Các nền văn minhLịch sử

Lê Thánh Tôn: Đỉnh cao của tổ chức cai trị ở Đông Kinh và tác động sâu đến tầng lớp cơ sở

trei-regate

Trích Sơ Thảo: Bài Sử Khác Cho Việt Nam – Tạ Chí Đại Trường

Mời bạn tìm sách của Tạ Chí Đại Trường trên Hang Cáo tại ĐÂY


 

Thái Tông chết vì một cơn đam mê sắc dục không phải chỉ gây vạ tru di cho Nguyễn Trãi mà còn gây cả một cuộc khủng hoảng về kế nghiệp khi Lê vẫn chưa thích ứng kịp với tình thế mới. Nguyên tắc truyền nghiệp từ anh sang em ngày trước, thành hình rồi bị phá vỡ vì còn có người cha (Thái Tổ) chủ trì, đến đây khi người cha (Thái Tông) đã mất thì quyết định phải nằm trong tay các phe phái cựu thần Lam Sơn lúc này đã chia rẽ hơn bao giờ hết. Cho nên thế quân bình thật là mỏng manh. Bang Cơ (Nhân Tông) nối ngôi vì Nghi Dân con trưởng đã bị truất phế, sự việc lên ngôi được quyết định bằng các thế lực nhỏ trong nội đình, nhưng không ngăn được phải trừ khử nhóm Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục mà vẫn chừa ra không kịp chận nhóm cấm vệ Lê Đắc Ninh, nhóm phục thù họ Trần trèo thang qua tường giết Nhân Tông, vợ và mẹ. Triều đình Nghi Dân yểu tướng trong tám tháng cũng chỉ vì gặp phe đối kháng khác, sau đảo chính lại phân vân lựa chọn giữa Tư Thành và Khắc Xương. Khắc Xương sợ hãi trước biến cố cung đình không dám nhận ngôi, tưởng mình thoát nạn không ngờ lại hại lây đến người ủng hộ (có lẽ rất tình cờ) là Lê Lăng mà bản thân thì cũng không thoát. Chỉ còn lại ông hoàng tử út mà tính cách nhỏ nhoi, co rút khởi đầu của ông không ngờ lại đem đến nguy khốn không những cho đám cựu thần Lam Sơn mà còn cho nhóm văn quan trung châu nữa.

Nhỏ nhoi khuất lấp vì phía ngoại mang gốc gác gia nhân của họ Lê – giữ nhà cho Lê Lợi đi đánh giặc, dấu vết còn chứng thực ngay lúc đã làm thông gia, là những chuyện mẹ bị đưa ra khỏi cung, con sinh ở chùa bên ngoài, mẹ con chịu ơn cứu vớt của Trịnh Khả (hay Nguyễn Thị Lộ)… Thật ra thì tư thế thấp kém đó lại làm cho ông xa rời vị trí cao cấp trong dòng họ làm vua, tách rời sinh hoạt Lam Sơn hơn những người khác, và mau chóng thâm nhập vào đời sống trung châu, Đông Kinh, nơi đang sôi nổi phong trào đua đòi kinh sách, khiến ông trở thành trí thức của thời đại, nắm vững quy luật trị nước theo Nho gia, dùng lí lẽ của ngay chính đám Nho gia kiêu ngạo để bài bác họ. Có thể thấy trong Toàn thư rất nhiều lời mắng mỏ quan chức nhưng nổi bật là lời mắng Ngô Sĩ Liên “phản quốc” vì bỏ Nghi Dân theo về ông, “mang lòng không vua” vì cho rằng ông không đủ tư cách tế Giao – lập luận của Ngô Sĩ Liên là dựa theo kinh sách học được: chỉ có vua Trung Quốc mới chính vì Thiên tử, mới được quyền tế Giao, còn lí lẽ của ông, là nhân danh tính phổ biến của quan niệm chủ tể, cũng từ Nho Giáo, ông là Thiên tử, vậy cũng đương nhiên có quyền tế Giao! Lại cũng không chỉ là lời nói, Thánh Tông còn bắt chước Hán Cao Tổ đái vào mũ quan, biểu dương quyền lực cụ thể cho đám văn nhân đó, vốn bản thân nhút nhát nhưng lại thường huênh hoang với mớ chữ nghĩa học được.

Tuy nhiên trong hai niên hiệu Quang Thuận (1460-1469), Hồng Đức (1470-1497) thì trong giai đoạn đầu ông phải lo chuẩn bị củng cố địa vị của mình để niên hiệu sau phát huy thành quả, lấy chiến thắng bên ngoài (Chiêm Thành) thay đổi chế độ rồi trên cơ sở đó lại cũng lập chiến công bên ngoài (đánh Bồn Man, Ai Lao) nâng cấp hiến định bên trong, rảnh rang ngâm vịnh với quan lại, tạo ra một sắc thái bình ổn của chế độ còn được giữ gìn đến nhiều đời sau, dù qua những biến cố, triều đại khác.

Thời gian đầu là việc thanh toán các quyền lực cạnh tranh còn sót lại. Không hiểu vì lẽ gì khác nhưng rõ ràng Thánh Tông thấy người yểm trợ quyền bính có thể trông cậy được là Nguyễn Xí, người trông coi đàn chó săn cũ của ông chủ Lê Lam Sơn. Bênh vực Nguyễn Xí đến phải che chở tội lỗi của Sư Hồi, con Xí. Chỉ bám vào thế lực duy nhất ấy cho nên ông lo sợ (1464) Nguyễn Xí chết, đọc thư nặc danh báo Sư Hồi làm phản, ông lại cho đương sự biết kèm theo lời ngọt ngào đe doạ, đồng thời nhắn nhe về sự rình rập của các phe phái khác để củng cố “liên minh” Lê Nguyễn chặt chẽ hơn. Tuy nhiên sự thành công của ông lại nhờ một phần ở tình thế đương thời nữa. Phe tướng lãnh tông tộc Lam Sơn qua một thế hệ tranh chấp ở Đông Kinh đã mòn nanh cùn vuốt rồi. Lê Lăng đề nghị lập người khác nên không được kể công làm đảo chính mà được đền bù bằng số ruộng ban cấp trội hơn người khác, rốt lại bị giết (1462). Chưa cần giết Cung Vương Khắc Xương (1476) thì thời cuộc cũng đã thấy tạm thời ổn định vì đến lúc này, ý thức quân quyền Nho Giáo đã có cơ sở trên kiến thức mới qua trường học từ cơ sở, qua các cuộc tuyển lựa thi cử mà Thánh Tông, qua hiểu biết thâm nhập của mình đã tìm cách khai thác thuận lợi cho ngôi vị. Bởi vậy, Nguyễn Xí chết đi, Sư Hồi cũng tuyệt tích trên các trang sử mà không có biến động nội bộ nào khác nữa bởi vì Thánh Tông đã có một chỗ dựa khác để xây dựng sự nghiệp cho mình, cho đất nước ông nắm trong tay. Những người lúc đầu được cho là ở phe đối địch: Lê Niệm, Lê Thọ Vực lại là những cánh tay đắc lực của ông trong việc bình Chiêm.

Chiến thắng 1471 đã giúp ông ban lệnh cải cách to rộng Hoàng triều quan chế, sắp xếp việc tổ chức hành chính, phân chia thứ bậc hưởng thụ quyền lợi đất nước, nâng cấp tính cai trị theo đà chuyên chế học được của Minh, dứt khoát rời bỏ quá khứ Lam Sơn, gây ra phản ứng mà người cầm quyền đã tiên liệu nên mượn cả lời đe doạ của Lí Tư giúp Tần cải cách xưa kia: “Kẻ nào dám dẫn bừa quy chế cũ mà bàn càn một quan nào, thay đổi một chức nào, chính là kẻ bề tôi gian nghịch, làm loạn phép nước, phải xử tử vứt xác ra chợ không thương xót; còn gia thuộc của nó phải đày đi nơi xa…” Chứng thực được đưa ra là vụ giết Trần Phong (1485), người thường xuất hiện rất nhiều trong việc xây dựng quyền lực cho ông mà rốt cục nói ông “đặt quan hiệu của nhà Minh là làm trái thông chế của quốc triều…” Lí do cải cách đưọc nêu ra: “Đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông.” Tổ chức chung là gom lại một đầu mối những cải cách lẻ tẻ từ trước thành một thể thống nhất. Ở trung ương là hệ thống quân sự cấm quân, là hệ thống hành chính có 6 bộ với cơ quan tra xét, thi hành bên trong phần việc tuỳ thuộc. Ngự sử đài là cơ quan liên hệ vua, quan, dân theo tư thế canh chừng, kiểm soát; Thông chính sứ ti là mối liên hệ của trung ương và dân chúng theo đường hành chính mang tính tình cảm đạo lí. Bên ngoài địa phương là 13 đạo Thừa tuyên có chức trách hành chính, kiểm tra, an ninh (với Thừa chính, Hiến sát, Đô ti) mà nổi bật là chức Tổng binh mang tính quân sự bao trùm trên khu vực lớn.

Tổ chức chi li như thế khiến phát sinh nhiều chức quan – nói như ngày nay là “hệ thống thư lại cồng kềnh,” nhưng chính quyền cũng tính đến việc không phải tổn phí nhiều vì “trước kia quan ít, tước to” nay thì “quan nhiều mà lương ít, trật thấp.” Chi tiết thứ bậc cũng được xác định từ trong hoàng tộc, triều đình ra đến các địa phương từ lớn tới nhỏ với các danh xưng rành rẽ. Về mặt quyền lợi thực tế thì rõ ràng có sự cách biệt rất lớn giữa tầng lớp vương hầu và quan lại – tất nhiên chưa kể đến dân chúng bên dưới. Ấy thế mà triều đình cũng đã thoáng thấy tình trạng “quan viên quá nhiều, tiêu phí lộc kho” nên có lệnh chọn thải bớt người (1481) để đỡ gánh nặng cho nhà nước.

Lại cũng như các thời kì khác, sử quan ít nói đến tình hình ở các khu vực hành chính cấp thấp với nhiều tên gọi: hương, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường… gồm cả những vùng dân thiểu số, mà ở vùng đồng bằng trực tiếp thì đã có tên cụ thể cho phần lớn, là “xã”/làng. Lệnh tổ chức xã với xã quan khi vừa thắng Minh (1429) cho thấy đơn vị này bị cắt xén nhỏ là chừng nào: xã lớn có 100 người trở lên thì đặt 3 viên, xã 50 người trở lên thì đặt 2 viên, xã nhỏ 10 người chỉ một viên. Đó chỉ vì qua sự càn quét của biến loạn, tầng lớp hào trưởng ở địa phương đã tan biến, các lãnh chúa cũ mất đi không ai còn quyền trên các khu vực lớn nữa, phải nhường chỗ cho chính quyền trung ương đến sắp xếp, cai trị. Từ tháng 6âl. 1466 cấp Xã không còn có “quan” nữa, chỉ là xã trưởng thôi, thế mà triều đình còn ngăn chặn cấp xã không được có vây cánh bà con (lệnh 1483, 1486, 1496). Lê dùng họ để kiểm kê hộ tịch, chia cắt ruộng đất, phân định khu vực theo với các lệnh, lệ ngày sau được gồm trong bộ luật được gọi là Hồng Đức đã đi vào cuộc sống của từng người. Thật ra thì nhà nước vẫn không ngăn chận được nạn cường hào ở địa phương – cũng như không trừ khử được quan quyền nhũng nhiễu, có điều tổ chức sâu sát đến tận những đơn vị dân cư nhỏ như thế lần đầu tiên cũng cho thấy xuất hiện những biến động xã hội ngay từ cấp nhỏ bên dưới chứ không phải chỉ là những biến động khu vực lớn như trước nữa.

Nhà nước Lê nắm vững dân số tuy không chặt chẽ như thời bây giờ nhưng cũng đã có một chừng mực sít sao qua các cuộc duyệt tuyển lấy thuế, bắt xâu, bắt lính. Tuy nhiên vì khả năng quản lí có hạn, họ không đủ sức – và do đó phải bỏ lơ phần dân chúng nằm ngoài sổ bộ hoặc vì xiêu tán bởi thiên tai, chiến cuộc hoặc vì thuộc thành phần tộc đoàn còn nằm bên lề của tập thể lớn… Tình hình đó nảy sinh sự phân biệt hai tầng lớp người cao thấp khác nhau, trước nhất là dưới mắt nhà cầm quyền và sau cũng chính bởi các hộ dân vì nương theo đà tổ chức chung mà tự phân biệt, tự coi như là thuộc thành phần trên trước. Người thuộc chính hộ nằm ở bậc cao vì lẽ phần lớn họ có tài sản, có nơi cư trú ổn định, dễ dàng cho các cuộc duyệt tuyển lấy người theo quy định, ví dụ bắt lính phải nhắm vào người khá giả, không lấy hạng cố cùng. Người thuộc khách hộ vì nguồn gốc xuất thân như đã nói nên bị coi như thành phần thấp kém trong xã hội tuy vẫn có thể bao gồm những cá nhân khá giả. Sự phân biệt chính, phụ này có lẽ đã xuất hiện tự phát, không chính thức từ trước, và tất nhiên phải đi đến tình trạng được quản lí rành rẽ theo nhu cầu cai trị của Lê để níu giữ một chừng mực ổn cố xã hội. Chỉ đến khi với sự hỗn loạn của các thế kỉ về sau làm thay đổi nội dung chính/phụ, nhà cầm quyền mới phải lo bối rối điều chỉnh một khi chưa thể gạt bỏ cơ cấu, định kiến đã thành hình.

Điều có lẽ họ Lê không ngờ nhất là một quyết định của họ lại xây dựng cơ sở cho cả một sinh hoạt khá quy củ của làng xã ngày sau khiến nhiều người lại tưởng phải tìm nguyên cớ thật xa trong dòng lịch sử. Đó là việc thành lập cái đình làng. Nguyên là từ cơ chế hậu Phật (lãnh tiền, ruộng đưa vào chùa để cúng giỗ cho người vô tự) chủ nhân các đình tạ, đình trạm đem áp dụng vào nơi họ xây dựng để chiêu dụ lập hậu – gọi tên mới là hậu Thần, và từ đó gây ra tranh tụng lâu dài về việc thực hiện khoán ước. Các quan thấy (1474) sự lợi dụng gây bất an nên xin lệnh (1496) chuyển đình cho làng cai quản, và được chấp thuận. Làng từ đó có ruộng đất riêng, có nơi tụ tập việc công, có ông thần riêng cho mình, tuy không thể trở lại thời cát cứ như các thủ lãnh ngày xưa nhưng cũng là một cơ hội để có tiền của, giữ được chút riêng biệt với chính quyền trung ương trên đà lấn lướt. Làng lại còn thu nhận được bộ phận trí thức thời mới nhờ các ông hưu quan về làng, các nho sĩ lỡ thời vì đã thấy có dấu hiệu “lạm phát trí thức” qua các kì thi chỉ lấy đỗ rất ít người. Những người này trở thành một bộ phận trí thức ở làng xã, mang kiến thức mới ra lập luật lệ theo kiểu “nước” cho làng, với các hương ước – những định chế thành văn, để quản trị quê mình. Theo với họ, ông thần của đình làng sẽ mượn tên thành hoàng họ học được trong sử sách, đem ra thờ cúng, rồi với thời gian, sẽ thành nếp ép buộc các chính quyền trung ương yếu thế công nhận. Đó là lúc của những năm biến loạn bắt đầu ở thế kỉ XVI, tiếp theo với các ngôi đình xây dựng vững chãi hơn vì thoát khỏi sự dòm ngó của trung ương, để rồi càng vững chãi hơn với khả năng tiền bạc do tiếp xúc với bên ngoài trong thời đại Trọng thương của thế giới. Rốt lại đã thành hình một thể chế có lúc muốn thách thức với trung ương trong câu tục ngữ Phép vua thua Lệ làng, huênh hoang để bù đắp thực tế áp bức họ phải gánh chịu hàng ngày.

Như thế, làng xã là kết quả của một tiến trình lịch sử phân, hợp chứ không phải là khởi đầu của sự liên kết thành nước của dân tộc Việt. Cách hiểu như thế mang tính siêu hình, có nguồn gốc là từ sự biếng lười suy nghĩ đi theo sự hướng dẫn vô thức của tâm tình dân tộc tự tôn đang thịnh hành ngày nay.

Đình làng lại cũng nuôi sống một sản phẩm biến dạng của truyền thống shaman / thầy mo vốn theo năm tháng đã tách ra khỏi quyền bính thế tục nay phải thay đổi nữa dưới áp lực của tổ chức Nho mang tính lí trí được xây dựng từ trên triều đình xuống đến tận làng xã. Chuyển biến đó thấy rõ trong gia phả của một dòng họ danh tiếng: họ Phan Huy ở Hà Tĩnh. Những người vu đồng nhảy múa mà người Minh còn thấy thời họ cai trị, đến lúc này đã tập họp thành các Giáo phường đi ca hát, nhảy múa trước các đình làng trong những buổi hội lễ, vào những dịp Hát cửa đình. Tính chất vừa thế tục vừa thiêng liêng của bản thân ngôi đình làng thật hợp với sinh hoạt ca hát này: vừa như một hình thức hiện thân của thần thánh giữa thế gian, vừa như là một lối giải trí cho dân chúng trong dịp tương thông với thiêng liêng qua những ngày hội lễ. Tuy nhiên tất cả hình như chỉ mới là khởi đầu, sự phồn tạp và tính tổ chức chặt chẽ phải đợi đến các thế kỉ sau mới có chứng cớ rõ rệt.

Tạ Chí Đại Trường

Sách của Tạ Chí Đại Trường trên Hang Cáo:

1. Thần, người và đất Việt

2. Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802

3. Chuyện phiếm sử học

Share
Share: