Tôi đọc

Tìm hiểu Nhân bản học của Rene Decartes

quote-perfect-numbers-like-perfect-men-are-very-rare-rene-descartes-49854

Reviewed by Dũng Lê

I . Thân thế sự nghiệp và thời đại của Rene Descartes .

1.1  . Thân thế và sự nghiệp của Rene Descartes .

Rene Descartes sinh ngày 31 tháng 3 năm 1596 , trong một gia đình quý tộc ở thị trấn La Haye , xứ Touraine miền nam nước Pháp . Cha ông , từng làm cố vấn tòa án tối cao thành Rennes , là một người chú ý chăm sóc về của cải nhiều hơn là mở rộng kiến thức khoa học cho con . Descartes mất mẹ khi ông vừa đầy một tuổi , có thể không có bàn tay chăm sóc của người mẹ nên sức khỏe của Descartes rất yếu . Vì sức khỏe yếu nên sau này khi đi học ông được đến lớp muộn hơn các bạn đồng trang lứa , nhờ thế mà ông có thêm thời gian suy ngẫm sau khi tỉnh dậy vào mỗi sáng . Đến tám tuổi Descartes vẫn chưa phải học gì , nhưng tính tình , cách ứng đáp , cư sử với mọi người ,đã làm cho mọi người chú ý và nghĩ nghĩ đến một nhà hiền triết trong tương lai .

Năm 1604 , Rene Descartes vào học ở trường học của dòng Tên tại La Fleche ở Anjou . Đây là trường học vào loại tốt nhất châu Âu lúc bấy giờ , ở đây ông được học nhiều môn : Tiếng Latinh , tiếng Hi Lạp , triết học , thần học , luân lý học , sử học , khoa diễn thuyết , làm thơ . Bên cạnh những môn học kinh điển , ông còn được học toán với các thầy theo trường phái kinh viện  , một học thuyết chủ trương lấy lý luận của loài người để hiểu lý thuyết Kitô giáo . Sau gần 10 năm học ở trường , ông cũng như nhiều người khác , đã thấy rõ tính chất kinh viện của các  môn  học , ông cho rằng các kiến thức này chỉ làm ông dốt thêm .Ông nhận thấy có đầy những mâu thuẫn trong các bài viết về triết học mà người ta dạy ông , khó có thể tin cậy được .Ông bỏ học khi năm học cuối kết thúc .

Cha của Descartes muốn con có thể thăng quan tiến chức , còn ông thì chỉ giữ bản tính độc lập của mình . Ông có một nguyện vọng là chu du thế giới và ông đã xung phong vào quân đội Hà Lan để thực hiện nguyện vọng này . Tháng 8 năm 1619 ông sang Đức , năm 1624 ông sang thăm Ý và và sau đó trở về Pháp . Trong một cuộc tranh luận về triết học Arixtot , ông đã nói rằng : “ không thể tìm thấy chân lý chân chính một cách bất ngờ và vô ý thức , chỉ có thể tìm được nó trên cơ sở phương pháp , Phương pháp nghiên cứu “. Ở Pháp ông không được tự do cho nên năm 1628 ông di cư sang Hà Lan . Descartes đọc rất ít sách , phần lớn là chỉ xem lướt qua . Ông viết và suy nghĩ nhiều hơn . Trong thư viện của ông chỉ có một số sách không đáng kể , có lẽ ông không tìm thấy những kiến thức mà mình mong muốn ở đó . Từ năm 1628 , phần lớn quãng đời của ông sống ở xứ hoa Tuylip, ông đã sống ở nhiều thành phố khác nhau của Hà Lan như : Amsterdam, Deventer, Utrecht .

Ngày 1 tháng 9 năm 1649 nhận lời mời của nữ hoàng Thụy Điển là Crixtina , Descartes rời Hà Lan sang đó , khí hậu rét buốt , khắc nghiệt khiến ông bị cảm lạnh . Một tuần sau khi ông lâm bệnh vào lúc 4 giờ sáng ngày 11 tháng 2 năm 1950 ông từ trần . Lễ an tang được cử hành tại nghĩa địa Stockholm sau này thi hài ông được đưa về Pháp . Cuộc đời của ông rất gian truân , ông phải sống và làm việc trên hai Tổ quốc trong sự lo âu và không biết lúc nào tai vạ sẽ đổ vào đầu mình .

1.2  : Đôi nét về thời đại của Descartes .

Chế độ quân chủ chyên chế Pháp , cũng như ở một số nước công nghiệp phát triển khác hình thành trong lòng chế độ phong kiến , đã tạo điều kiện hình thành xã hội mới , xã hội tư bản . Sự bảo hộ của chế độ chuyên chế đối với sự phát triển của giai cấp tư sản ngay trong long nó đã chứa đựng mâu thuẫn . Chế độ ấy một mặt quan tâm đến sự phát triển của công nghiệp , thương nghiệp và khoa học , kỹ thuật , đồng thời lại ủng hộ sự thống trị của thiên chú giáo . Thiên chúa giáo thống trị chính khoa học mà những thành tựu của nó lại rất cần cho sự phát triển kinh tế , kỹ thuật và quân sự. Vì vật muốn cho khoa học tự do phát triển thì không có cách nào khác là phải xây dựng lại một cách sâu sắc toàn bộ thế giới quan đang thống trị . Song ở thế kỉ XVI điều này là không dễ dàng .

Nhờ sản xuất phát triển mà vai trò của thực nghiệm cũng ngày càng được đề cao . Khi thực nghiêm được đề cao thì vai trò của phân tích cũng nghiễm nhiên trở thành  cần thiết hơn . Phương pháp tư duy siêu hình có quan hệ mật thiết với Phuong pháp cơ học và vật lý học mới của thời đại , trong điều kiện khoa học thế kỷ XVI – XVII , sự hạn chế của phương pháp siêu hình và việc đề ra phân tích một chiều là hạn chế khó tránh khỏi , mang tính lịch sử . khoa học dựa vào cơ học và vật lý học bắt buộc phải đấu tranh với long tin vào mối lien hệ huyền bí của các sự vật , các hiện tượng và các quá trình trong tự nhiên . Ngoài ra nó còn phải đấu tranh tren một mặt trận gay go hơn , quyết liệt hơn đó là cuộc đấu tranh chống thế giới quan được những người cầm đầu thiên chúa giáo lúc bấy giờ bảo vệ . lúc này chính quyền chuên chế Pháp phải giải quyết hai việc , đó là phải ủng hộ khoa học vì vai trò quan trọng của khoa học trong sản xuất và kỹ thuật quân sự . Mặt khác chính quyền chuyên chế không thể nào để thế giới quan mới ảnh hưởng đến kiến trúc thượng tầng được , nhất là đối với những gid đe dọa đến quyền lực của tôn giáo . Trong hoàn cảnh như vậy , những nhà tư tưởng luôn phải gặp nguy hiểm , họ khó có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của ai cả , họ phải   tự dựa vào sức mình và Descartes cũng là một nhà khoa học ở trong hoàn cảnh như vậy . Khoa thần học hay tập đoàn giáo sĩ thiên chúa luôn giám sát những bước chuyển biến của khoa học thực nghiệm hay các tư tưởng tiến bộ .Chúng ta đã biết nhà thờ đối xử với Côpecnich , bruno hay Galilê như thế nào rồi . Mặt khác những nhà khoa học xuất thân từ quý tộc thời đó mà nghiên cứu hóa học , sinh lý học hay làm thơ thì bị coi là đang phỉ báng dòng họ , gia đình . Descartes sinh ra trong một gia đình quý tộc vậy mà ông đã vượt lên được ràng buộc của thời đại , đi theo con đường khoa học chân chính của riêng mình dù có chông gai , gian khổ . Các tác phẩm của ông thuộc vào loại công trình khoa học hiếm có , định hướng cho cả con đường khoa học nhiều thế kỷ sau này . Ông đã đóng góp nhiều cho toán học , như hình học giải tích , ông áp dụng toán học để nghiên cứu vật lý học , khí tượng học và quang học ,  ông đã tìm ra các phản xạ không điều kiện của con người … F. Bêcơn (1561 – 1626 ) nhà triết học vĩ đại người Anh thời cận đại cho rằng phải đẩy mạnh sự phát triển của khoa học và triết học như một nền tảng lý luận của công cuộc phát triển đất nước và nhiệm vụ của triết học là phải cải tạo lại toàn bộ tri thức mà con người đạt được . Bêcơn cho rằng khoa học đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại . Bêcơn khẳng định ‘ tri thức là sức mạnh ‘ .Trong điểm này Descartes cũng đồng tình với quan điểm của Bêcơn , Descartes cho rằng khoa học là phuc vụ con người và làm tăng khả năng của con người , giúp con người chinh phuc được giới tự nhiên .

II : Nhân bản học của Descartes .

2.1. Nội dung nhân bản học của Descartes .

Học thuyết về con người trong triết học Descartes dựa trên lập trường nhị nguyên luận  và nguyên lý “  Congito , ergo sum “ – “  Tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại “  nguyên lý cơ bản của triết học của ông , từ đây ông xây dựng hệ thống triết học của mình như một chỉnh thể . Trong hệ  thống triết học của ông ta thấy hiệ lên hai mặt rõ nét , một mặt ông là một nhà duy vật , mặt khác ông lại là một nhà duy tâm . Không phải khi trưởng thành Descartes mới nghi ngờ . Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường , ông đã nghi ngờ tính chân thực của các học thuyết tôn giáo và kinh viện trung cổ . Xuất phát từ việc phê phán chủ nghĩa hoài nghi ông ông xây dựng lý luận về nghi ngờ của mình , tạo ra phương pháp luận nghiên cứu riêng . Sự nghi ngờ của ông khác với sự nghi ngờ của nhiều người khác . Ông nghi ngờ phổ biến trong tất cả các lĩnh vực , nhưng nghi ngờ phải có phương pháp , không phải là nghi ngờ một cách tùy tiện .Nói đến phương pháp tức là phải tìm ra một cái gì đó mới theo một đường hướng nhất định . Ông đặt câu hỏi “  Nếu con người ta do một kẻ nào đấy tạo ra và đấy trí tuệ của chúng ta vào sai lầm và ảo tưởng thì sao ? Vì vậy nhất thiết phải giả định rằng con người chúng ta không có một sự bảo đảm nào đối với chân lý cả . Cho nên khi bắt tay vào nghiên cứu chúng ta phải xuất phát từ sự nghi ngờ tất cả những gì đã được người ta công nhận là chân lý .  “ Vậy là nghi ngờ của Descartes là hành động có ý nghĩa phương pháp luận rõ rệt , nó khác hẳn với sự nghi ngờ thời trung cổ .

Ông cho rằng “  không có sự vật xa xôi nào mà người ta không tìm kiếm ra được ,  không có sự vật bí hiểm nào mà người ta không khám phá ra được  “ . Vi vậy theo ông “  không nên đặt cho trí tuệ con người một giới hạn nào cả “ . Khát vọng của con người là vô biên , nhưng ông cũng cho rằng cần phải có thượng đế tượng trưng cho sự hoàn hảo và tối cao  tuyệt đối . Theo ông , thượng đế là có thực, bởi vì mọi người mọi dân tộc ở dạng này hay dạng khác đều có ý tưởng về ngài . Chỉ nhờ có thượng đế thì mọi vật mới tồn tại và phát triển như chúng hiện có , trong đó có con người .

Nhưng có một điểm mà Ông nhấn mạnh , đó là không thể nghi ngờ được chính bản thân chủ thể đang nghi ngờ , đó là chính “ Tôi “ . Tôi đang hoài nghi sự tồn tại của tất cả nhưng tôi không thể hoài nghi được sự tồn tại của chính mình , vì tôi đang nghi ngờ . Nếu tôi không tồn tại thì làm sao tôi lại có thể đang nghi ngờ được . Nhưng mặt khác chính vì tôi đang nghi ngờ nên tôi mới biết mình đang tồn tại . Bởi vậy tôi đang tồn tại là nhờ việc tôi đang nghi ngờ , mà ngi ngờ thì cũng là tôi suy nghĩ hay tư duy . Do vậy “ Cogito , ergo sum “  –  “ Tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại “ là mệnh đề đúng đắn không thể chối bỏ được .

Ở đây chúng ta thấy Descartes đã sai lầm khi chứng minh sự tồn tai của con người thông qua tư duy . Cũng từ đây ông chứng minh sự tồn tại của mọi sự vật khác thông qua ý niệm về chúng trong ý thức con người . Bên cạnh những hạn chế của Descartes trong mệnh đề “ Cogito , ergo sum “ thì nguyên lý này còn mang đến nhiều yếu tố tích cực trong hệ thống triết học của Descartes nói chung cũng như nhân bản học của ông nói riêng :

Thứ nhất “ Cogito , ergo sum “  thể hiện sự đề cao vai trò đặc biệt của lý tính , trí tuệ con người .

Thứ hai “ Cogito “- “ Tôi suy nghĩ “ thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa con người với quá trình tư duy của anh ta . Con người vừa là chủ thể , vừa là kết quả qúa trình tư duy của mình . Vì vậy Tôi suy nghĩ ở đây quan trọng hơn là thượng đế suy nghĩ  , Tuy nhiên trong siêu hình học của Descartes ít nhiều đã sai lệch với tinh thần này của Cogito . Tinh thần của  “ Cogito,ergo sum “ là đề cao vai trò tích cựa của con người đối với thế giới , coi con người là trung tâm của các vấn đề triết học . Việc Descartes đặc biệt coi trọng trí tuệ con người , đề cao tư duy khoa học lý luận thực sự là một quan niệm cách mạng trong bối cảnh lịch sử đó .

Descartes thừa nhận mọi tư tưởng của con người xuất phát từ ba nguồn gôc chính :

Thứ nhất xuất phát từ thế giới bên ngoài , chúng là kết quả tác đôngj của sự vật lên giác quan của chúng ta như lửa , nước .

Thứ hai : một số tư tưởng đơn thuần do hoạt động trí tuệ của con người tạo ra , chẳng hạn như thiện , ác , cái đẹp , cái xấu …

Thứ ba : đó là tư tưởng bẩm sinh của con người , tính xác thực của tư tưởng này là hiển nhiên và được mọi người thừa nhận , đó là các tiên đề toán học các mệnh đề logic .

Từ ba nguồn gốc này thì ông suy ra trong tư tưởng của con người có cái gì thì thì sự vật cũng có cái đấy , có sự khập khiễng giữa tư tưởng bên trong và tư tưởng bên ngoài .

Vói lập trường trên thì Descartes đã khẳng định sự khác nhau cơ bản giữa các vật do thượng đế sáng tạo ra ở chỗ : một số các sự vật là những trí tuệ hay nói cách khác đó là những thực thể tư duy , một số khác là những vật thể .

Hai loại sự vật trên thuộc hai thực thể khác nhau . Thứ nhất đó là các thực thể tư duy bao gồm các ý niệm , tư tưởng, tổng số các ý thức cá nhân của con người . Thứ hai đó là thực thể quảng tính , bao gồm các vật mang tính không gian và thời gian , các giác quan của con người có thể cảm nhận được. Thực thể theo định nghĩa của Descartes , là một thế giới độc lập hoàn toàn , không cần và không liên quan đến cái khác , tự nó có thể tồn tại và phát triển được . Tuy nhiên cả hai thực thể này do thượng đế sinh ra nên chúng phụ thuộc vào thượng đế . Ngoài thượng đế duy nhất tất cả sự vật đều thuộc một trong hai thực thể trên . Chỉ có con người là đặc biệt thuộc về cả hai chúng .

Từ lập trường nhị nguyên luận này Descartes ví con người như sự liên kết nhờ thượng đế , linh hồn và thể xác con người tách rời nhau vì bản chất của thực thể tinh thần hoàn toàn không phụ thuộc vào thực thể quảng tính đó là cơ thể . Vậy con người có được là nhờ thượng đế ghép linh hồn vào thể xác . Thượng đế là cái chắc chắn để tạo nên sự tồn tại , tư duy của con người . Còn sự tồn tại của con người thì  cần một điều kiện cần đó chính là suy nghĩ , tư duy của con người và phải có một điều kiện đủ nữa đó là thượng đế để ghép thân xác con người vào linh hồn con người .

Lập trường nhị nguyên luận của Descartes có cơ sở ngay trong Congito ergo sum . Bản thân mệnh đề tôi suy nghĩ , vậy tôi tồn tại không chỉ ra mối quan hệ gì giữa con người với thế giới hiện thực , thậm chí còn tách rời giữa cơ thể con người với tư duy con người . “ Cogito ergo sum “ của ông là phương pháp tối ưu để nhận thức linh hồn và phân biệt linh hồn với thể xác . Từ đây ông phải nhờ đến bàn tay của thượng đế trong việc lý giải nguồn gốc của tư duy con người cũng như của cả toàn bộ con người nói chung .

Vậy Descartes cho rằng bản tính con người là tư tưởng : linh hồn là cái nhờ đó mà tôi là tôi , hoàn  toàn khác với thể xác . Trong một tác phẩm của ông  Descartes cho giả thiết rằng ông đã chứng minh ông là một bản thể mà tất cả yếu tính hay bản tính của nó chỉ là tư duy mà không lệ thuộc vào mật vật thể vật chất , kể cả thân xác và ông đã phân biệt “ông vẫn là ông cho dù thân xác ông không hiện hữu “

Đây là một điều mâu thuẫn , lúc đầu ông chứng minh sự tồn tại của thượng đế qua tư duy con người , nhưng sau đó ông lại cho rằng thượng đế là tồn tại thực sự và góp phần tạo nên con người .

Theo Descartes linh hồn của con người là bất diệt . Ông cho rằng linh hồn có đặc tính hoàn toàn khác thể xác và do đó không bị bắt buộc phải chết khi thể xác mất đi , lại vì không thể có nguyên nhân nào có thể tiêu diệt được linh hồn , người ta sẽ tự nhiên phải tin rằng ling hồn con người là bất diệt .

Ông cho răng linh hồn con người là bât diệt , không chết cùng thể xác nhưng nó cần kết hợp với thể xác để có những tình cảm những nhu cầu và để trở thành một con người thật . Sự kiện linh hồn và thể xác vận hành hòa hợp với nhau đã nảy sinh ra một vấn đề : Làm thế nào mà hai thực thể không có đặc điểm chung nào lại có thể phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng như thế . Thoạt đầu Descartes cho rằng tuyến yên trong bộ não chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động của thể xác và tinh thần . Chính ở đâu mà linh hồn vừa “ tạo chuyển động “ vừa “ bị chuyển động “ bởi các dây thần kinh lan ra khắp cơ thể và truyền các tín hiệu giữa thân xác và tinh thần . Tuy nhiên kết luận ấy cũng nhanh chóng bị lãng quên . TRong một lá thư gửi cho công chúa Elizabeth của Bohemia , Descartes phải nhìn nhận rằng sự tương tác giữa linh hồn và thân xác là một mầu nhiệm . Theo luận giải triết học của Descartes thì nguyên nhân của mọi hoạt động tương hỗ giữa tinh thần và thể xác chính là ý nguyện cuar thượng đế , đấng có quyền năng ban phát cho muôn loài các năng lực cần thiết cho cuộc sống của chúng . Xét theo quan diểm đó những nguyên nhân phức hợp về mặt thể chất không phải là căn nguyên thực sự . Thượng đế chính là căn nguyên duy nhất và tối hậu của mối tương tác giữa tinh thần và thể xác . Tuy nhiên ý muốn của thượng đế trong việc tạo ra sự hòa điệu giữa tinh thần và thể xác cũng không phải là tùy tiện . Theo Descartes : “ chuyện một chuyển động nhất định trong não chỉ tạo ra một cảm giác nhất định là một tính chất của hệ thống tối ưu có thể được thiết kế để bảo đảm duy trì con người được khỏe mạnh . Sự tương quan tinh thần – thân xác nơi chúng ta là vì lợi ích của chúng ta bởi lòng nhân từ của thượng đế “

406099_10150912852811297_528754839_n

Descartes phân biệt con người khác con vật ở chỗ :

Thứ nhất con người  biết cách dùng ngôn ngữ hay các kí hiệu sắp xếp các ý nghĩ của mình để nói cho người khác hiểu .

Thứ hai là con người có lý trí và lý trí điều khiển hành động của con người . Descartes viết : “ và cũng chính bởi hai phương cách đó mà người ta thấy con  người khác con vật , vì rất đễ dàng thấy rằng , không có một người nào dù là ngu si hay đần độn bực nào đi nữa , ngay cả những người điên mà lại không biết sắp đặt nhiều lời nói lại với nhau và làm thành một câu nói dài để cho người ta hiểu ý nghĩ của mình , trái lại không có một con vật nào , dẫu hoàn toàn là giống tốt đến đâu mà có thể làm được như thế . Điều đó không những chứng minh là loài vật ít lý trí hơn loài người mà lại chứng minh rằng chúng không có lý trí vì người ta nói rằng chỉ cần rất ít lý trí cũng biết nói được   “ Là một nhà triết học duy lý , Descartes đặc biệt đề cao vai trò của trí tuệ con người trong mọi hoạt động .

Theo Descartes các loài thực vật và động vật cũng đang nằm trong quá trình tiến hóa lâu dài . Sự phát triển cả trong thế giới vô cơ và hữu cơ với điều này thì không cần đến sự can thiệp của thượng đế . Ông phê phán các quan niệm vật hoạt luận duy tâm thừa nhận mọi sự vật đều có linh hồn .  Descartes khẳng định sự sống có những đặc tính riêng của nó mà các vật vô cơ không có được . Dựa trên một số thành tựu khoa học , và đặc biệt là các thành tựu về sinh lý học thời đó khi phát hiện ra sự tuần hoàn của máu của gavre năm 1628 , Descartes đã khám phá ra cơ chế phản xạ của các cơ thể động vật đáp lại những tác động của môi trường sung quanh , đồng thời khẳng định sự tuần hoàn của máu gắn liền với các quá trình tiêu hóa và hô hấp, với mạch đập của con tim và động mạch . Ông ví trái tim như một nhà máy tạo nên trung tâm sống động của cơ thể động vật .

Chịu ảnh hưởng của các quan niệm máy móc và cơ học về thế giới và vận động đang thống trị thời đó , Descartes coi các cơ thể động vật như những cỗ máy . Đó chính là một hệ thống trong đó mọi cơ quan cấu kết chặt trẽ với nhau tựa như các bộ phận trong chiếc đồng hồ cơ học vậy , trong cơ thể động vật đã lắp sẵn dưới dạng tiềm tàng tất cả mọi phản xạ , mọi phản ứng lại của chúng với những tác động của môi trường . Theo ông linh hồn thực vật và linh hồn động vật là những chất liệu rất mảnh và năng động có tính vật thể , tựa như những  “ ngọn lửa không sáng“

Học thuyết triết học của Descartes có nhiều điểm mâu thuẫn , đó là mâu thuẫn giữa siêu hình học – vật lý học – sinh lý học . Theo quan niệm truyền thống ông khẳng định cấu thành từ linh hồn và thể xác . Trên cơ sở nhị nguyên luận , trong siêu hình học ông hoàn toàn tách biệt linh hồn với thể xác , coi chúng xuất phát từ hai thực thể tư duy và quảng tính và hoàn toàn tách biệt . Ở đây ông là điển hình của cái gọi là vấn đề tâm – vạt lý , rất thình hành thời trung cổ , coi linh hồn con người là một thực thể mà toàn bộ bản chất hay bản tính của nó là tư duy , mà để tồn tại không cần đến và không phụ thuộc vào bất kỳ một sự vật vật chất nào . Như vậy cái “  tôi “  của tôi , linh hồn của tôi , cái mà làm cho tôi như tôi đang có , hoàn toàn khác với thể xác , và nhận thức nó nhẹ nhàng hơn so với thể xác . Vì thế linh hồn là bất diệt , nó không bị phân hủy khi con người chết . Nhưng mặt khác , bản thân  Descartes cũng nhận thấy sự bát lực của lập trường nhị nguyên luận trong việc lý giải nhiều hiện tượng nhân bản học , chẳng hạn tại sao con người lại buồn phiền kho cơ thể anh ta đau đớn hay vì lẽ gì con người lại chết… Tất cả những hiện tượng đó buộc Descartes phải xét lại lập trường trên đây của mình , đi đến khẳng định sự liên hệ hữu cơ giữa linh hồn và thể xác trong con người . Và đây chính là điều khiến ông khác với các đại biểu cảu cái gọi là “  vấn đề tâm – vật lý “ Đi xa hơn nữa theo quan niệm đúng đắn này , ông cho rằng , sở dĩ con người có khả năng tư duy là do cấu trúc vật chất trong cơ thể anh ta phức tạp và hoành thiện hơn so với động vật và mọi vật khác . Cơ thể con người không phải là một cỗ máy như ở động vật mà là cỗ máy hệ thống đã chưa sẵn mọi cơ chế phản xạ đáp lại các tác động từ môi trường bên ngoài . Hơn thế nữa chỉ riêng con người là có trí tuệ “ lý tính là một vũ khí vạn năng có thể sử dung trong mọi tình huống ở bất kỳ dạng nào “

Từ những suy nghĩ đứng đắn trên đây , nhà tư tưởng người Pháp đi đến khẳng định chính cơ thể con người là khí quan vật chất của linh hồn , còn linh hồn không là cái gì khác , mà là chức năng hoạt động của cơ thể con người . Bản thân con người có khả năng suy nghĩ nhờ một chất liệu đặc biệt trong tuyến tùng . Vì vậy tinh thần phụ thuộc vào tính khí , và sự sắp xếp của các cơ quan trong cơ thể tới mức nếu như có thể tìm được một công cụ làm cho con người trở nên thông thái hơn , thì tôi nghĩ rằng cần phải phải tìm công cụ đó trong y học .Đây là đỉnh cao cảu khuynh hướng duy vật trong nhân bản học của Descartes .

Nhưng không phải Descartes chỉ xem xét con người về các mặt sinh lý và tâm lý . Ông còn xme xét con người cả về mặt tâm lý xã hội . Chính trong phần này quan niệm của Descartes về mặt đạo đức được bộc lộ . Ông cho rằng cần phải có ba nguyên tắc chỉ đạo cho các hành động đạo đức :

Thứ nhất ,và chủ yếu nhất là sử dụng lý trí trong quá trình nhận thức một cách tốt nhất những gì bắt buộc phải nhận  thức trong mọi tình huống .

Thứ hai , phải giải quyết một cách kiên quyết nhất tất cả những gì mà lý trí đã định Thứ ba, con người cần phân biệt những gì nằm trong quyền lực của con người , phụ thuộc vào con người rõ ràng .

Đồng thời Descartes cũng đưa ra tư tưởng về việc một lý trí lành mạnh phải có bốn chân lý và lý trí lãnh đạo . Bốn chân lý đó là :

– Sự tồn tại của thượng đế là có thật .

– Chúng ta có linh hồn khác hẳn với thể xác .

– Thế giới là vô tận hay ít nhất là nó không có giới hạn  .

– Mỗi chúng ta không phải là tất cả mà chỉ là một phần của gia đình , của nhà nước và của nhân loại .

Tư tưởng của con người như một bản chất tự nhiên , được tạo thành bởi một phần của tự nhiên và một phần của xã hội , đã vượt lên trên tín điều tôn giáo về sự tồn tại của thần thánh , Thượng đế tạo thành . Và cũng ở đây có sự phối hợp giữa niềm tin khoa học , coi aon người là một phần của thế giới vô tận và lòng nhân đạo của phẩm cách con người .

Descartes lý luận rằng tuy thế giới là vô tận nhưng con người , dù là ở mức độ thấp nhất , có thể nắm được thế giới , nhận thức được nó , hiểu được nó , sử dụng nó và buộc nó phục vụ mình .Con người không bị bỏ rơi , không đơn độc , không bị cô lập trong vũ trụ bao la , vô tận . Mặc dù con người là nhỏ bé, con người cũng tự nhận thức được rằng mình là một phần của trật tự toàn vẹn , mà trong trật tự toàn vẹn mình cũng có vị trí và địa vị  nhất định .

Đối với Descartes thì con người không phải là mục đích cuối cùng và cũng không phải là trung tâm của thế giới . Nhưng con người cũng không phải là thân cây cỏ chỉ đợi cái chết do thế giới vô tận đưa lại . Lý trí của con người chỉ ra cho con người con đường của các hoạt động đứng đắn . Con người nhất thiết phải có các hoạt động đứng đắn đó để thoongd trị tự nhiên và cai trị những quan hệ và tổ chức thường thấy trong xã hội .

Tư tưởng nhân đạo và lạc quan này của Descartes có cơ sở của nó . Cơ sở đó là lòng tin sâu sắc có quy luật thống trị trong toàn thể vũ trụ .Nhưng từ đây nảy sinh một vấn đề cần giải quyết . Vấn đề đó là : Làm sao có thể điều hòa được học thuyết về quy luật tự nhiên của tất cả những gì thay đổi trong thế giới , trong con người với lại ý thức của con người về tự do ?

Để trả lời câu hỏi này Descartes đã nhờ đến kinh nghiệm . Theo ôn gcon người biết rõ mình là một phần của trật tự tất yếu, cũng như biết rằng mình hành động một cách tự do , ông đưa ra một thí dụ : Trong sân hoàng cung người ta cấm đánh nhau, cấm đấu kiếm , nhà ua biết rõ ràng có hai người cùng thù địch nhau đến nỗi bây giờ gặp nhau là hị có thể giết nhau được . Nhà vua cho gọi họ đến . Hai người gặp nhau và đánh nhau trong sân hoàng cung nhưng họ không có lỗi trong việc này . Họ đánh nhau một cách tự do. Trong trường hợp này ý thức tự do, hay là tự bản thân con người , thực hiện một hành động mà về mọi phương diện có thể nói rằng hành động ấy thực tế là tự do và không bị một cái gì ràng buộc cả .

Từ lý luận trên  Descartes cũng đặt ra một loạt vấn đề khác cần giải quyết . Đó là mỗi cá nhân phải cống hiến sức lực và tài năng của mình ở một mức độ nào cho tập thể , cho cộng đồng mà mỗi cá nhân là một phần nhỏ của tập thể và của cộng đồng ấy như gia đình , nhà nước và nhân loại ? Nói cách khác làm thế nào để con người hành động vượt ra ngoài phạm vi cá nhân ?

Descartes đã tìm câu trả lời cho vấn đề này trong việc nghiên cứu bản chất của chính con người .Mối liên hệ của con người trong tổng thể xã hội cần phải có cơ sở thực tế ngay trong bản thân con người . Mối liên hệ giữa linh hồn và thể xác tạo nên yếu tố thứ ba của thực tế tồn tại của con người .

Mối liên hệ đó ông cho là tất cả sự đam mê của mỗi con người , sự đau buồn vui sướng của mỗi các nhân gắn bó với hoạt động cuả tập thể to lớn , rộng rãi và con người lẻ chỉ là một phần nhỏ của tập thể to lớn ấy .

Tất cả để chuẩn bị cho sự ra đời một tác phẩm gia trị đó là luận văn “ về sự đam  của mê linh hồn “ . Trong tác phẩm này Descartes đã nghiên cứu trạng thái thụ động của linh hồn , hay như ông gọi là “ sự đam mê “ , không phải là chỉ với quan điểm tâm lý , với sự quan sát đơn thuần mà còn từ góc độ sinh lý học : nghiên cứu cấu tạo cơ thể và những hoạt động thể lực diễn ra trong cơ thể dẫn đến sự đam mê .

Việc đưa lĩnh vực sinh lý học mà trước đây chưa ai nghiên cứu hoặc chỉ nghiên cứu với quan điểm tâm lý chủ quan là một bước mới dũng cảm trong viêc phát triển khao học . Bản thân Descartes cũng biết rằng mình là người mới trong lĩnh vực này khi ông viết : “ mặc dù việc nhận thức đối tượng này luôn luôn tăng lên và đối tượng này cũng không phải là đặc biệt khó , vì mỗi chúng ta đều phải trải qua sự đam mê trong bản thân mình nên chúng ta không cần thiết phải mượn sự quan sát từ một lĩnh vực khác để vạch ra bản chất của nó . Những gì mà người cổ đại dạy chúng ta cũng không phải là nhiều lắm và phần lớn là không đáng tin cậy . Tôi không hi vọng là đạt đến chân lý bằng con đường khác ngoài con đường xa rời cách mà người xưa đã đi “ .

Descartes cho rằng tranh thái xúc cảm manh của linh hồn phụ thuộc vào các chuyển động hoặc các hoạt động của cơ thể . Theo ông : “  cái gì đối với linh hồn là sự đau khổ thì đối với cơ thể nói chung sẽ là hoạt động “ Lập luận này của Descartes đã mở ra một con đường mới trong việc nghiên cứu sự đam mê , ông đã dũng cảm vứt bỏ thiên kiến , những tư tưởng thống trị khoa học lúc bấy giờ . Những thiên kiến này coi chyển động xảy ra trong cơ thể là do sự tồn tại và hoạt động gây nên . Ông đã phát triển , đã giải thích sự đam mê và một loạt các hoạt động thần kinh khác hoàn toàn theo quan điểm sinh lý học .Sau  khi giải thích sự đam mê của linh hồn , hay như ta nói là sự đam mê của con người , theo quan điểm của sinh lý học , Descartes tiếp tục phân loại chúng , ông vạch ra cách chuyển sự đam mê phức tạp và đa dạng thành loại xúc cảm mạnh , cơ bản và đơn giản như sự ngạc nhiên , tình yêu sự dũng cảm , lòng căm thù , mong muốn , vui sướng và đau buồn … Trong học thuyết về sự đam mê của Descartes ta thấy rõ chỗ khác nhau căm bản giữa ông với các tác giả thời trước . Nếu những người đi trước ông tìm thấy sự hồi hộp của linh hồn trong sự đam mê thì Descartes nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa linh hồn và thể xác trong hiện tượng đam mê . Mỗi ý nghĩ , mỗi hành động của linh hồn liên quan đến một vận động của thể xác và ngược lại , mỗi lần khi các giác quan sinh ra một chuyển động thì cũng sản sinh ra một ý nghĩ như vậy . Mặt khác tuy rằng linh hồn và thể xác liên hệ với nhau song linh hồn có thể tự do đối với thể xác . Ý nghĩ sinh ra trong mối liên hệ với các chuyển động cụ thể trong cơ thể , nó có khả năng liên hệ với các chuyển động bên cạnh của cùng một hệ  thống . Do sự cơ động của bản thân mà ý nghĩ có khả năng chuyển từ hệ thống của những chuyển động này sang  hệ thống của những chuyển động khác . Chính khả năng này là tự do. Song khả năng tự do ấy không phải là hoàn toàn loại trừ đấu tranh , và chính sự đấu tranh này là điều kiện phát sinh sự đam mê . Đay là nội dung cơ bản của học thuyết về sự đam mê . Tuy ở đây có nhiều điểm không đúng , không chính xác , song học thuyết cảu ông vẫn có giá trị cụ thể to lớn của nó . Các nhà văn ở đây đã tìm ra ở đây chỗ dựa cho lý luận của mình . Sự đam mê không còn là một cái gì đấy thần bí , nó cũng không phaỉ là cuồng vọng , vô căn cứ , nó càng không phải là cái gì đấy bí ẩn do thượng đế đưa vào để hành hạ con người . Sư đam mê có cơ sở trần thế của nó .

2.2 Đánh giá học thuyết nhân bản học của Descartes .

Như vậy , trong nhân bản học của Descartes thể hiện rất rõ khuynh hướng tư tưởng của ông từ lập trường nhị nguyên luận duy tâm trong Cogito, ergo sum và siêu hình học sang lập trường nhất nguyên duy vật trong vật lý học và sinh lý học . Tuy nhiên chúng ta không nên hiểu sự vận động trên diễn ra một cách hoàn toàn dễ dàng . Cũng không nên nhìn nhận siêu hình học của Descartes là hoàn toàn duy tâm , còn vật lý học và sinh lý học là duy vật triệt để . Điều này cho thấy sự bế tắc của lập trường nhi nguyên trong việc giải quyết hàng loạt các vấn đề triết học và khoa học .Nó thể hiện sự trăn trở của nhà triết học người Pháp muốn xây dựng một hệ thống triết học và khoa học lành mạnh trong bôi cảnh ảnh hưởng của các thế lực tôn giáo trong xã hội vẫn còn rất mạnh . Nhưng học thuyết triết học của ông có ảnh hưởng rất lớn . Học thuyết về sự nghi ngờ được coi như phần mở đầu cho cơ sở triết học đứng đắn . Bốn nguyên tắc về phương pháp nhận thức , học thuyết về mối tương quan giữa ý chí và lý trí , tất cả đều biểu hiện thiên tài trong thế giới quan triết học của  Descartes .Ảnh hưởng của triết học Descartes không chỉ với chủ nghĩa duy tâm mà còn đối với chủ nghĩa duy vật . Chủ nghĩa duy tâm và duy lý duy tâm trong học thuyết duy tâm về nhận thức coi Congito , ergo sum là điểm xuât phát và tối cần thiết để giải thích tính chất đứng đắn cuả khoa học , để giải thích sự tồn tại của thế giới . Các nhà triết học duy tâm từ thế kỉ XVII đến nay vẫn đánh giá cao học thuyết này .

Song triết học Descartes không chỉ là duy tâm nó còn có xu hướng duy vật . Học thuyết về phản xạ , học thuyết về sự phụ thuộc của các yếu tố tâm lý vào các yếu tố sinh lý đã đánh mạnh vào thần học và loại nó ra khỏi khoa học tự nhiên . Một số người đã có ý định mở rộng phương pháp và chủ nghĩa duy vật do Descartes đề xuất sang lĩnh vực mà ông chưa từng nghĩ tới như lĩnh vực xã hội và lĩnh vực nhà nước .

Học thuyết của ông là nguồn gốc lý luận trực tiếp của triết học B.Spinoza ( 1632 – 1677 ) . Lý luận của ông về phương pháp nhận thức nhờ phân tích và diên dịch đã có tiếng vang lớn và hai thế kỷ sau vẫn còn tác dụng .

Ảnh hưởng của ông không chỉ bó hẹp trong phạm vi nước Pháp . Nó lan sang đến nước Anh và nhiều nước khác . Locke đã chọn lấy những yếu tố triết học Descartes phù hợp với mình và phát triển tiếp . Leibniz , nhà triết học duy tâm khách quan Đức , đã tiếp thu chủ nghĩa duy lý của Descartes .Vào giữa thế kỉ XVIII một loạt các nhà triết học như La Mettrie ,Denis Diderot , Baron Holbach , xuất hiện không  phải ngẫu nhiên .

Share
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *