pháp mà Diệm áp dụng. Khi Diệm bị lật đổ, có thể họ vui mừng thật đấy, nhưng một chuỗi dài những chế độ độc tài quân sự dường như không mang lại một thay đổi thật sự nào – nhất là trong nhu cầu về đất đai và hòa bình của họ.

Sự thay đổi duy nhất mà nước Mỹ mang đến là khi chúng ta gia tăng các cam kết quân sự để ủng hộ một chính phủ tham nhũng lại là vô nghĩa và không được đồng tình bởi số đông. Trong khi đó, người dân đọc những tờ truyền đơn của Mỹ và được nhận hàng tá những hứa hẹn về hòa bình và dân chủ – cùng với tái phân chia ruộng đất. Giờ thì họ đau đớn dưới làn bom đạn của chúng ta và đã coi chúng ta – chứ không phải những người anh em Việt Nam của họ – là kẻ thù đích thực. Họ như người mất hồn, buồn bã khi ta dồn họ ra khỏi mảnh đất của tổ tiên vào các trại tập trung, nơi mà ít khi đáp ứng được những nhu cầu sống thiết yếu nhất. Họ biết họ phải di tản nếu không sẽ chết dưới làn mưa bom của chúng ta. Và thế nên họ phải đi – phần lớn là phụ nữ, trẻ em và người già.

Họ đứng nhìn khi chúng ta đầu độc nguồn ngước, khi chúng ta hủy hoại hàng trăm nghìn héc-ta ruộng đất. Họ chắc đã khóc khi xe ủi đất kéo qua nơi ở của họ và phá hủy những cây trồng quý giá. Họ vào bệnh viện, với ít nhất hai mươi người bị thương vong chỉ vì hỏa lực của người Mỹ đang nhằm vào một người “Việt cộng”. Cho đến nay chúng ta có lẽ đã giết khoảng một triệu người Việt Nam mà phần lớn là trẻ em. Họ vào trong thành phố và thấy hàng ngàn đứa trẻ vô gia cư, trần truồng, chạy thành hàng đàn trên đường phố như những con vật. Họ thấy trẻ con, bị khinh rẻ bởi những người lính Mỹ khi chúng chìa tay ăn xin. Họ thấy những đứa trẻ bán đi người chị em của mình cho những tên lính để xin trả lại mẹ cho chúng.

Những người nông dân nghĩ gì khi chúng ta bắt tay với các địa chủ và từ chối đưa ra bất kì hành động nào liên quan tới những hứa hẹn tái phân chia đất? Họ nghĩ gì khi chúng ta thử nghiệm những loại vũ khí mới nhất ở Việt Nam, cũng giống như người Đức thử những phương thuốc và cách tra tấn mới ở các trại tập trung châu Âu? Gốc rễ của một Việt Nam tự do mà chúng ta đã tuyên bố xây dựng giờ ở đâu? Có phải trong những hành động không được hứa hẹn này không?

Chúng ta đã phá hủy hai thứ thân thương nhất với họ: gia đình và làng xóm. Chúng ta đã phá hủy ruộng đất và mùa màng của họ. Chúng ta đã hợp tác trong việc phá hủy lực lượng chính trị cách mạng phi cộng sản duy nhất của quốc gia – ngôi chùa phật giáo thống nhất. Chúng ta đã hỗ trợ cho kẻ thù của nông dân tại Sài Gòn. Chúng ta hãm hại phụ nữ, trẻ em và giết những người đàn ông của họ. Giải phóng ở đâu ra?

Giờ hầu như chẳng còn gì để cứu vãn nữa rồi – nên hãy giữ lấy cho mình những cay đắng. Sớm thôi, những gì còn lại của các cơ sở vững chắc duy nhất còn tồn tại sẽ được tìm thấy trong những căn cứ quân sự và trong những trại tập trung mà ta gọi là các ấp chiến lược. Người nông dân chắc hẳn thắc mắc có phải chúng ta định xây dựng một Việt Nam mới trên những nền móng như thế? Liệu ta có thể trách họ vì có những suy nghĩ ấy không? Chúng ta phải lên tiếng cho họ và đặt những câu hỏi mà họ không được hỏi. Người Việt Nam cũng là anh em của chúng ta.

Có lẽ một nhiệm vụ tuy khó hơn nhưng không kém phần cần thiết đó là lên tiếng vì những người được cho là kẻ thù quốc gia. Thế nào được gọi là Mặt trận giải phóng dân tộc – một nhóm người vô danh kì lạ mà ta gọi là VC hay Cộng sản? Họ phải nghĩ gì về chúng ta khi nhận ra rằng chúng ta đã đồng thuận với sự đàn áp tàn bạo của Diệm, thứ đã buộc họ trở thành một nhóm kháng chiến ở miền nam? Họ nghĩ gì về việc chúng ta sử dụng bạo lực, thứ đã khiến cho họ phải tự trang bị vũ khí? Làm sao họ có thể tin vào phẩm giá của người Mỹ khi giờ chúng ta nói về “sự xâm lược từ phía bắc” như thể chẳng có gì quan trọng hơn trong chiến tranh? Làm sao họ có thể tin chúng ta khi ta buộc tội họ sử dụng bạo lực sau chế độ độc tài chết người của Diệm và buộc tội họ sử dụng bạo lực khi chúng ta thử mọi loại vũ khí tử thần mới lên vùng đất của họ? Hiển nhiên chúng ta phải hiểu được cảm xúc của họ ngay cả khi ta không ủng hộ tư tưởng của họ. Hiển nhiên chúng ta phải thấy rằng những người mà ta đang ủng hộ đã buộc họ phải dùng đến vũ lực. Hiển nhiên ta phải thấy rằng những kế hoạch phá hủy tinh vi của chúng ta chỉ làm cho những hành động vĩ đại nhất của họ có vẻ bớt vĩ đại đi thôi.

Họ sẽ đánh giá người Mỹ như thế nào khi các cơ quan của chúng ta biết rằng số thành viên của họ chỉ có chưa đầy hai mươi lăm phần trăm là Cộng sản nhưng vẫn kiên quyết cho họ một cái tên chung chung là Cộng sản? Họ sẽ nghĩ gì nếu biết rằng chúng ta nhận thức được họ kiểm soát các khu vực trọng yếu của Việt Nam nhưng vẫn sẵn sàng chấp thuận bầu cử quốc gia trong đó không có phần nào cho bộ máy chính trị đang tồn tại song song là họ? Họ hỏi tại sao chúng ta có thể nói đến bầu cử tự do trong khi báo Sài Gòn bị kiểm duyệt và kiểm soát bởi ủy ban quân sự. Và họ có quyền thắc mắc rằng chúng ta định thành lập một chính phủ mới như thế nào nếu không có họ – đảng duy nhất có quan hệ gần gũi với người nông dân. Họ đặt câu hỏi cho những mục tiêu chính trị của chúng ta và họ từ chối một nền hòa bình mà trong đó họ sẽ bị triệt bỏ. Những câu hỏi của họ là hoàn toàn xác đáng. Có phải nước Mỹ đang lên kế hoạch một lần nữa dựng lên một thứ huyền thoại chính trị và rồi đập tan nó đi bằng quyền năng của một kiểu bạo lực mới?

Và đây mới là ý nghĩa và giá trị đích thực của lòng trắc ẩn và phi bạo lực, nó giúp ta nhìn từ góc độ của kẻ thù, để lắng nghe những băn khoăn của anh ta, để biết anh ta đánh giá chúng ta như thế nào. Từ thế giới quan của kẻ thù mà ta nhìn thấu được những điểm yếu cơ bản của chính mình, và nếu ta đủ chín chắn, ta có thể học hỏi, phát triển và làm lợi từ sự thông thái của những người anh em mà ta coi như kẻ thù.

Tương tự như vậy với Hà Nội. Ở phía bắc, nơi mà những trận bom xới tung đất đai và những bom mìn của ta đe dọa đường thủy, chúng ta phải nhận lấy sự nghi ngờ sâu sắc nhưng cũng dễ hiểu thôi. Lên tiếng cho họ đồng nghĩa với giải thích cho việc mất lòng tin vào những hứa hẹn của phương Tây, đặc biệt là trong những mưu đồ của người Mỹ hiện tại. Ở Hà Nội là những người đã dẫn dắt một quốc gia giành lại độc lập từ tay người Nhật và người Pháp, là những người muốn đưa đất nước trở thành thành viên của liên bang Pháp nhưng lại bị phản bội bởi sự nhu nhược của Paris và sự ngoan cố của quân đội thuộc địa. Họ đã dẫn dắt cuộc chiến thứ hai chống lại Pháp với tổn phí cao ngất ngưởng, và rồi bị thuyết phục từ bỏ dải đất từ vĩ tuyến mười ba đến vĩ tuyến mười bảy mà họ đang kiểm soát như một biện pháp tạm thời tại hội nghị Geneva. Sau năm 1954, họ theo dõi nước Mỹ cùng với Diệm âm mưu ngăn chặn cuộc bầu cử sẽ đưa Hồ Chí Minh lên nắm quyền trên toàn bộ Việt Nam, rồi họ nhận ra một lần nữa họ bị mắc lừa.

Khi ta thắc mắc tại sao họ không thương lượng, xin hãy nhớ những điều sau. Cần thấy rõ rằng ban lãnh đạo ở Hà Nội đã coi sự có mặt của quân đội Mỹ nhằm hỗ trợ cho chính quyền của Diệm là sự vi phạm về quân sự đầu tiên trong hiệp định Geneva về can thiệp của quân sự ngoại quốc. Và xin nhắc rằng họ chỉ bắt đầu đưa một lượng lớn viện trợ quân sự vào khi các lực lượng phía Mỹ đã lên đến hàng chục ngàn.

Hà Nội thấy chính phủ Mỹ đã từ chối cho chúng ta biết sự thật về việc trước đó miền bắc Việt Nam đã bảo vệ hòa bình thành công. Hồ Chí Minh đã chứng kiến nước Mỹ nói về hòa bình và xây dựng lực lượng, và giờ thì chắc chắn ông ấy đã nghe được những tin đồn đang gia tăng về các kế hoạch xâm lược miền bắc của Mỹ. Ông ấy biết những cuộc đánh bom, bắn phá và khai thác mỏ quặng mà chúng ta đang làm là một phần của chiến lược tiền-xâm lăng điển hình. Có lẽ chỉ có khiếu hài hước và châm biếm mới cứu nổi ông ấy khi phải nghe một đất nước hùng mạnh nhất thế giới nói về tính hiếu chiến trong lúc chính nó đang thả hàng nghìn quả bom xuống một đất nước yếu đuối nghèo nàn ở cách xa tám nghìn dặm.

Đến thời điểm này, tôi cần phải làm rõ, rằng trong khi đang tranh thủ một vài phút cố gắng lên tiếng cho những người Việt Nam không có tiếng nói và cố gắng hiểu lí lẽ của những người mà ta gọi là kẻ thù, tôi thật sự lo ngại về đội quân của chúng ta. Vì tôi hiểu rằng những gì chúng ta đang xem xét ở Việt Nam không đơn giản là một quá trình tàn bạo trong một cuộc chiến bất kì nào đó nơi mà kẻ thù đối mặt và tiêu diệt lẫn nhau. Chúng ta đang làm gia tăng sự nghi ngờ về con đường dẫn tới địa ngục, vì sau một thời gian ngắn, lính Mỹ phải biết rằng mình đang không chiến đấu vì những thứ mà trước đó được chính phủ nói đến. Họ phải sớm nhận ra rằng chính phủ của họ đã đưa họ vào một cuộc đấu tranh giữa những người Việt Nam, và những người lính tinh ý hơn chắc chắn nhận ra rằng chúng ta đang ở bên phía giàu có và an toàn trong khi tạo ra bể khổ cho kẻ lầm than.

Sự điên loạn này cần phải dừng lại

Bằng cách nào đó, sự điên loạn này cần được ngăn chặn. Chúng ta phải dừng lại ngay lập tức. Tôi lên tiếng nhân danh một người con của Chúa và một người anh em của những người Việt Nam đói khổ. Tôi lên tiếng cho những người có ruộng đất bị lãng phí, có nhà bị thiêu rụi, có nền văn hóa bị tàn phá. Tôi lên tiếng cho những người nghèo ở Mỹ, những người đang phải trả một lúc hai cái giá, một là những hi vọng ở nhà bị đập vỡ và hai là những cái chết cùng với sự tham nhũng tại Việt Nam. Tôi lên tiếng, nhân danh một công dân của thế giới, vì thế giới,  khi nó kinh hãi nhìn vào con đường chúng ta đang đi. Tôi lên tiếng nhân danh một người Mỹ nói với những người lãnh đạo của chính đất nước mình. Chúng ta là phe chủ động trong cuộc chiến này. Vậy chúng ta phải chủ động ngăn chặn nó lại.

Đây là thông điệp của những nhà tu hành phật giáo vĩ đại ở Việt Nam. Một trong số họ đã viết những dòng như sau:

“Mỗi ngày cuộc chiến tranh tiếp diễn là thêm một ngày lòng căm ghét gia tăng trong trái tim của người Việt Nam và trong trái tim của những người có lương tâm. Người Mỹ đang cố biến ngay cả bè bạn trở thành kẻ thù. Thật kì lạ là người Mỹ, những người tính toán rất chu toàn về khả năng thành công quân sự, lại không nhận ra rằng trong quá trình này họ đang thất bại sâu cả về tâm lí và chính trị. Hình tượng nước Mỹ sẽ không bao giờ còn có thể là hình tượng của cách mạng, tự do và dân chủ nữa, mà là về bạo lực và quân phiệt.”

Nếu cứ tiếp tục, không chỉ tôi mà toàn thế giới sẽ tin chắc rằng chúng ta không có bất kì mục đích cao cả nào ở Việt Nam. Mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng rằng kì vọng tối thiểu của chúng ta là đưa Việt Nam trở thành một thuộc địa của Mỹ, và sẽ chẳng có ai ngăn nổi ý nghĩ rằng kì vọng tối đa của chúng ta là dẫn Trung Quốc vào một cuộc chiến tranh để Mỹ có thể ném bom các nhà máy hạt nhân của họ. Nếu không lập tức dừng cuộc chiến đối đầu với người Việt Nam, thế giới sẽ chỉ thấy rằng chúng ta đã quyết định chơi một trò chơi vụng về tồi tệ và chết chóc.

Thế giới hiện đòi hỏi một sự chín chắn mà nước Mỹ chưa thể có. Nó yêu cầu ta phải thừa nhận sai lầm của mình ngay từ đầu chuyến hành trình đến Việt Nam, rằng chúng ta đã phá hoại cuộc sống của người Việt Nam. Đây là vấn đề mà ta cần sẵn sàng để quay đầu nhìn lại.

Để bù đắp cho những tội lỗi và sai lầm ở Việt Nam, ta nên chủ động dừng cuộc chiến đau thương này lại. Tôi xin đưa ra năm đề xuất với chính phủ để thực hiện ngay lập tức nhằm bắt đầu quá trình dai dẳng và khó khăn nhằm đưa chúng ta ra khỏi thứ xung đột kinh hoàng này:

  1. Dừng mọi cuộc thả bom ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam.
  2. Tuyên bố một lệnh ngừng bắn đơn phương với hy vọng mở đường cho đàm phán.
  3. Ngay lập tức thực hiện những biện pháp ngăn chặn các chiến trường khác ở Đông Nam Á bằng cách giảm bớt sự gia tăng quân sự ở Thái Lan và can thiệp quân sự ở Lào.
  4. Chấp nhận thực tế rằng MTGPDT đóng góp sự hỗ trợ đáng kể ở miền nam Việt Nam và do đó phải có vị trí trong mọi cuộc đàm phán quan trọng và trong bộ máy chính phủ Việt Nam tương lai.
  5. Ra hạn ngày rút quân khỏi Việt Nam dựa trên hiệp định Geneva năm 1954.

Một phần của lời cam kết đang được thực hiện dưới hình thức cho phép tị nạn với bất kì người Việt Nam nào cảm thấy lo sợ phải sống dưới chế độ bao gồm MTGP. Sau đó chúng ta cần bù đắp những tổn thương đã gây ra. Ta phải cung cấp viện trợ y tế thiết yếu, khiến cho nó luôn sẵn có để phục vụ ở đất nước này nếu cần.

Phản đối chiến tranh

Khi đó, chúng ta, tại các nhà thờ và giáo đường, có một nhiệm vụ cần tiếp tục được thực hiện trong lúc thúc giục chính phủ tự giải phóng mình khỏi cái vòng nhục nhã này. Ta phải lên tiếng nếu đất nước chúng ta cứ trói mình trong những luẩn quẩn bế tắc ở Việt Nam. Ta phải chuẩn bị để đưa hành động đi đôi với lời nói bằng việc tìm kiếm mọi phương cách phản đối có thể.

Trong khi giải thích cho những người thanh niên về nghĩa vụ quân sự, ta phải cho họ thấy rõ vai trò của nước Mỹ ở Việt Nam và thử thách họ bằng một lựa chọn khác đó là phản đối có ý thức. Tôi rất vui khi nói rằng đây là con đường đã được chọn bởi hơn bảy mươi sinh viên ở trường cũ của tôi, cao đẳng Morehouse, và tôi cũng xin lưu ý nó với tất cả những ai cảm thấy rằng hành động của Mỹ ở Việt Nam là đáng xấu hổ và đầy bất công. Hơn nữa, tôi khuyến khích tất cả các vị bộ trưởng trong độ tuổi nhập ngũ từ bỏ quyền lợi miễn nhiệm nghĩa vụ của họ và trở thành một người phản đối có lương tâm. Đây là thời điểm cho những lựa chọn đúng đắn. Ta cần phải đánh cược số mệnh của mình nếu đất nước của chúng ta cứ tiếp tục sự điên loạn của nó. Mỗi người với niềm tin nhân đạo của mình cần lựa chọn cách phản đối phù hợp với niềm tin ấy, nhưng nhất định đều phải phản đối.

Có một điều gì đó lôi kéo chúng ta dừng lại và ném chúng ta trở lại cái mà trong một số cộng đồng đã trở thành một cuộc thánh chiến trong cuộc chiến tại Việt Nam. Tôi nói chúng ta phải bước vào cuộc chiến này, nhưng giờ có một điều còn lo ngại hơn mà tôi phải nói ra. Chiến tranh ở Việt Nam chỉ là triệu chứng cho căn bệnh đã ăn sâu trong linh hồn nước Mỹ, và nếu lờ đi thực trạng đau đớn này, thì những gì chúng ta đang làm sẽ là tổ chức các ủy ban giáo sĩ và giáo dân cho thế hệ tiếp theo. Chúng sẽ phải lo cho Goa-tê-ma-la và Pê-ru. Chúng sẽ phải lo cho Thái Lan và Cam-pu-chia. Chúng sẽ phải lo cho Mô-dăm-bích và Nam Phi. Chúng ta trong tương lai sẽ tổ chức diễu hành vì những nước này và hàng tá các nước khác cùng các cuộc mít-tinh không ngừng nghỉ trừ khi có một sự thay đổi rõ rệt và sâu sắc trong đời sống và chính sách của Mỹ. Những tư tưởng như thế đưa chúng ta vượt lên trên cả Việt Nam, nhưng không vượt lên trên lời kêu gọi của chúng ta nhân danh những đứa con của Chúa.

Vào năm 1957, một viên chức Mỹ khá nhạy bén ở nước ngoài đã nói rằng, đối với ông ấy, có vẻ như đất nước chúng ta đang ở không đúng phía trong cuộc cách mạng thế giới. Trong suốt mười năm qua, chúng ta đã thấy một hình thức đàn áp nổi lên như một minh chứng cho sự xuất hiện của “cố vấn” quân sự Mỹ ở Venezuela. Hay sự cần thiết để duy trì ổn định xã hội cho các khoản đầu tư đối với các hành động phản cách mạng của lực lượng Mỹ ở Goa-tê-ma-la. Hoặc lời giải thích cho việc tại sao trực thăng Mỹ được sử dụng để chống lại du kích Cô-lôm-bi-a và tại sao bom napalm và lính Mỹ lại được đưa ra để chống lại quân nổi dậy ở Pê-ru. Với những việc làm trên của nước Mỹ, ta nhớ lại câu nói đầy ám ảnh của John F. Kennedy. Năm năm về trước, ông nói: “”Those who make peaceful revolution impossible will make violent revolution inevitable.” (Người khiến cách mạng hòa bình bất khả thi chắc chắn sẽ khiến cách mạng bạo lực xảy ra.)

Dù vô tình hay cố ý, đây là lựa chọn của đất nước chúng ta – lựa chọn trở thành những người khiến cách mạng hòa bình bất khả thi bằng cách không ngừng khai thác những đặc ân và thỏa mãn từ lợi nhuận khổng lồ của các khoản đầu tư ở nước ngoài.

Tôi nhận thấy rằng nếu chúng ta đứng về phía lẽ phải trong cuộc cách mạng thế giới, thì chúng ta, là một đất nước, phải vượt qua một cuộc cách mạng giá trị triệt để. Ta phải nhanh chóng bắt đầu sự chuyển đổi từ một xã hội “vật chất hóa” sang một xã hội “nhân cách hóa”. Khi máy móc và máy tính, những động cơ sinh lời và quyền sở hữu được coi trọng hơn con người, thì bộ ba khổng lồ là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa quân phiệt sẽ không thể bị ngăn chặn. Một cuộc cách mạng giá trị đích thực sẽ sớm đưa chúng ta tới việc đặt câu hỏi về sự công bằng và lẽ phải cho rất nhiều những chính sách của nước Mỹ từ trong quá khứ đến hiện tại. Một mặt, chúng ta được dạy để có lòng trắc ẩn với người gặp khó khăn, nhưng đó sẽ chỉ là hành động xuất phát từ bản thân ta. Một ngày nào đó ta sẽ thấy thế giới này cần phải thay đổi để không ai còn gặp khó khăn đau khổ nữa. Lòng trắc ẩn đích thực không chỉ là quăng cho người ăn mày một đồng xu, không phải là một hành động tiện tay hay sự thể hiện bên ngoài. Nó cho thấy rằng xã hội đã và đang tạo ra những người ăn mày cần được tái cơ cấu. Một cuộc cách mạng giá trị đích thực sẽ không nương tay với sự đối lập giàu – nghèo hiển hiện. Với sự phẫn nộ chính đáng, lòng trắc ẩn vượt qua các đại dương để thấy các nước tư bản phương Tây đang đầu tư những món tiền lớn vào châu Á, châu Âu và Nam Mỹ chỉ để lấy lợi nhuận mà không quan tâm đến sự cải thiện xã hội của các quốc gia ở đó, và nó nói: “Thế này là sai trái.” Nó sẽ nhìn vào sự liên minh đầy toan tính của chúng ta với những người Mỹ La-tinh bản địa và nói: “Thế này là sai trái.” Sự kiêu ngạo của phương Tây khi cho rằng họ có mọi thứ để dạy bảo và không phải học hỏi từ đâu hết là sai trái.

Một cuộc cách mạng giá trị đích thực sẽ thay đổi trật tự thế giới và nói với chiến tranh rằng: “Giải quyết sự khác biệt như thế này là sai trái.” Những việc như thiêu cháy người bằng bom napalm, biến phụ nữ và trẻ em thành góa phụ và trẻ mồ côi, bơm đầy thù hận vào những người vốn đầy vị tha, trả lại những người đàn ông về nhà từ chiến trường đẫm máu và đen tối trong tình trạng tật nguyền và điên loạn, những hành động này không thể nào được đánh đồng với trí tuệ, công lí và tình yêu. Một quốc gia năm này qua năm khác không ngừng đổ tiền vào phòng thủ quân sự thay vì cải thiện chất lượng xã hội sẽ dần tiến tới cái chết tinh thần.

Mỹ, quốc gia giàu có và hùng mạnh nhất thế giới, hoàn toàn có thể đi đầu trọng cuộc cách mạng giá trị này. Không gì trừ cái chết có thể ngăn chúng ta tái sắp xếp những ưu tiên của mình, để việc theo đuổi hòa bình được đặt lên trước theo đuổi chiến tranh. Không gì có thể ngăn cản chúng ta thay đổi trạng thái ngoan cố vốn đã bám rễ trong linh hồn Mỹ cho đến khi ta biến nó thành tình bằng hữu.

Kiểu cách mạng giá trị tích cực này là cách tốt nhất để phòng thủ trước chủ nghĩa cộng sản. Chiến tranh đâu phải câu trả lời. Chủ nghĩa cộng sản sẽ không bao giờ bị đánh bại bởi bom nguyên tử và vũ khí hạt nhân. Đừng nhập cuộc với những kẻ ủng hộ chiến tranh và hãy thúc giục Hợp chủng quốc Mỹ rút khỏi Liên hợp quốc. Đây là thời điểm đòi hỏi sự kiềm chế khôn ngoan và sự bình tĩnh đúng lúc. Ta không được đánh đồng tất cả là Cộng sản hay phái viên thỏa hiệp vô nguyên tắc – những người ủng hộ vị trí của Trung Quốc Cộng Sản trong Liên Hợp Quốc và cũng là những người nhận ra rằng thù ghét và cuồng loạn không phải là giải pháp cho vấn đề trong những ngày hỗn loạn như thế này. Ta không được tham gia chủ nghĩa chống cộng một cách tiêu cực, thay vào đó là sự thúc đẩy tích cực cho nền dân chủ, nhận thức được rằng sự phòng thủ tốt nhất với chủ nghĩa cộng sản là có các hành động công kích nhân danh lẽ phải. Ta phải sử dụng các hành động tích cực để loại bỏ tình trạng đói nghèo, bất ổn và bất công – vùng đất màu mỡ cho hạt giống của chủ nghĩa cộng sản sinh trưởng và phát triển.

Người dân có vai trò quan trọng

Đây chính là thời điểm cho cách mạng xảy ra. Trên khắp thế giới, người ta đang đứng lên chống lại hệ thống áp bức và bóc lột lạc hậu, và từ trong bóng tối của một thế giới yếu đuối, công lí và bình đẳng đang được sinh ra. Chưa bao giờ những người nghèo khổ lại nổi dậy để bảo vệ đất đai mạnh mẽ đến thế. “Những người từng ngồi trong bóng tối nay nhìn thấy một vầng sáng lớn.” Chúng ta ở phương Tây phải ủng hộ cho những cuộc cách mạng này. Đáng buồn, chính vì sự sung túc, tự mãn, sự sợ hãi cộng sản, và khuynh hướng dễ trở nên bất công mà những nước phương Tây đã chủ trương khơi dậy tinh thần cách mạng của thế giới mới giờ lại đi theo khuynh hướng phản cách mạng. Điều này đã khiến nhiều người cảm thấy rằng chỉ có chủ nghĩa Marx mới có tinh thần cách mạng. Do đó, chủ nghĩa cộng sản là sự phán xét đối với thất bại của chúng ta trong việc hiện thực hóa nền dân chủ và tiếp tục các cuộc cách mạng mà ta đã dấy lên. Hy vọng duy nhất của chúng ta nằm trong khả năng một lần nữa nắm bắt tinh thần cách mạng và tiến ra thế giới đôi khi là thù địch ngoài kia, nơi đang có lời tuyên bố cho sự thù địch vĩnh cửu bởi nghèo đói, phân biệt chủng tộc và quân phiệt. Với lời cam kết mạnh mẽ này chúng ta sẽ thách thức thực tại, những phong tục lạc hậu và đẩy nhanh đến thời điểm khi mà “mọi thung lũng đều được tôn cao, mọi ngọn núi và quả đồi đều được hạ thấp, mọi chỗ khúc khuỷu sẽ được nắn thẳng và mọi nơi ghồ ghề sẽ không còn gây khó khăn.”

Một cuộc cách mạng giá trị đích thực đưa đến kết quả cuối cùng là lòng trung thành của mỗi người sẽ cùng hòa chung thay vì tiếp tục đứng riêng lẻ như lúc trước. Mỗi quốc gia phải phát triển lòng trung thành tuyệt đối với toàn thể nhân loại để bảo vệ tốt nhất cộng đồng cá thể của họ.

Lời kêu gọi tình đoàn kết toàn thế giới đã đưa vấn đề khu vực vượt lên trên một bộ lạc, một chủng tộc, một tầng lớp và một quốc gia chính là lời kêu gọi tình yêu thương vô điều kiện giữa người với người. Khái niệm từng bị hiểu lầm và giải thích sai này, ngay sau đó bị bác bỏ bởi học thuyết của Nietzsches rằng thế giới như một thế lực yếu đuối và hèn kém, nay đã trở thành điều thiết yếu cho sự tồn tại của nhân loại. Khi nói đến tình yêu thương, tôi không có ý nói đến những thứ sướt mướt và yếu đuối. Tôi đang nói về thế lực thống nhất tối cao tập hợp từ tất cả các tôn giáo lớn. Tình yêu, theo cách nào đó, chính là chìa khóa mở ra cánh cửa dấn đến thực tại vô cùng. Đức tin của Hin-đu giáo – Hồi giáo – Công giáo – Do Thái giáo – Phật giáo về hiện thực này được tổng hợp lại thật toàn mĩ trong bức thư đầu tiên của thánh John:

“Hãy yêu thương lẫn nhau, vì tình yêu là Chúa trời và tất cả những ai biết yêu thương đều là con của Người và thấu hiểu Người. Ai không biết yêu thương thì chẳng thể biết đến Chúa trời, vì Người chính là tình yêu. Nếu ta yêu thương lẫn nhau, Chúa sẽ ở trong tim chúng ta, và tình yêu của Chúa được hoàn thiện trong mỗi người.”

Hãy hy vọng rằng tinh thần này sẽ trở thành trật tự của thế giới. Chúng ta không thể thờ phụng lòng căm ghét hay cúi đầu trước bàn thờ của ham muốn trả thù thêm nữa. Dòng chảy lịch sử bị biến động bởi những cơn thủy triều của sự hận thù. Lịch sử trở nên hỗn loạn bởi sự tàn phá của các quốc gia và những cá nhân theo đuổi con đường đi đến sự tự hủy diệt bởi hận thù. Như Arnold Toynbee từng nói: “Tình yêu là thế lực tối cao sẽ cứu lấy cuộc sống và đánh bại cái ác cùng sự hủy diệt. Vì thế mà hy vọng đầu tiên ta cần có chính là hy vọng rằng tình yêu sẽ kết thúc tất cả mọi hỗn loạn.”

Chúng ta đang đối mặt với sự thật rằng ngày mai cũng chỉ là một ngày hôm nay khác. Chúng ta phải đương đầu với sự khẩn cấp khôn cùng của hiện tại. Trong câu hỏi hóc búa của cuộc sống và lịch sử, tồn tại một khái niệm được gọi là “quá trễ”. Sự chần chừ là kẻ trộm thời gian. Cuộc đời thường mặc ta đứng đó trần trụi, trắng tay và tuyệt vọng vì để lỡ cơ hội. “Thời điểm chín muồi” không còn ở đó nữa, nó đã trôi đi rồi. Chúng ta có thể khóc lóc van xin thời gian ngừng lại, nhưng thời gian lờ đi mọi lời kêu van thúc giục. Trên nắm xương trắng ởn mòn vữa và hàng đống tàn dư nhơ nhuốc của loài người chỉ ghi đúng một dòng đáng thương: “Quá trễ.” Có một cuốn sách vô hình luôn tận tâm ghi lại từng khoảnh khắc chúng ta chú tâm hay thờ ơ với cuộc sống. “Những ngón tay cầm bút, và cổ tay đưa từng nét chữ…” Hôm nay ta vẫn được chọn lựa, cùng sống chung trong thế giới không có bạo lực, hoặc dùng bạo lực hủy diệt lẫn nhau..

Chúng ta phải bỏ qua sự do dự để hành động. Ta phải tìm những cách thức mới để cất tiếng nói vì hòa bình ở Việt Nam và công lí ở một thế giới phát triển – một thế giới ở ngay ngoài kia thôi. Nếu không hành động, chắc chắn ta sẽ bị kéo xuống hành lang tăm tối và nhục nhã của thời gian cho những kẻ có quyền lực mà không biết cảm thông, thậm chí là không có đạo đức, và có sức mạnh mà lại thiếu tầm nhìn.

Hãy cùng nhau bắt đầu. hãy ràng buộc mình với cuộc chiến tuy dai dẳng và cay đắng, nhưng tuyệt vời, vì một thế giới mới. Đây là lời kêu gọi của những người con của Chúa, và những người anh em của chúng ta đang nóng lòng chờ đợi chúng ta trả lời. Liệu chúng ta có thể nói điều không thể thật quá vĩ đại? Liệu ta nên nói cuộc chiến này quá khó khăn? Phải chăng câu trả lời sẽ là chúng tôi rất tiếc nhưng chúng tôi đã cố gắng hết sức rồi? Hay sẽ là một thông điệp khác, về sự khao khát, hy vọng, sự sẻ chia với những ham muốn của họ, về sự cam kết ràng buộc với vấn đề của họ, bằng bất cứ giá nào? Lựa chọn thuộc về chúng ta, cho dù hoặc là ta phải thật sự thích nó, hoặc là ta bắt buộc phải lựa chọn trong thời điểm quan trọng của lịch sử nhân loại này.

Nhà thơ vĩ đại  James Russell Lowell đã nói:

Once to every man and nation
Comes the moment to decide,
In the strife of truth and falsehood,
For the good or evil side;
Some great cause, God’s new Messiah,
Off’ring each the bloom or blight,
And the choice goes by forever
Twixt that darkness and that light.

Though the cause of evil prosper,
Yet ’tis truth alone is strong;
Though her portion be the scaffold,
And upon the throne be wrong:
Yet that scaffold sways the future,
And behind the dim unknown,
Standeth God within the shadow
Keeping watch above his own.

Và nếu ta đưa ra lựa chọn đúng đắn, ta có thể biến những điều huyền bí vũ trụ đang đón chờ thành bài thánh ca sáng tạo về hòa bình.Nếu ta đưa ra lựa chọn đúng đắn, ta có thể biến những bất đồng trên thế giới thành bản giao hưởng tuyệt diệu của tình anh em. Nếu ta chỉ biết đưa ra lựa chọn đúng, ta có thể đẩy nhanh bước tiến của nước Mỹ và toàn thế giới, khi mà “công lí và lẽ phải tuôn xối xả như một ngọn thác hùng vĩ.”

—-

Martin Luther King con là một mục sư, nhà hoạt động, và nhà lãnh đạo nổi bật người Mỹ trong phong trào đòi quyền công dân cho người Mỹ gốc Phi. Ông được biết tới là hình mẫu biểu tượng cho sự cấp tiến trong nhận thức về quyền công dân ở Mỹ và trên khắp thế giới, sử dụng các phương pháp phi bạo lực theo tư tưởng của Mahatma Gandhi. Năm 1964, King trở thành người trẻ nhất từng được giải Nobel hòa bình cho những nỗ lực của ông trong việc chấm dứt phân biệt và kì thị chủng tộc thông qua các hoạt động phản đối luật pháp và các cách thức khác. Vào năm 1968, trước khi qua đời, ông đã giành sự nỗ lực vào việc chấm dứt đói nghèo ở Mỹ và chiến tranh ở Việt Nam. King bị ám sát vào ngày 4, tháng 4, năm 1968 ở Memphis, Tennessee.

 

Người dịch: Phạm Khánh Dương

Biên tập: Lê Duy nam

Phụ trách workshop: Tự học tiếng Anh nghiêm túc

Share
Share: