Lịch sử - Văn hoáTôi đọc

Karl Đại đế – vị vua suýt thống nhất châu Âu

Charlemagne

Charlemagne – Carolus Magnus hoặc Karolus Magnus – Có nghĩa là Charles the Great; (năm 742 -> 28 tháng 1 năm 814) là Vua của người Frank từ năm 768 và là Hoàng đế La Mã (Imperator Romanorum) Từ năm 800 đến khi chết ông đã mở rộng vương quốc của người Frank thành một đế chế gồm những kết hợp của nhiều vùng lãnh thổ của Tây và Trung Âu. Trong suốt triều đại của mình, ông đã chinh phục Italy và được đăng quang làm Imperator Augustus bởi Giáo hoàng Leo III vào ngày 25 tháng 12 năm 800. Sự kiện này tạm thời làm cho ông ta trở thành đối thủ của Hoàng đế Byzantine ở Constantinople. Thời kỳ trị vì của ông cũng gắn liền với thời Phục hưng Carolingian, Một sự hồi sinh của nghệ thuật, tôn giáo, và văn hóa thông qua các phương tiện của Giáo hội Công giáo. Thông qua các cuộc chinh phục ra nước ngoài và cải cách nội bộ, Charlemagne đã giúp để xác định hai vùng Tây và Trung Âu cổ. Ông được đánh số nhưCharles I trong danh sách regnal của Pháp và Đức (Tại Đức tên ông được đọc như là Karl der Große) và Đế chế La Mã Thánh thần.

Là con trai của vua Pépin Lùn và Bertrada của xứ Laon, Ông kế vị cha mình và đồng cai trị với người anh trai Carloman I. Người này có mối quan hệ rất xấu với Charlemagne, nhưng nội chiến đã được ngăn chặn bởi cái chết đột ngột của Carloman trong năm 771. Charlemagne tiếp tục chính sách của cha ông và đã chở thành người bảo hộ cho Đức giáo hoàng, ông đã loại bỏ quyền lực của triều đình Lombard ở Ý (như đã nói ở phần trước Charles Martel đã từng là đồng minh của vua xứ Lombard nên ông phải để cho cháu của mình diệt xứ này ) và dẫn đầu một cuộc tấn công vào người Hồi giáo Tây Ban Nha, nơi mà ông đã được mời tới để giúp đỡ bởi viên thống đốc Hồi giáo của Barcelona. Charlemagne nhận được lời hứa hẹn là sẽ được tặng nhiều thành phố của Iberia khi viện trợ về mặt quân sự cho viên thống đốc này, tuy nhiên thỏa thuận này đã bị hủy bỏ. Sau đó, trong lúc rút lui quân đội của Charlemagne đã có kinh nghiệm về một thất bại tồi tệ nhất của mình trước quân đội của xứ Basques, tại Trận Roncesvalles (778) memorialised, mặc dù rất nhiều tiểu thuyết, Trường ca Roland. Ông cũng tiến hành các chiến dịch để tấn công các dân tộc ở phía đông của vương quốc của mình, đặc biệt là người Saxon, và sau một cuộc chiến tranh kéo dài họ đã phải nằm dưới sự cai trị của ông. Bằng cách ép buộc chuyển họ phải chuyển sang đạo Thiên Chúa giáo, ông đã tập hợp họ vào một vùng đất của mình và do đó đã dọn đường cho triều đại Otto ( của người Đức ) sau này.

Ngày hôm nay ông không chỉ được coi là người cha sáng lập của cả hai chế độ quân chủ ở Pháp và Đức ( chú ý nước Đức ở đây là nước Áo – nước Đức hiện đại chỉ được thành lập ở thế kỷ 19 với nòng cốt là nước Phổ), mà còn là cha đẻ của châu Âu: Đế chế của ông đã lần đầu tiên thống nhất được các lãnh thổ ở Tây Âu kể từ sự sụp đổ của đế chế La Mã, và sự phục hưng của Carolingian đã khuyến khích sự hình thành một bản sắc chung của châu Âu.

Bối cảnh

Đến thế kỷ thứ 6 người Frank đã được Ki tô hóa và vương quốc Frank được cai trị bởi triều đại Merovingians, nó trở thành một vương quốc mạnh nhất và kế thừa của Đế quốc La Mã phương Tây. Nhưng sau trận Tertry, dòng Merovingians bị rơi vào trạng thái bất lực và họ thực chất không làm vua nữa (Rois fainéants). Hầu như tất cả các quyền hạn và bất cứ một quyết định nào của chính phủ đều được thực hiện bởi quan tể tướng hoặc Major Domus.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Năm 687, Pippin của Herstal (người bố của Charles Marrtel ), quan tể tướng của vương quốc Austrasia, đã kết thúc cuộc xung đột các vị vua khác nhau và các tể tướng của họ với chiến thắng của mình tại Tertry và trở thành Tể tướng duy nhất của toàn bộ các vương quốc Frank. Bản thân Pippin là cháu nội của hai nhân vật quan trọng nhất của Vương quốc Austrasian, Saint Arnulf của xứ Metz và Pippin của xứ Landen. Pippin the Middle cuối cùng đã thành công bởi Charles – người con trai ngoài giá thú của ông, sau này là Charles Martel (Hammer). Sau 737, Charles điều hành các vương quốc Frank mà không lập một vị vua nào lên ngôi nhưng không tự lập làm “vua”. Charles nhường quyền kế vị cho con trai của ông – Carloman và Pépin Lùn – bố của Charlemagne. Để kiềm chế sự ly khai ở ngoại vi của vương quốc Frank hai anh em đã dựng lên ngai vàng vua Childeric III, người được coi là vị vua cuối cùng của dòng Merovingian.
Sau khi Carloman (con của Charles Martel) từ bỏ chức vụ và đi tu, người anh em của ông, Pépin với sự chấp thuận của Giáo hoàng Zachary đã lật đổ Childeric III. Năm 751, Pépin được chọn và được xức dầu thánh tấn phong làm vua của người Frank và trong năm 754 Giáo hoàng Stephen II xức dầu thánh một lần nữa cho ông ta và người con trai trẻ của ông – người mà lúc này thừa kế tất cả các vùng đất rộng lớn bao phủ phần lớn phía Tây và Trung Âu. Như vậy là triều đại Merovingian đã bị thay thế bằng triều đại Carolingian, đây là triều đại được lấy theo tên cha của Pépin – Charles Martel (tên của Charles được phát âm thành Karle -> Karolingian).

Ngày và nơi sinh

Charlemagne được cho là đã được sinh ra vào năm 742, tuy nhiên có một số yếu tố để phải xem xét lại một cách chính xác ngày sinh. Đầu tiên là năm 742 được dùng để tính toán từ ngày ông mất hơn là dùng để xác nhận ngày sinh một cách chính xác. Một sinh ngày được đưa ra trong quấn Annales Petaviani, đó là ngày 02 tháng 4 năm 747. Trong năm đó, ngày 02 tháng 4 là ngày Lễ Phục Sinh. Sự ra đời của một hoàng đế tại Eastertime là một sự trùng hợp có khả năng gây ra những lời bình luận, nhưng không có nhận xét nào như vậy trong các tài liệu của năm 747, làm cho một số người nghi ngờ rằng ngày sinh nhật Phục Sinh là một cách làm sáng tạo để tôn vinh vị hoàng đế. Một số nhà bình luận khác có một số hồ sơ ban đầu lại cho rằng ông sinh ra vào một năm sau đó, năm 748. Hiện nay, người ta không thể chắc chắn về ngày sinh của Charlemagne. Các dự đoán tốt nhất có thể là từ ngày 1 tháng 4 năm 747 -> 15 tháng 4 năm 747, hoặc ngày 1 tháng 4 năm 748 tại xứ Herstal (Nơi cha của ông đã được sinh ra, một thị trấn gần Liège ở nước Bỉ ngày hiện đại), đây chính là nguồn gốc bắt đầu cho cả nhà Merovingian và lẫn nhà Carolingian. Ông đến sống tại biệt thự của cha mình ở Jupille khi ông được khoảng bảy tuổi, làm cho Jupille được liệt kê vào như là một nơi mà có thể là nơi sinh của ông ở hầu hết các cuốn sách lịch sử. Các thành phố khác cũng đã được đề xuất bao gồm Prüm, Düren, Gauting và Aachen.

Được mệnh danh là Charles le Magne “Charles Đại đế”, ông được đặt theo tên ông nội của mình – Charles Martel. Tên gọi này xuất phát từ tiếng Đức – karlaz” người đàn ông, thường dân tự do” biến thể của nó trong tiếng Đức – Kerl – “Người đàn ông, chàng trai” tương tự như tiếng Anh cổ churl. Tuy nhiên tên của ông khi được chuyển sang dạng La tinh hóa lại là “Carolus” hoặc”Karolus “

Tính cách cá nhân

Mặc dù không có miêu tả từ cuộc đời của Charlemagne còn tồn tại, tính cách cá nhân của ông thường được biết đến từ một mô tả của Einhard, tác giả cuốn tiểu sử Vita Karoli Magni (nhà viết sử đương đại). Einhard nói trong chương hai mươi hai của mình:

Ông là một con người có dáng vó khôi vĩ, vững chắc và có tầm vóc đáng kể vì chiều cao của ông lên tới bảy foot và ông có một cái đầu tròn, đôi mắt to và sống động, một cái mũi hơi lớn hơn so với bình thường, tóc màu trắng nhưng vẫn đẹp, thể hiện một sự tươi sáng và vui vẻ với cái cổ ngắn và có nhiều mỡ và ông được thừa hưởng một sức khoẻ tốt, ngoại trừ cơn sốt có ảnh hưởng đến ông ta trong vài năm cuối cùng của cuộc đời mình. Vào lúc cuối đời ông bị kéo lê một chân, mặc dù vậy ông vẫn tỏ ra “cứng đầu” bằng cách làm những gì ông muốn và từ chối nghe theo lời khuyên của các bác sĩ – ông ta rất ghét họ vì họ muốn thuyết phục ông ngừng ăn thịt nướng và bắt ông phải ăn thịt luộc một kiểu nấu nướng mà ông không thích.

Bức chân dung về mặt vật lý được cung cấp bởi Einhard được xác nhận bởi những mô tả ở thời đương đại về hoàng đế, chẳng hạn như ở trên những đồng tiền xu và tượng 8-inch bằng đồng của ông được giữ trong cung điện Louvre. Năm 1861, ngôi mộ của Charlemagne đã được mở ra bởi các nhà khoa học để họ tạo lại bộ xương của ông và người ta ước tính rằng cơ thể của ông cao khoảng 74,9 inch (190 cm). Một nghiên cứu hiện đại dựa trên kích thước xương ống chân và ước tính chiều cao của ông là khoảng 1,84 m. Với chiều cao này thì ông cao hơn 99 % những người đàn ông ở thời kỳ của ông vì chiều cao trung bình của nam giới ở thời gian của ông là 1,69 m. Chiều rộng của xương hông cho thấy ông có dánh bề ngang thanh mảnh và không thực sự có một cấu tạo cơ thể mạnh mẽ.

Charles cũng được biết đến với bộ tóc dài trung bình, cao lớn, và trang nghiêm, với một cái cổ to không tương xứng. Truyền thống vẽ chân dung cá nhân của La Mã lúc đó thường chọn lúc nửa tối nửa sáng, để làm biểu tượng hóa những đặc điểm cá nhân của người được vẽ tranh.
Charlemagne lại là một vị vua lý tưởng nên ông đã được miêu tả chân dung theo một phong cách tương ứng và tất cả các bức chân dung về ông thời kỳ này đều như vậy. Những bức tranh vẽ Charlemagne đăng quang, trở thành đại diện của Thiên Chúa Kitô trên trái đất … chịu nhiều những ảnh hưởng từ chân dung của Chúa Kitô hơn là về khuôn mặt thật của ông.Hình ảnh của Charlemagne trong những bức tranh của người đời sau (điển hình như của Dürer) thường được mô tả với mái tóc vàng chảy, vì ông đã mắc hiểu nhầm từ quấn sách của Einhard, người mô tả là có Charlemagne canitie Pulchra, hoặc là “tóc đẹp mầu trắng” và cũng đồng thời do phải thu thập thông tin từ nhiều bản dịch, thế là ông này kết luận rằng tóc của Charlemagne có mầu vàng.

Trang phục

Charlemagne thường mặc trang phục truyền thống, không dễ thấy và rõ ràng không phải là trang phục quý tộc của người Frank, Mô tả bởi Einhard như sau:

Ông thường mặc những trang phục kiểu dân tộc đó là trang phục của người Frank: đó là một chiếc áo vải lanh và quần vải lanh ống túm và bên ngoài là những chiếc áo dài lụa tua, trong khi ống quần được cài chặt bởi các băng vải để che đi cái chân bị tật (khi về già của ông) đi một đôi giày, ông bảo vệ và giữ ấm cho vùng vai và ngực của mình ở mùa đông bởi một chiếc áo lót bằng da rái cá hoặc Marten.

Ông mặc một chiếc áo choàng màu xanh và luôn luôn mang theo một thanh kiếm trong mình. Đó là một thanh kiếm điển hình với một chiếc cán kiếm vàng hoặc bạc. Ông thường đeo thanh kiếm ưa thích để dự tiệc hoặc đón tiếp sứ giả nước ngoài. Tuy nhiên: Ông không thích các trang phục của nước ngoài tuy rằng chúng là khá đẹp với ông và không bao giờ tự cho phép mình được mặc các loại quần áo đó, ngoại trừ hai lần ở Rome, khi ông mặc một chiếc áo Chlamys và mang dép kiểu La Mã. Đây là lần đầu tiên theo yêu cầu của Giáo hoàng Hadrian và lần thứ hai để làm vừa lòng Giáo hoàng Leo

Ông chỉ mặc những trang phục lộng lẫy này trong những dịp cần thiết. Vào những ngày lễ lớn, ông mặc áo thêu và đồ trang sức trên quần áo và giày của mình. Ông có một khóa vàng cho chiếc áo choàng của mình trong những dịp như vậy và xuất hiện với một chiếc vương miện rất lớn, nhưng ông cũng không khoái cách trang phục đó, theo Einhard – Charlemagne thích ăn mặc giống như một người dân thường.

Các cuộc chiến của Hoàng Đế Charlemagne

Chiến dịch ở Ý

1
Bản đồ vương quốc Frank dưới thời của Hoàng đế Charlemagne

Cuộc chinh phục xứ Lombardy
Vua Charlemagne của người Frank là một người Công giáo mộ đạo, người đã duy trì một mối quan hệ chặt chẽ với các giáo hoàng trong suốt cuộc đời của mình. Năm 772, khi Giáo hoàng Hadrian I bị đe dọa bởi quân xâm lược, nhà vua đã mang quân đến Rome để cung cấp hỗ trợ. Trong bức ảnh này Đức Giáo Hoàng yêu cầu được Charlemagne giúp đỡ tại một cuộc họp gần Rome

Sau sự lên ngôi của Giáo hoàng Hadrian I năm 772, ông yêu cầu phải trả lại một vài thành phố nhất định của cựu Tổng giám mục của Ravenna cho giáo Hoàng như theo một lời hứa của Desiderius. Desiderius thay vì chuyển quyền tiếp quản các thành phố đó cho Giáo hoàng lại tiến hành một cuộc xâm lược vào Pentapolis và hướng vào Rome. Hadrian gửi sứ giả đến chỗ Charlemagne vào mùa thu để yêu cầu ông thực thi các chính sách của cha mình – nhà vua Pippin. Desiderius gửi sứ giả của ông đến để phủ nhận các cáo buộc của Giáo hoàng. Cả hai viên sứ giả đã gặp nhau tại Thionville và Charlemagne đã tôn trọng lời yêu cầu của Giáo hoàng. Charlemagne kịp thời thực hiện những gì Đức Giáo Hoàng đã yêu cầu và đã thề không bao giờ để cho Desiderius kịp làm điều gì. Charlemagne và chú của mình là Bernard vượt qua dãy Alps ở năm 773 và đuổi người Lombard trở lại Pavia, và sau đó đã bao vây họ. Charlemagne tạm rời phải hủy bỏ cuộc bao vây để đối phó với Adelchis, con trai của Desiderius, người đã gây dựng một đội quân tại Verona. Vị hoàng tử trẻ tuổi đã bị đuổi đến vùng duyên hải Adriatic và ông này phải trốn sang tận Constantinople để xin được hỗ trợ từ Constantine V, người đang tiến hành một cuộc chiến tranh với người Bulgaria.

Cuộc bao vây kéo dài cho đến mùa xuân 774, khi Charlemagne viếng thăm Đức Giáo Hoàng ở Rôma. Ở đó ông xác nhận khoản tài trợ của cha mình về đất đai với một số biên niên sau đó tuyên bố, tuyên truyền giả dối, rằng ông cũng mở rộng cho họ, cấp giấy Tuscany, Emilia, Venice và Corsica. Đức Giáo Hoàng đã cấp cho ông danh hiệu quí tộc. Sau đó ông trở về Pavia nơi mà người Lombard đã trên bờ vực của sự đầu hàng.

Để đổi lại lấy cuộc sống của họ, người Lombard xin đầu hàng và mở rộng các cửa thành vào đầu mùa hè. Desiderius được gửi đến tu viện Corbie và Adelchis con trai ông đã chết ở Constantinople. Charles một cách bất ngờ đã tự mình lên ngôi với Iron Crown và đòi các công quốc của xứ Lombardy phải cống nộp và tỏ lòng kính trọng với ông lúc ở Pavia. Chỉ có công tước Arechis II của Benevento là từ chối cống nộp và tuyên bố độc lập. Charlemagne sau đó đã được xuy tôn ở Italia như là vua của người Lombard. Ông rời Italia với một đơn vị đồn trú ở Pavia và một vài đội quân người Frank quanh đó.

Hiện vẫn còn bất ổn, tuy nhiên, ở Italia. Năm 776, Các công tước Hrodgaud của xứ Friuli và Hildeprand của Spoleto nổi loạn. Charlemagne vội chạy về từ Saxony và đánh bại công tước xứ Friuli trong trận chiến và giết chết ông này. Công tước của xứ Spoleto phải ký một hiệp ước. đồng minh với ông. Arechis không chịu khuất phục và Adelchis, ứng cử viên của họ thì vẫn phải ở lại Hy Lạp và không bao giờ có thể rời khỏi thành phố này. Miền Bắc Italy giờ đây đã trung thành với Charlemagne.

Miền Nam nước Ý

Trong năm 787 Charlemagne hướng sự chú ý về phía Benevento, nơi Arechis đang trị vì một cách độc lập. Charlemagne bao vây Salerno và Arechis phải xin được lệ thuộc. Tuy nhiên sau cái chết của ông ( Arechis) vào năm 792, Benevento một lần nữa tuyên bố độc lập dưới sự lãnh đạo của con trai ông – Grimoald III. Grimoald bị tấn công bởi quân đội của Charles hoặc con trai của ông ta nhiều lần nữa nhưng bản thân Charlemagne không bao giờ trở lại Mezzogiorno và Grimoald đã không bao giờ bị buộc phải đầu hàng trước quyền bá chủ của người Frank.

Charles và các con

Trong thời kỳ hòa bình đầu tiên (780-782), Charles bắt đầu bổ nhiệm con trai của ông vào vị trí của chế độ theo truyền thống của các vị vua và các Tể tướng từ trước đó. Năm 781, ông đã phong vương cho hai người con trai trẻ của mình và họ được đăng quang bởi Đức Giáo Hoàng. Người cao tuổi hơn trong hai người con – Carloman – làm Vua của Ý và nhận chiếc vương miện mà người cha của ông lần đầu tiên đội trong năm 774 và trong cùng một buổi lễ người con này được đổi tên thành “Pippin.” Người con trẻ thứ hai Louis đã trở thành vua của xứ Aquitaine. Charlemagne đã ra lệnh rằng Pippin và Louis phải được trưởng thành theo tập quán của vương quốc của họ và ông đã cho họ nhiếp chính và kiểm soát một số vương quốc chư hầu của họ, nhưng thực tế quyền lực là luôn ở trong tay của ông, mặc dù ông dự định con trai của ông kế thừa bờ cõi của họ trong một ngày nào đó. Có thể là do ông phải chịu đựng sự bất phục tùng của các con trai của mình vào năm 792, ông đã trục xuất người con trai cả của ông, và gửi Pippin Gù – người con trai trẻ ngoài giá thú của ông đến tu viện Prüm, bởi vì người thanh niên trẻ này đã tham gia một cuộc nổi loạn chống lại ông.

Charles được cho là đã giáo dục các con mình tương đối tốt, bao gồm cả con gái của ông. Các con của ông đã được giảng dạy tất cả các nghệ thuật, và con gái của ông được học về công việc của phụ nữ. Con trai của ông được học bắn cung, cưỡi ngựa, và các hoạt động ngoài trời khác.

Các con trai của ông đã phải tham gia chiến đấu nhiều cuộc chiến tranh thay mặt cho cha của họ khi họ đến tuổi trưởng thành. Charles lúc này cố gắng để chinh phục người Bretons những người có chung đường biên giới với mình, tấn công họ ít nhất hai lần, ông cũng đã tổ chức rất nhiều đợt tấn công vào người Saxons. Trong 805 và 806 ông gửi quân vào xứ Böhmerwald (Xứ Bohemia hiện đại) để đối phó với người Slav sinh sống ở đó (Séc). Ông bắt họ phải quỳ gối trước người Frank và tàn phá thung lũng Elbe, khiến họ phải cống nộp. Pippin đã phải giữ vùng biên giới với vùng Avar và Beneventan nhưng cũng phải chiến đấu với người Slav ở phía bắc. Ông là người duy nhất sẵn sàng để chiến đấu chống lại Đế quốc Byzantine khi cuộc xung đột phát sinh sau ngày đăng quang của hoàng đế Charlemagne và một cuộc nổi loạn của người Venetian. Cuối cùng, Louis phải quản lý Spanish March và cũng phải đến miền nam nước Ý để chống lại công tước của Benevento ít nhất một lần. Ông lấy được Barcelona trong một cuộc bao vây lớn trong năm năm 797.

Thái độ của Charlemagne đối với con gái của ông chủ đề của nhiều cuộc thảo luận. Ông nhốt họ ở nhà với và từ chối cho phép họ lấy chồng theo kiểu môn đăng hậu đối – Có thể để ngăn chặn việc tạo ra các chi nhánh nhỏ để tránh cạnh tranh với nhánh chính của gia đình, cũng như trường hợp với Tassilo của Bayern – Nhưng ông chấp nhận mối quan hệ ngoài hôn nhân của họ, thậm chí ông chấp nhận việc họ lấy chồng là những người bình thường và trân trọng những người con ngoài hôn nhân mà họ có. Ông cũng có, rõ ràng, không tin câu chuyện của hành vi hoang dã của mình. Sau khi ông chết những người con gái còn sống bị gom lại bởi tòa án của các anh trai của mình – Louis Ngoan đạo – để về sống trong một tu viện mà họ đã được thừa kế của cha mình. Ít nhất một trong số họ, Bertha, đã có một mối quan hệ được công nhận, nếu không phải là một cuộc hôn nhân, với Angilbert, một thành viên của ủy ban tòa án của Charlemagne.

Chiến dịch Tây Ban Nha

Chiến dịch Roncesvalles

Theo các sử gia Hồi giáo Ibn al-Athir, the Diet of Paderborn đã gặp sứ giả của thủ lĩnh Hồi giáo cai trị cai trị các xứ Zaragoza, Girona, Barcelona và Huesca. Tôn chủ của họ đã bị dồn vào một góc ở bán đảo Iberia bởi Abd ar-Rahman I, Quốc vương của Umayyad xứ Córdoba. Những thủ lĩnh người Moor hoặc người “Saracen” cai trị xin dâng đất của họ để tỏ lòng tôn kính và để trả cho sự ủng hộ quân sự của nhà vua vĩ đại của Frank. Nhìn thấy một cơ hội để mở rộng Cơ đốc giáo và quyền lực của mình và tin rằng Saxons là một quốc gia hoàn toàn đã bị chinh phục, ông đồng ý hành quân tới Tây Ban Nha.

Năm 778, ông dẫn đầu quân đội Neustrian đèo Pyrenees ở hướng Tây, Trong khi quân đội của các vương quốc Austrasians, Lombard và Burgundy vượt qua hướng Đông của dãy núi Pyrenees. Các đội quân đã hội binh ở Zaragoza và Charlemagne đã nhận được sự tôn kính của các nhà cai trị người Hồi giáo, Sulayman al-Arabi và Kasmin Yusuf ibn, nhưng thành phố đã không mở cửa để đón ông. Thật vậy,

Charlemagne đã phải đối mặt với trận chiến khó khăn nhất trong sự nghiệp của mình, nơi người Hồi giáo đã chiếm ưu thế và buộc ông phải rút lui. Ông quyết định rút lui về nhà, kể từ đó ông không bao giờ tỏ ra tin tưởng người xứ Basques, những người mà ông đã đánh bại khi chinh phục xứ Pamplona. Sau đó ông quay ra và rời khỏi xứ Iberia, nhưng ông đi qua chiếc đèo Roncesvalle thì một trong những sự kiện nổi tiếng dưới triều đại lâu dài của ông đã xảy ra. Người xứ Basques kéo ùa vào hậu đội và đoàn chở hành lý của ông và tiêu diệt hoàn toàn họ. Trận đèo Roncevaux thực sự không phải là một trận chiến mà là một cuộc tàn sát làm cho nhiều người nổi tiếng bị giết chết: trong số đó là seneschal Eggihard, bá tước của cung điện Anselm và chỉ huy của lực lượng kỵ binh Breton – Roland – đây chính là cảm hứng để các nhà thơ đương thời sáng tác bài Trường ca của Roland (La Chanson de Roland).

Cuộc chiến tranh với người Moor

Cuộc chinh phục của Ý đã đạo điều kiện cho Charlemagne tiếp xúc với người Saracen vào thời điểm đó đang kiểm soát vùng Địa Trung Hải. Pippin con trai của ông có quá nhiều bận rộn với người Saracen ở Italia. Charlemagne chinh phục các đảo Corsica và Sardinia rồi Quần đảo Balearic vào năm 799. Các đảo này thường bị cướp biển người Saracen tấn công nhưng các công tước các xứ Genoa và Tuscany (Boniface) đã bố trí một hạm đội lớn ở trong vịnh để giữ yên các đảo này cho đến cuối triều đại của Charlemagne. Charlemagne thậm chí đã có liên lạc với caliphal của Baghdad. Năm 797 (hoặc 801), khalip củaBaghdad – Harun al-Rashid – đã cống nộp cho Charlemagne một con voi châu Á được đặt tên là Abul-Abbas và một chiếc đồng hồ.

Tại Hispania các trận chiến chống lại người Moor tiếp tục nổ ra mà không hề xuy giảm cường độ trong suốt nửa cuối của triều đại của ông. Louis con trai của ông quản lý biên giới Tây Ban Nha. Năm 785, quân đội của ông đã chiếm giữ Gerona một cách lâu dài và mở rộng quyền kiểm soát của người Frank vào duyên hải Catalan trong thời gian cai trị của Charlemagne ( và nó thuộc về người Frank cho đến Hiệp ước Corbeil năm 1258). Các thủ lĩnh của tín đồ Hồi giáo ở phía đông bắc Tây Ban Nha đã liên tục chiến đấu chống lại quyền lực của xứ Córdobar và họ thường kêu gọi sự giúp đỡ của người Frank. Biên giới của người Frank được mở rộng một cách từ từ cho đến năm 795, khi Gerona, Cardona, Ausona và Urgel được thống nhất vào Tây Ban Nha March mới trong lảnh địa cũ Septimania.

Trong năm 797 Barcelona, thành phố lớn nhất của vùng này rơi vào tay người Frank khi Zeid, thống đốc của nó nổi dậy chống lại Tiểu vương Córdoba và thất bại nên phải giao thành phố cho họ. Quân đội của Umayyad chiếm lại nó trong năm 799. Tuy nhiên Louis của xứ Aquitaine đã mang toàn bộ quân đội của vương quốc của mình đèo Pyrenees và bao vây nó được hai năm, từ mùa đông năm 800-> 801 khi nó đầu hàng. Người Frank tiếp tục tiến tới để tấn công Tiểu vương Ả rập. Họ đã chiếm được Tarragona trong năm 809 và Tortosa trong năm 811. Các cuộc chinh phục cuối cùng đưa họ đến cửa của xứ Ebro và tạo điều kiện cho họ tấn công đến tận Valencia, khiến Tiểu vương al-Hakam I phải chịu thua trước cuộc chinh phục của họ trong năm 812.

Chiến dịch phía Đông

Chiến tranh với người Saxon

Charlemagne đã tham gia vào các trận chiến gần liên tục trong suốt triều đại của ông, và thường ở vị trí đầu tiên của đội vệ sỹ SCARA tinh hoa của ông với thanh kiếm huyền thoại Joyeuse của mình trong tay. Sau ba mươi năm chiến tranh và những 18 trận đánh trong – chiến tranh Saxon – Ông đã chinh phục xứ Saxon và tiếp tục chuyển đổi những người bị chinh phục sang Kitô giáo, đôi khi ông cũng phải sử dụng cả vũ lực để chuyển đạo.

Người Saxon được chia thành bốn nhóm trong bốn khu vực. Gần vương quốc Austrasia nhất là xứ Westfalen và xa hơn nữa là Eastphalia. Ở giữa hai vương quốc là Engria và ở phía Bắc của cả ba xứ này, tại bán đảo Jutland là Nordalbingia.

Trong chiến dịch đầu tiên của mình, Charlemagne buộc Engrian phải quy hàng năm 773 và cắt đi một trụ cột của Irminsul ở gần Paderborn. Chiến dịch đã bị cắt ngắn lại do chuyến viễn chinh đầu tiên của ông tới Italy. Ông trở lại vào năm 775, hành quân qua Westphalia và chinh phục pháo đài Sigiburg của xứ Saxon.sau đó ông vượt qua Engria và đánh bại người Saxon một lần nữa. Cuối cùng tại Eastphalia, ông lại đánh bại một lực lượng Saxon nữa và thủ lĩnh của nó Hessi phải chuyển đổi sang Kitô giáo. Ông trở lại qua Westphalia, sau khi xây dựng các doanh trại ở Sigiburg và Eresburg và sau đó chúng đã trở thành các pháo đài quan trọng của người Saxon. Tất cả các vùng của người Saxon trừ Nordalbingia đã bị ông ta kiểm soát, nhưng sự kháng cự của người Saxon vẫn không kết thúc.

Sau chiến dịch của mình tại Italia để chinh phục các công tước Friuli và Spoleto, Charlemagne nhanh chóng quay trở lại Saxony vào năm 776, nơi một cuộc nổi loạn đã bị tiêu diệt ở pháo đài của Eresburg. Người Saxon lại một lần nữa phải quỳ gối, nhưng người lãnh đạo chính của họ, công tước Widukind, đã cố gắng để thoát tới Đan Mạch, quê nhà của vợ ông. Charlemagne xây dựng một doanh trại mới tại Karlstadt. Năm 777, đặt một national diet tại Paderborn để quy tập đầy đủ người Saxon vào vương quốc Frank. Nhiều người Saxon đã chấp nhận được rửa tội.

Vào mùa hè năm 779, ông lại xâm lược và chinh phục các xứ Eastphalia, Engria và Westphalia của người Saxon. Tại một diet gần Lippe, ông chia đất cho các nhà truyền giáo và tự nguyện hỗ trợ cho các lễ rửa tội hàng loạt (năm 780). Sau đó ông trở về Ý và, lần đầu tiên không có cuộc nổi dậy nào nổ ra ngay lập tức ở Saxon. Trong 780 Charlemagne ra lệnh tử hình tất cả những người Saxon không chịu rửa tội, những người không chịu tham dự các ngày lễ của Kitô giáo và những người dùng hỏa táng cho người nhà của họ. Sachsen có hòa bình từ năm 780-> 782.

Ông trở lại Saxon vào năm 782 để thiết lập hệ thống lập pháp và bổ nhiệm các công tước ở cả Saxon và Frank. Các đạo luật rất khắc nghiệt về vấn đề tôn giáo và tôn giáo đa thần của người Đức bản địa đã bị đe dọa nghiêm trọng bởi Kitô giáo hóa. Điều này khuấy động một cuộc xung đột mới. Năm đó vào mùa thu Widukind trở lại và lãnh đạo một cuộc nổi dậy mới, kết quả là có một số cuộc tấn công vào các nhà thờ. Để đáp lại tại Verden ở xứ Hạ Saxony, Charlemagne bị cáo buộc đã ra lệnh chặt đầu người 4.500 người Saxon vì theo ngoại giáo bản địa của họ sau khi đã chuyển sang Thiên Chúa giáo, đây chính là vụ Thảm sát Verden (“Verdener Blutgericht”). Vụ thảm sát gây ra ba năm chiến tranh đẫm máu mới (từ 783-> 785). Trong cuộc chiến tranh cuối cùng FRISIANS cũng đã bị chinh phục và một phần lớn hạm đội của họ đã bị đốt cháy. Chiến tranh kết thúc với việc Widukind chấp nhận phép rửa tội.

Sau đó người Saxons duy trì hòa bình trong bảy năm, nhưng trong năm 792 xứ Westphalians một lần nữa đứng lên để chống lại kẻ xâm lược. Các xứ Eastphalian và Nordalbingian tham gia với họ vào năm 793, nhưng các cuộc khởi nghĩa đã không thắng lợi và bị đàn áp vào năm 794. Một cuộc nổi loạn ở Engrian lại diễn ra vào năm 796, nhưng với sự hiện diện của cá nhân Charlemagne và Thiên chúa giáo và ngững người Saxon cùng Slav theo Thiên chúa giáođã nhanh chóng nghiền nát nó. Các cuộc nổi dậy cuối cùng của những người có xu hướng độc lập nổ ra vào năm 804, hơn ba mươi năm sau khi nổ ra chiến dịch đầu tiên của Charlemagne để chống lại họ. Lần này, những người Nordalbingian ngang bướng nhất cũng cảm thấy không có hiệu quả từ các cuộc nổi loạn. Theo Einhard:

Cuộc chiến kéo dài nhiều năm đã kết thúc khi người Saxon chấp nhận các điều khoản được đưa ra bởi nhà vua, đó là từ bỏ tôn giáo truyền thống của họ và từ bỏ tôn thờ quỷ dữ, chấp nhận các bí tích của đức tin tôn giáo của Kitô giáo và hội nhập với người Frank để tạo nên một con người.

Chiến dịch Avar

Năm 788 người Avar, một bộ tộc ngoại đạo người châu Á đã tràn xuống vùng mà ngày nay là Hungary (Einhard gọi họ là rợ Hung), xâm chiếm Friuli vàBavaria. Charlemagne có nhiều thứ phải bận tâm cho đến năm 790, trong năm đó, ông đã hành quân xuống Danube và tiến vào lãnh thổ của họ và tàn phá đến tận Raab. Sau đó một đội quân Lombard theo Pippin hành quân vào thung lũng Drava và tàn phá xứ Pannonia. Các chiến dịch vẫn còn tiếp tục nếu người Saxon không nổi dậy một lần nữa vào năm 792 và phá vỡ bảy năm hòa bình.

Trong hai năm tới, Charlemagne chiếm đóng những người Slav và chống lại người Saxon. Tuy nhiên Pippin và Công tước Eric của Friuli vẫn tiếp tục tấn công vào các pháo đài hình tròn của người Avar. Chiếc nhẫn hình tròn của người Avar vốn cũng là thủ đô của họ, đã bị công chiếm hai lần. Nhiều chiến lợi phẩm đã được gửi về thủ đô cho Charlemagne, Aachen và phân chia cho tất cả những người theo ông và thậm chí cả những thủ lĩnh người nước ngoài bao gồm cả vua Offa của xứ Merc. Chẳng bao lâu thủ lĩnh của người Avar phải ra khỏi pháo đài và đi đến Aachen và xưng thần với Charlemagne và gia nhập Thiên chúa giáo. Charlemagne đã chấp nhận và gửi một thủ lĩnh người bản địa đã được rửa tội tên là Abraham trở lại Avaria với danh hiệu Khagan. Abraham đã kiểm soát được của mình, nhưng trong năm 800 người Bulgaria theo Khan Krum đã ùa vào và quét sạch người Avar đi. Trong thế kỷ thứ 10 người Magyar lại tràn vào chiếm đóng đồng bằng Pannonia và tạo ra một mối đe dọa mới cho con cháu của Charlemagne.

Các cuộc chinh phục phía Đông Bắc Slav

Năm 789, để nắn gân những người hàng xóm ngoại đạo mới của mình, người Slav, Charlemagne cử một đội quân Austrasian-Saxon qua sông Elbe vào lãnh thổ Obotrite. Người Slavơ ngay lập tức gửi lãnh đạo của họ – Witzin đến xin hàng phục. Charlemagne đã chấp nhận sự đầu hàng của Wiltze trước Dragovit và yêu cầu gửi nhiều con tin và cho phép để gửi nhiều nhà truyền giáo vào các khu vực ngoại đạo. Quân đội hành quân đến Baltic trước khi chuyển xung quanh và đi vào sông Rhine với nhiều chiến lợi phẩm không sách nhiễu dân chúng.Các nhánh người Slavơ đã trở thành đồng minh trung thành. Năm 795, hòa bình bị phá vỡ bởi người Saxons, các thủ lĩnh Abotrites và Wiltzes siết chặt vòng tay với chúa tể mới của họ để chống lại người Saxon. Witzin chết trong chiến trận và Charlemagne trả thù cho ông này bằng cách harrying Eastphalians ở Elbe. Thrasuco, người kế nhiệm ông, đã dẫn người của mình để chinh phục vượt qua xứ Nordalbingians và đưa các nhà lãnh đạo của họ, những người rất tôn vinh ông đến gặp Charlemagne. Người Abotrites vẫn trung thành với Charlemagne cho đến khi ông chết và sau đó đã chiến đấu chống lại người Đan Mạch.

Các cuộc chinh phục Đông Nam Slav

Khi mà Charlemagne bận rộn quá lâu ở Trung tâm Châu Âu, ông đã để vương quốc của người Frankish phải mặt đối mặt với người Avar và người Slav ở phía đông nam. Quốc gia láng giềng gần nhất phía đông nam của người Frank là Croatia, những người định cư tại Pannonian Croatia và Công quốc Littoral Croatia. Trong khi chiến đấu với người Avar, người Frank đã kêu gọi sự hỗ trợ của họ. Trong những năm 790 khi Charlemagne tiến hành các chiến dịch chống lại người Avar, ông đã giành được một chiến thắng lớn trong năm 796. Công tước Vojnomir của Croatia Pannonian đã hỗ trợ Charlemagne và người Frank chở thành chúa tể từ Croatia tới miền Bắc Dalmatia, Slavonia và Pannonia.
Thủ lĩnh của người Frankish Eric của xứ Friuli muốn mở rộng lãnh địa của mình bằng cách chinh phục công quốc Littoral Croatia. Trong thời gian đó, Littoral Croatia được cai trị bởi công tước Višeslav của Croatia, Một trong những công tước đầu tiên rất nổi tiếng của người Croatia. Trong Trận Trsat lực lượng của Eric đã phải bỏ chạy khỏi vị trí của họ và đã hoàn toàn bị tiêu diệt bởi lực lượng của Višeslav. Bản thân Eric cũng là một trong số những giết chết và cái chết cùng sự thất bại của ông đã được chứng minh là một đòn mạnh giáng vào đế chế Carolingian.
Charlemagne cũng hướng sự chú ý của mình vào những tộc người Slav ở phía tây của khaganate Avar: đó là các bộ tộc Carantanian và Carniolan. Những người này bị khuất phục bởi người Lombard và Bavarii, họ cũng đã xin quy phục nhưng chưa bao giờ hội nhập hoàn toàn vào vương quốc Frank.

Quân đội của vương quốc Frank thời Carolingian

Theo phong tục truyền thống của chủng người German, lực lượng vũ trang của người Carolingian được huy động cho mỗi chiến dịch trong mùa xuân và mùa hè.Hoàng Đế Charlemagne như là một lãnh chúa Frank có quyền gọi vào quân đội tất cả những người tự do – đến 60 tuổi-cho một chuyến viễn chinh. Binh sỹ nghĩa vụ được điểm danh bằng cách đếm đầu người. Nếu có bất cứ ai không chịu tham gia tập hợp, tiền phạt sẽ rất nặng và trừng phạt nặng tay có thể được áp dụng,nhưng những người chuyên làm nhiệm vụ kiểm tra, đo đếm thường xuyên bị cáo buộc là nhận hối lộ vàthường tiến hành biện pháp cưỡng chế trong quá trình tập hợp lính nghĩa vụ. Tập quán thường là quân đội được tập hợp vào mùa xuân và nó sẽ được duy trì hoạt động trong vòng 3-6 tháng. Quân đội được tập trung vàocuối tháng 5 để cho phép tuyết tan từ vùng sâu vùng xa và có cỏ tốt để vỗ béo cho ngựa. Các chiến dịch sẽ bị ngừng lại trong mùa đông, mặc dù các cuộc vây hãm có thể vẫn được duy trì nếu thấy cần thiết. Chỉ có những người giàu nhất trong số những người tự do có thể trở thành những chiến binh (hiệp sỹ ) vì họ có tiền để tài trợ cho vũ khí của mình, các trang thiết bị quân sự và binh lính của mình. Họ không được trả lương nhưng được trả bằng một phần chiến lợi phẩm, vàtài sản được lấy từ những kẻ thù bị đánh bại. Phương pháp phân chia chiến lợi phẩm này giữa các binh sĩ là một phương pháp khá thường xuyên. Phần lớn số chiến lợi phẩm sẽ thuộc về giới quý tộc, tất nhiên, nhưng mỗi người lính có thể nhận được phần thưởng của mình khi công chiếm một vị trí nào đó hoặc tướcđược trên xác của đối phương bị giết chết trên chiến trường.

Các chư hầu tuyên thệ nhậm chức và được ban cho các thái ấp– đây là một mô hình đã được hiện thực trong thời đại của Charles Hammer – và vẫn tiếp tụcđược mở rộng dưới thời của Charlemagne. Trong một thời kỳ nền kinh tế tự cung tự cấp không cần đến tiền, và với các cấu trúc thô sơ của bộ máy hành chính, cách dễ nhất để duy trì một thứ hạng của các chiến binh là phải cho thuê đất cho người phụ thuộc, những người vừa hết hạn phục vụ quân sự. Các chư hầu trực tiếp của nhà vua – thường là những người đàn ông của những gia đình tốt. Charlemagne dựa nhiều vào sự phục vụ của họ cho mục đích quân sự, nhưng đồng thời ông cũng không muốn họ trở nên quá độc lập. Tình trạng ban đầu của họ là không an toàn và không ổn định tùy thuộc vào ý muốn của quốc vương. Cuối cùng các chư hầu đã bén rễ đượcvào các đất phong của họ và cuối cùng trở thành vị thủ lĩnh quan trọng cai trị ở địa phương.

Tổng số lực lượng của quân đội Carolingian có thể là không nhiều, có thể chỉ là vài ngàn chiến binh. Những con số rất lớn được đưa ra bởi biên niên sử trung cổ miêu tả hàng nghìn hiệp sĩ dũng cảm chiến thắng hàng trăm ngàn kẻ thù độc ác được viết trong nhiều thế kỷ sau đó (nên không có tính chính xác). Họ không phản ánh thực tế mà chỉ dự định để gây ấn tượng với người đọc bằng phong cách tu từ, ngụ ngôn, và sử thi.

Xem xét về mặt chiến tranh, vũ khí trang bị, thiết bị và từ khoảng thời gian bắt đầu của người Frank tới khoảng thời gian vương quốc Frankcủa Charlemagne làđiều rất khó khăn vì các tài liệu bằng văn bản là các di tích khan hiếm và các tính toán chỉ là hoàn toàn dựa trên ý muốn. Có nhiều điều đáng tiếc vì đây là một kỷ nguyên trong lịch sử của trang bị và vũ khí khi mà các kiểu vũ khí cổ xưa dần dần bị thoái hóa khi các thiết bị mới xuất hiện. Các thay đổi xảy ra như thế nàolà điều khó giải thích, nhưng nó là có thể xảy ra vào cuối thời kỳ Merovingians và vào đầu thời kỳ Carolingians khi người Frank phải chiến đấu với nhữngngười Saracens, người Lombard,người Aquitanians và Saxons– và có một số ảnh hưởng thực tế. Một trong những thay đổi có tầm quan trọng lớn nhất về quân sự là việc đưa vào biên chế quân đội một số lượng rất lớn kỵ binh. Hoàng đế Charlemagne chắc chắn đã được ghi nhận vì đã cho phát triển lực lượng kỵ binh nặng nổi tiếng của người Frank. Các chiến binh cưỡi ngựa, các milites, người đã tạo thành những đội quân tinh nhuệ nhất thiết phải được rút ra trong số các quý tộc Frank thượng lưu và các vệ sỹ của họ cũng như là việc họ được trang bị thích hợp cho chiến tranh và họ phải tự cung cấp cho bản thân mình, cho người của mình với ngựa và vũ khí. Ngoài ra, họ phải tự cung cấp chẳng hạn như quần áo và lương thực cho ít nhất ba tháng và các thiết bị khác nhau như lều, dụng cụ nấu ăn, cuốc xẻng, cọc sắt nhọn và những thứ khác cần thiết cho một chiến dịch quân sự. Việc sử dụng ngày càng tăng lực lượng kỵ binh có xu hướng loại trừ những người tự do nhưng nghèo có thể tham gia chiến đấu với đầy đủ các trang bị vũ khí vì tại thời của Charlemagne chúng là khá tốn kém. Ước tính cho thấy một con ngựa chiến tốt có giá trị mười hai con bò, một thanh kiếm chất lượng hàng đầu và bao da tương đương bảy con bò, một chiếc áo giáp tương đương mười con bò, một bộ giáo và khiên tương đương hai con bò và một chiếc mũ sắt tốt có thẩm mỹ tương đương giữa bốn
-> sáu con bò.

Charlemagne đặc biệt tổ chức tốtvề mặt hậu cần quân sự. Các kế hoạch tiến quân được lập một cách cẩn thận trước khi được tiến hành, và nguồn cung cấp thường được trưng dụng một mùa trước khi bắt đầu chiến dịch. Charlemagne cho duy trì các kho cung cấp thức ăn, nước, cỏ, và vũ khí trong các cuộc chiến tranh với người Saxon của mình trong các đơn vị đồn trú tăng cường tại Herstelle, Eresburg, Buraburg, Fritzlar, và Paderborn. Mileage, giữa các kho chứa là một khoảng cách hợp lý từ một ngày hoặc hai ngày nếu là di chuyển dễ dàng hoặc bị chậm lại bởi sự quấy rối của đối phương. Các đoàn xe chở hành lý và đồcung cấp cho phép quân đội Frankdi chuyển mà không phải tìm kiếm thức ăn. Cướp bóc chính thức bị cấm – không phải vì bất kỳ lý do nhân đạo nào mà là vì nó làm giảm tốc độ của quân đội. Trong thực tế, nói chung cướp bóc xảy ra như một hình thức để trừng phạt đối với vùng đất của phiến quân và kẻ thù. Đâycũng có thể là một phần của một kế hoạch rộng lớn và được coi là để tàn phá, đè bẹp tinh thần chiến đấu của đối phương. Charlemagne sử dụng rộng rãi cácthông tin thường được thu thập bởi các điệp viên và được xem xéttrước khi chuyến viễn chinh bắt đầu. Các thông tin này bao gồm chi tiết về các vùng lãnh thổđối tượngcủa cuộc chinh phục, dân số, địa lý, phương pháp của chiến tranh và các kiểu mẫu của cuộc sống. Phương pháp có kỷ luật như thế này là rất bất thường tại thời gian này và các cuộc chiến thời hậu Trung cổ được tiến hành theo một cách lộn xộn hơn rất nhiều.

Chiến thuật ưa thích của Charlemagne là chia lực lượng của mình thành hai hoặc nhiều đội quân. Đây là chiến thuật được dự định để gây nhầm lẫn cho đối phương và khi các lực lượng Frank tập hợp lại, họ sẽ triển khai một cuộc tấn công tổng lực vào kẻ thù. Có những lý luận mâu thuẫn với nhau về các phương pháp chiến đấu được sử dụng bởi lực lượng kỵ binh Frank tại thời của Charlemagne. Mặc dù các chiến binh ngồi trên yên ngựa với đầy đủ bàn đạp, không nhất thiết rằng họ sẽ tận dụng được ưu thế này. Bàn đạp cho phép một kỵ sĩ sử dụng giáo của mình như là một vũ khí đâm mạnh mẽ tổ để anh ta giữ được đến gầnphần cuối ngọn giáo và kẹp chắc nó vào người mình bằng cánh tay phải. Quân độicủa Charlemagne đôi khi có thể sử dụng chiến thuật sốc của kỵ binh nặng khi tấn công ở tầm gần với giáo và kiếm. Tuy nhiên, các ghi chép cổ không xác nhận rằng chiến thuật này được sử dụng một cách rộng rãivà có vẻ như chiến thuật này được phát triển đầy đủ và làm việc rất thành công sau này. Hơn nữa, nếu người ta có xác định được rằng quân đội của Charlemagne có bao nhiêu lính kỵ binh thì người ta vẫn không rõ ràng rằng liệu họ thực sự luôn luôn chiến đấu từ trên lưng ngựa hay họ chỉ sử dụng loại động vật này đơn giản chỉ như là mộtphương tiện vận chuyển nhanh chóng. Chắc chắn, các chiến thuật trên chiến trường có thể trở nên tinh tế với một hàng rào cọc nhọn trước các cung thủ, tấn công bằng bộ binh hoặc kết hợp với kỵ binh tấn công theo sau cuộc tấn công của bộ binh. Thời gian của Charlemagne là một giai đoạn chuyển tiếp, trong đó các kỹ thuật của kỵ binh quân đội đang được thử nghiệm. Một sự tiến hóa là việc sử dụng áo giáp. Người Frank thường không mặc giápdo họ khinh bỉ chúng từ thờiffice:smarttags” />Clovis và chỉ dựa vào một lá chắn để tự bào vệ, các binh sỹ thời Carolingian của Charlemagne đã quen với việc sử dụngáo giáp rộng rãi. Thời của Charlemagne không chỉ những người lính giàu nhất trong số họ mới được mang những áo giáp bảo vệ cơ thể. Các áo byrnie hoặc brunia là những áo chẽn bằng da hoặc là một chiếc áo bằng da dài, che được nhiều phần kínvới nhiều phần nhỏ bằng kim loại hoặc sừng dày khâu trên đó. Chiếc áo giáp thườngdài tới đùi và có một chỗ mở ở phía trước để cưỡi ngựa được thuận tiện. Có nhiều loại hình mũ sắt bảo vệ,đáng chú ý là một loại mũ hình nón làm bằng sắtcứng đôi khi được gắn với bộ phận bảo vệ gò má và có thể được trang trí công phu. Để bảo vệ chân, người ta dùng các dây da, giày da lớn hoặc bambergues– ( xà cạp)bằng sắt. Binh sĩ mang những tấm lá chắn truyền thống bằng gỗ hình bầu dục hoặc hình tròn với một hộp kim loại ở trung tâm như là mộtvũ khí bảo vệ bổ sung.

Nếu hệ thống hậu cần, binh giáp và lực lượng kỵ binh có những bướcphát triển hơn lên, thì các loại vũ khí tấn công ở thời của Charlemagne lại hoàn toàn giống như những gì được sử dụng bởi người Frank ở thời kỳ đầu, tuy nhiên cũng có một số cải tiến. Các mũi giáo đã thường có trang bịmột thanh ngang để ngăn chặnviệc đâm quá sâu vào trong cơ thể của đối phương; sự hiện diện của thanh ngang ( crosspiece ) này áp dụng chủ yếu cho các vũ khí dùng từ lưng ngựa. Nếu không có thanh ngang, với một lực đâm đáng kể của các cú đánh, người kỵ sỹ ngồi trên lưng ngựa sẽ không rút lại hoặc lấy được vũ khí ra khỏi cơ thể của đối phương. Việc sử dụng thanh trường kiếm đã rất phát triển và không chỉ là dành riêng cho các chỉ huy như ởtrong giai đoạn đầu của người Frank. Các chiến binh Carolingian có một thanh kiếm với phần mũi được làm tròn như lưỡi dao được thiết kế để cắt hơn là để đâm. Sự phổ biến của những thanh trường kiếm có xu hướng để xác nhận việc sử dụng kỵ binh. Trên lưng ngựa, kỵ sĩ được hỗ trợ bởi con ngựa của mình cho phép anh ta sử dụng các loại vũ khí với hiệu ứng tuyệt vời mà nó thường có thể là quá cồng kềnh khi đi bộ. Các loại scramasax (dao một lưỡi) đời đầu của người Frank vẫn còn được sử dụng; lợi thế là nó có duy nhất một cạnh và lưỡiđao rất dày, nặng và ngắn, nó cũng có thể được sử dụng như một cái dùi cui. Các vũ khí khác còn được sử dụng như búa trận truyền thốngcủa người Frank. Việc sử dụng cung tên – bị loại bỏ bởi các chiến binh người rợ – được hồi sinh trong thời của Charlemagne. Nhiều binh lính có một cây cung, các mũi tên và bao tên như một đồ phụ tùng tiêu chuẩn, nhưng họ không phải là một lực lượng cung thủ chuyên nghiệp. Nhiều loại dạng lao – javelin và angon – được sử dụng làm vũ khí để phóng. Do đó, Những người lính của Charlemagne đã có kỹ năng về vũ khí về toàn diện, có khả năng chiến đấu cả ở khoảng cách xa và ở gần. Từ những trang thiết bị như thế này, chúng ta có thể thấy rằng các kỵ si Frank chính là giai đoạn phát triển đầu tiên của các hiệp sĩ bọc thép trong thế kỷ sau đó.

Charlemagne – như là một hoàng đế La Mã – có vệ sĩ riêng của mình. Các binh sĩ được lựa chọn từ quý tộc trẻ tuổi mạnh mẽ nhất của ông ta – và được phân biệt với các chiến binh khác. Họ có đặc quyền và phần nào được coi là lực lượng vệ binh Hoàng gia. Họ được cung cấp các đồ binh giáp gần giống với lính vệ binh Thời La Mã. Các binh sĩ ưu tú này mặc một chiếc áo giáp, khiên tròn và mang một thanh trường kiếm, nhưng thay vì đội một chiếc mũ sắt hình cầu của La Mã với các giáp bảo vệ cổ và má, họ lại đội một chiếc mũ kim loại hình tam giác.
2
Trang bị cá nhân của một lính kỵ binh người Frank
1. Mũ sắt hai mảnh
2. Mũ sắt một mảnh kiểu Hồi giáo – có thể nhập khẩu từ các nước Hồi giáo
3. Mũ sắt hình nón có đinh tán kiểu Trung – Đông Âu
4. Mũ sắt hình nón một mảnh không có phần che mũi
5. Mũ sắt được chắp từ nhiều phần, không có một dạng cố định. Đây là một kỹ thuật mới được ứng dụng rất nhiều ở thế kỷ 11
6 & 7. Áo giáp kiểu vảy cá được dùng ở phía Tây của châu Âu đang là điều còn được tranh cãi. Tuy nhiên các nhà khảo cổ học Pháp tìm thấy chứng cứ rằng ở Charavines – Provence áo giáp vảy cá bằng thép đã được sử dụng ở khoảng năm 1000
8 & 9. Đinh thúc ngựa bằng đồng – Croatia thế kỷ thứ 10
10. Lá chắn bọc thép ở giữa – thấy ở Đức thế kỷ thứ 10
11-> 15. Các loại kiếm từ Pháp, Đức và Trung Âu từ thế kỷ 9 -> 10

3
Trang bị của lính kỵ binh người Frank ở triều đại Carolingian
1. Mũ sắt với phần mở rộng về phía sau
2. Lá chắn bằng gỗ bọc da và được đóng đinh cả bên trong lẫn bên ngoài
3. Một loại mũ sắt khác xuấ hiện cả ở trong nghệ thuật lẫn khảo cổ
4. Giáp bằng thép bảo vệ tay
5. Giáp bằng thép bảo vệ chân được ghi lại trong một số văn bản cổ của người Frank theo kiểu dáng của người Byzantine
6. Bao đựng kiếm được làm từ gỗ, da và đồng
7. Loại kiếm đặc trưng có bản rộng, chuôi được bọc bằng da, núm chuôi kiếm bọc vàng
8. Kiếm có nguồn gốc từ vùng Hồi giáo
9. Kiếm có bản rộng, chuôi kiếm bọc da…

4
Tranh vẽ cảnh một nông dân người Frank bị mất ngựa ( ối làng nước ơi con ngựa của tôi đâu rồi he he), Ở giữa có cảnh một người lính kỵ binh người Lombard nhảy lên con ngựa không có yên cương (khả năng đồng chí này chính là thủ phạm của vụ mất ngựa), ở trên phải là các loại yên ngựa của người Frank thời Carolingian

5
Tranh vẽ cảnh kỵ binh người Frank luyện tập chiến trận, đích thân các con trai của Charlemagne ( Lui của nước Đức và Charles Hói của nước Pháp) giám sát các cuộc tập trận
6
Kỵ binh của vua Henry (một nhánh của triều Carolingian ở Đức ) đánh bại kỵ binh của người Magyar tại Riade năm 933 

7
Tranh vẽ một lính kỵ binh hạng nặng người Frank dùng giáo để khống chế một lính kỵ binh người Lombard để cho một người lính xứ Gascon cướp ngựa
1. Kỵ binh hạng nhẹ xứ Gascon
2. Kỵ binh hạng nặng Scara của Austrasia. lực lượng kỵ binh ưu tú của người Frank
3. Kỵ binh Gasindius của Lombard
8
Tranh vẽ một buổi truy lùng của binh lính Frank, có thể là truy lùng bọn cướp hoặc người man rợ … tấn công vào lãnh thổ của họ.
1. Lính kỵ binh hạng nặng Scola của người Frank
2. Lính kỵ binh thiết giáp – theo trang bị thì đây là một lính kỵ binh người Breton – một lực lượng kỵ binh rất thiện chiến của triều đại Caroligian
3. Một người Frank có vũ trang và mang theo chó săn

9
Lại tranh vẽ một cuộc truy lùng nữa của người Frank, trong cuộc truy lùng có sự tham gia của giáp kỵ người Avar và bộ binh Slav ( sau khi chuyển sang đạo cơ đốc thì những dân tộc này tỏ ra rất trung thành với người Frank)
1. Kỵ binh người Avar, đây là những kỵ sỹ có nguồn gốc từ châu Á, họ rất thiện chiến trên lưng ngựa.
2. Một bộ binh tộc Slav, đây là tộc người kề cận tộc Saxon ở châu Âu, những người cực kỳ hung dữ vào thời đó
3. Một dân binh người Saxon – cung thủ kiêm làm hướng đạo
10
Tranh vẽ Hoàng Đế Charlemagne mặc trang phục La Mã ( loại trang phục mà ông không ưa thích) phất cờ Đế chế về phía Tây để bình định vùng đất Hispanic của người Moor.
1. Hoàng Đế Charlemagne và lá cờ Đế chế
2. Tranh vẽ vệ binh của Giáo Hoàng La Mã – trang bị khá đơn giản
3. Kỵ binh Hispanic March

11
Tranh vẽ đội hậu binh của Charlemagne do Roland chỉ huy bị người xứ Basque tiêu diệt trong chiến dịch Tây Ban Nha

Đồng minh và những dân tộc phụ thuộc

Triều đình Caroligian là một triều đình quản lý một lãnh thổ rộng lớn và quân đội của nó cũng vậy. Một chiến dịch không thành công, lấy ví dụ: chiến dịch tấn công vào Saragoza năm 778,

Phạm vi của các cuộc tấn công thường giao động, ví dụ như trong năm 846 là khoảng 11 nghìn người với 500 ngựa chiến và 73 chiến thuyền tấn công Ostia và Rome – đây có lẽ là quân chính quy của triều đình Aghlabid chứ không còn là một nhóm phiêu lưu nữa. Trong rất nhiều mặt các chiến cụ của người Saracen lại tốt hơn của người Carolingian. Những chiến cụ để vây thành của họ cũng hiện đại như của người Hôi giáo ở phía Đông. Vào giữa thế kỷ thứ 9 họ đã biết dùng Lửa Hy Lạp (một loại vũ khí hải quân của người Byzantine) ở trên biển và sử sụng nó một cách rộng rãi vào thế kỷ thứ 10. Các cây cung của họ được phát triển từ loại cung composite La Mã – Xiry. Chiến thuật tấn công của người Saracen thì rất phức tạp và đầy yếm trá với thói quen sử dụng lực lượng dự bị và thậm trí là lực lượng dự bị bí mật ở những địa điểm tấn công được lên kế hoạch từ trước. Một sử gia vô danh viết quấn lịch sử Salerno Chronicle mô tả họ như là ” những người Ả Rập mánh khóe nhất và có bản chất xảo quyệt và thường kìm kiếm quỷ dữ hơn là những thứ khác …”

Bất chấp những thất bại trong việc bảo trợ của triều Carolingian cho người Ý, người Lombard và người Frank. Người Kitô giáo được hưởng lợi từ hàng loạt những kỹ thuật tiên tiến và sự bùng nổ vể kinh tế. Phần lớn là đơn độc với một vài giúp đỡ không thường xuyên từ người Byzantine họ cố gắng đánh tan đợt tấn công đầu tiên của người Hồi giáo. Nhưng vài năm sau họ lại trở lại với vẻ hung dữ hơn. Lần này người Hồi giáo đã thiết lập được các căn cứ quân sự ở châu Âu. Một số trong những căn cứ nguy hiểm nhất là ngọn núi ở cạnh con sông Garigliano River ở Ytalia và Fraxinctum ở Provence. Căn cứ đầu bị phá hủy vào năm 915 nhưng chiếc thứ hai tồn tại cho đến năm 972 phần lớn Apulia bị chiếm trong nửa cuối thế kỷ thứ 9 nhưng các đảo Sicily và Sardinia vẫn nằm trong vòng kiểm soát của người Hồi giáo cho đến thế kỷ 11.

Thành phố Naple của Italia, thành phố trên danh nghĩa thuộc về Đế quốc Byzantine nhưng thực chất lại là một thành phố độc lập, đã duy trì một liên minh với người Hồi giáo trong suốt thế kỷ thứ 9 và thế kỷ thứ 10, cũng liên minh với người Hồi giáo nhưng ở mức độ lỏng lẻo hơn là thành phố Salerno. Người Saracen, những người chiếm quyền kiểm soát ở Fraxinetum thuộc Provence đầu tiên là được mời tới bởi một phe trong các cuộc nội chiến và thậm chí là một số lượng rất lớn các nhà cầm quyền người địa phương ở Italia và miền nam nước Pháp đã tuyển lính đánh thuê người Hồi giáo từ Libia, Crete, Sicily và Spain. Rất nhiều người trong số họ đã định cư ở lại…Cố gắng chính của người Saracen định thuộc địa hóa Italia bằng vũ lực đã bị đánh bại khi căn cứ của họ ở Garigliano bị triệt phá. Bất chấp những …bởi nhiều nguyên nhân, nước Ý có một nền kinh tế vững chắc, nông nghiệp và thương mại phát triển nhanh chóng trong thế kỷ thứ 9 và thế kỷ thứ 10

Mối đe dọa thứ ba mà triều đình Byzantine phải đối mặt tại thế kỷ thứ 10 là người Magyar. Người Magyar là những tộc người Finno – Ugrian và người Thổ, bị đuổi khỏi vùng đất của họ tới miền Nam nước Nga và dường như họ đã bị mất toàn bộ gia đình ( phụ nữ, trẻ con…). Chiếm đóng và định cư tại Hungary vào cuối thế kỷ thứ 9, mặc dù là dân du cư nhưng về mặt văn hóa họ lại không phải là những kẻ man rợ, một vài trong số họ là người Kitô giáo, một số khác lại theo Do thái giáo … và kỹ nghệ chế tạo vũ khí của họ là tuyệt vời. Người Magyar bất chấp những điều không may và phải sống du canh du cư, nhưng họ vẫn giữ được truyền thống buôn bán trao đổi với Đế chế Byzantine và các tỉnh ở phía Đông theo đạo Hồi.

Mỗi một trong bộ tộc người Magyar được chỉ huy bởi một Hadnagy hay còn được gọi là một công tước, hoàng thân, người trở thành thành viên của hội đồng điều hành Arpad. Quyết định trọng đại như hòa bình hay chiến tranh được quyết định bởi thành viên của hội đồng, tương tự như hội đồng dị giáo của dân Scandinavơ ở thời đầu. Đối thủ của họ kính trọng họ vì họ rất có kỷ luật trong chiến đấu như theo quấn Chronica Hungarorum, quân đội của người Magyar được chia thành bẩy đạo binh có liên quan tới từng bộ tộc. Các đạo binh này lại được chia ra đơn vị nhỏ hàng trăm rồi hàng chục. Chiến tranh và cướp phá… những đám đông dân cư như người Slav bị khuất phục và người Magyar xâm được đều cùng định cư như những nông dân…

Một trong những mục tiêu của cướp phá dường như là để cướp phụ nữ, dường như theo truyền thuyết thì toàn bộ gia đình của họ bị kẻ địch bắt giữ khi họ vượt qua miền Nam nước Nga… Trong các doanh trại của mình người Magyar bố trí phòng thủ bằng những chiếc xe tải. Trong chiến trận họ chiến đấu như những những người du mục và sử dụng cung kỵ, tấn công bất ngờ, giả vờ rút lui. Họ thường không tổ chức công phá thành trì mà chỉ bao vây. Họ cũng thường duy trì liên lạc giữa các nhóm tấn công bằng tín hiệu khói. Một trong những đặc điểm của người Magyar là họ không cố tình chiếm đóng lãnh thổ, họ sự dụng đất và căn cứ của người Slav bị đánh bại để làm bàn đạp cho những cuộc tấn công xa hơn… Họ nhìn thấy người Bavaria ở phía Tây như là một mối đe dọa, đặc biệt là tỉnh mà người German vẫn đòi hỏi về lãnh thổ như là một vùng tiền tiêu của triều Carolingian cũ ở phía Tây của Hungary. Trong một cách giải thích khác, rất nhiều nhà cai trị người Ý, Đức muốn có một liên minh ngắn hạn với người Magyar để phục vụ cho lợi ích của họ trong các cuộc nội chiến và điều này đã đưa triều Carolingian đến kết thúc.

Sự tàn bạo trong các cuộc tập kích của người Magyar một lần nữa mang lại nguy hiểm cho vùng Asiatic (nay là vùng Adriatic) lúc này đã bị bỏ quên trong một thế kỷ so với các vùng vùng đất còn lại củaTây Âu. Năm 900, người Magyar gây sức ép vào các vùng biên giới của Đức, sau đó tràn vào các xứ Saxony và Bavaria. Từ năm 912 họ tiến lên một lần nữa vào các xứ Swabia, Thuringia, Lorraine và thậm chí cả xứ Burgundy ở Pháp, một vài người trong số họ đã mạo hiểm tiến rất xa đến tận Nimes và Narbonne ở miền nam nước Pháp (giáp Tây Ban Nha).Nhưng nơi thu hút họ đến nhiều nhất chính là Italia, một quốc gia màcác bá tước liên tục tiến hành các cuộc chiến tranh vô nghĩa và đánh giết lẫn nhau một cách tàn bạo. Các Giáo hoàng, người này nhanh chóng thay thế người kia và họ thường là rất đồi trụy và cũng tham gia vào các cuộc xung đột. Vì vậy người Magyar đã gặp rất ít khó khăn khi vượt qua dãy Alps và từ năm 921-> 926 họ đã tàn phá miền bắc Italy và Tuscany. Trong 937 người Magyar trở về Đức,và trong năm 954 họ trở nên thiếu thận trọng khi đi ngựa đến sông Rhine, vượt qua con sông này và đột kích vào các thành phố Metz, Cambrai, Rheims và Chalon. Mặc dù lực lượng của họ đã bị suy giảm, họ vẫn tiến hành bao vây thành phố Augsburg vào năm 955. Vào thời gian này Hoàng đế ĐứcOtto I Đại đế (936-973 người Saxony nhưng được hưởng các thành quả của triều Carolingian ở Đức) đã thiết lập vững chắc quyền lực của mình ở Đức. Hoàng đế Otto đã có thể tập hợp được một đội quân mạnh mẽ và giao chiến với những kẻ xâm lược ở bên bờ sông Lech – trận Lechfeld (Ngày 10 tháng 8 năm 955) kéo dài trong mười tiếng đồng hồ và cuối cùng Hoàng đế Otto đã chiến thắng. Người Magyar bỏ chạy một cách toán loạn và bị truy đuổi đến tận ngoại vi thành phố Vienna và bị vỡ ra thành từng toán nhỏ. Tại một cuộc chiến duy nhất mối nguy hiểm đã bị xóa bỏ, và thế là không còn cảnh người Magyar cưỡi ngựa đi cướp phá ở Đức. Trận chiến Lechfeid có giá trị mãi mãi trong lịch sử không chỉ vì nó đảo ngược dòng tiến quân của người du mục khi họ xâm nhập vào Tây Âu mà còn vì nó là một trong những ví dụ sớm nhất nếu không phải là ví dụ đầu tiên của những trận chiến toàn bằng kỵ binh trong thời trung cổ ở Tây Âu.

Sự tàn phá man rợ của người Magyar chỉ có thể được so sánh với những tàn phá trước đó của người Hun. Các cánh đồng đang đợi thu hoạch và các trang trại bị đốt cháy; gia súc giết mổ, các làng mạc, nhà thờ còn lại trong … và đàn ông bị giết chết,trẻ em bị cắt cổ và phụ nữ bị hãm-hiếp và giết chết. Chỉ các lâu đàivà nơi có các vị trí phòng thủ là thoát khỏi sự chú ý của họ bởi vì người Magyar không có máy công thành. Người Magyar không thực sự nhiều, có lẽ tổng cộngkhông đến hơn 20.000 kỵ binh và sự thành công về mặt quân sự chỉ có thể được giải thích là sự thiếu vắng một sức mạnh tập trung và sự yếu kém, sự chia rẽ và sự chuẩn bị không tốt của các đối thủ của họ. Thật vậy, ngay sau khi họ phải đối mặt với một lực lượng được tổ chức tốt của Hoàng đế Otto, họ đã bị đánh bạichỉ trong một trận chiến. Giống như người Hun, người Magyar là những kỵ sỹ có trình độ điều khiển ngựa tuyệt vời và có khả năng di chuyển linh hoạt để cơ động trên chiến trường. Vũ khí chính của họ là cung ngắn và rất uy lực kiểu Thổ ( người Magyar là những tay cung kỵ tuyệt vời có thể vừa phi ngựa vừa bắn tên – cung kỵ châu Âu không làm được như vậy, họ phải dừng ngựa mới bắn được tên ), lao, búa trận đầu rìu và các thanh kiếm cong kiểu phương Đông. Họ không mặc áo giáp nhưngmặc áo chẽn và đội mũ nỉ, mũ trụ được gia cố bảo vệ bằng các sọc kim loại. Kho vũ khí của họ cũng bao gồm nhiều loại vũ khí và các trang thiết bị chiến tranh khác thu được từ các kẻ thù bị đánh bại của họ.Trong năm 970 thủ lĩnh Geza của người Magyar và 5.000 chiến binh của mình đã chấp nhậnrửa tội và từ những kẻ cướp du mục họ đã trở thành những người định cư và thành lập lãnh địa của mình trong lưu vực sông Danube. Wajk con trai của Gezađãtrở thành vua Saint Stephen (997-1038) người đã thành lập ra vương quốc Hungary trong năm 1001. Sau đó người Magyar ngừng các cuộc tấn công cướp phávà bắt đầu thích ứng với một Cộng đồng châu Âu.

Nguồn: Hongsonvh

Share
Share: