Sáng tác

Long Điểu tranh hùng – Chương 10: Tiến đánh thành Vũ Cầm

art-rong-rong-rongrong-wang-4410

“Long Điểu tranh hùng” là bộ tiểu thuyết giả tưởng phong cách Á Đông của tác giả Hà Thủy Nguyên. Tiểu thuyết kể về thời cuối của cuộc giao tranh giữa ba mảnh đất Long tộc, Điểu tộc và Dã quốc vì những nguyên nhân không thể xác định. Không chỉ có tranh chấp quyền lực, không chỉ có những bi kịch ái tình vừa lãng mạn vừa đau đớn, bộ tiểu thuyết muốn khắc họa những hình mẫu anh hùng phi thường, dám có những suy nghĩ vượt qua tầm thời đại của họ. Chỉ những suy nghĩ vượt tầm và phẩm cách phi thường mới giúp họ giải quyết cuộc tranh chấp vô nghĩa suốt mấy trăm năm.

Các bạn có thể đọc chương trước tại đây: Tiểu thuyết Long Điểu tranh hùng

Thiên Phụng bước ra khỏi quán rượu, Vương Lâm theo sau. Một cơn gió ùa đến khiến nàng rùng mình, thở ra làn khói nhẹ bay lên trời. Nàng cố kìm cơn ho của mình nên bước đi hơi chao đảo. Vương Lâm vội cởi áo khoác, khoác lên cho nàng. Giây phút ấy như dừng lại, tuyết lất phất phủ lên tấm áo lông.

– Trời lạnh như thế này… Nàng phải biết giữ sức khỏe… Đừng vì quá lo nghĩ cho Chúc Thái Sơn mà để mắc bệnh, như thế sẽ không ai cứu được hắn đâu…

Thiên Phụng nhìn vào mắt Vương Lâm thoáng một chút bâng khuâng. Vương Lâm thắt nút sợi dây buộc chiếc áo khoác lông cho nàng. Thiên Phụng cất tiếng, vừa nghiêm nghị vừa dịu dàng:
– Tại sao người lại đối xử với ta tốt như vậy… ta…
Vương Lâm bật cười đáp:
– Ta không rõ… giống như nàng hết lòng vì Chúc Thái Sơn mà không hiểu tại sao vậy… Từ lúc gặp nàng ở thành Trấn Tây, ta đã nguyện nếu nàng không thuộc về ta thì ta sẽ thuộc về nàng…

Hai má Thiên Phụng chợt ửng đỏ. Nàng chỉ mong một lần được Thái Sơn đối xử dịu dàng như vậy, nhưng người ấy lại là Vương Lâm, có điều, nàng không thể đáp lại ân tình này của chàng. Nàng rụt lại, bước lùi mấy bước:
– Ta phải đi ngay kẻo trễ…

Đúng lúc ấy, tiếng vó ngựa rầm rập. Từ đằng xa tuyết bay lên mù trời. Giữa nền trời trắng xanh nổi bật lên những lá cờ màu đen, tua xám, bay phần phật trong gió lộng. Vương Lâm và Thiên Phụng nhìn về phía đoàn ngựa tung vó giữa tuyết mờ. Chẳng mấy chốc, đoàn người ngựa đã gần đến chỗ hai người đang đứng.

Dẫn đầu đoàn kỵ mã là tướng quân Điểu Âu, toàn thân mặc áo giáp đen, cưỡi trên con ngựa đen tuyền, nổi bật giữa tuyết trắng xóa. Toàn bộ quân đội dưới trướng chàng cũng mặc một màu đen. Nhìn thấy Thiên Phụng, Điểu Âu phi ngựa đến, nhưng cũng không xuống ngựa. Thiên Phụng mỉm cười:
– Cuối cùng tướng quân cũng được thỏa lòng xuất chinh rồi…
Điểu Âu chắp tay chào:
– Quận chúa, lâu ngày không gặp… quận chúa đã kịp kết giao với bậc tài danh nào mới rồi sao…
Vương Lâm thấy thái độ ngỗ ngược của Điểu Âu, không thèm chào hỏi, chỉ cúi người chào Thiên Phụng:
– Ta xin phép được cáo từ… Quận chúa hồi cung cẩn thận!
Nói đoạn, trong nháy mắt, Vương Lâm biến mất. Điểu Âu cũng chắm tay chào:
– Ta đi đánh thành Vũ Cầm! Quận chúa có gì gửi gắm không?
Khi nhắc đến ba chữ “thành Vũ Cầm”, nàng chợt xao lòng, dội lên cảm giác bi thương, nhưng nàng vẫn mỉm cười:
– Tướng quân đánh nhanh thắng nhanh là tốt lắm rồi…

Thiên Phụng nhìn theo đoàn kỵ mã của Điểu Âu chạy về phía nam. Lớp bụi tuyết rơi lả tả xuống vết chân ngựa chạy mãi về phía xa dần. Thiên Phụng thở dài rồi nhanh chân đi về phía hoàng cung. Tình hình gấp rút, nàng không thể chậm trễ thêm chút nào nữa, cũng không thể sai lầm… Chỉ cần Điểu vương có một chút nghi hoặc theo bản tính đa nghi của người thì đại sự sẽ hỏng.

Thiên Phụng núp người trong một ngõ nhỏ gần hoàng cung. Chỗ này nhiều mái che thấp và khá tối, hệ thống theo dõi của Điểu vương không thể tiếp cận được. Trời đã về chiều, trời sẫm một màu trắng nhợt nặng nề. Nàng thầm nghĩ: “Vương huynh, vương huynh không cho ta được qua lại hoàng cung tự do nữa, thì ta sẽ bắt vương huynh phải rước ta vào hoàng cung.” Nghĩ đoạn, nàng rút ở dưới chân một cây dao găm được giấu kỹ dưới lớp váy, xiên thẳng vào bụng mình. Cái đau của kẻ địch tấn công không đau bằng cái đau tự đâm mình. Trong cái đau ấy có cả cảm giác sợ hãi và cảm giác ghê tởm sự hèn nhát không dám chịu đựng của nàng. Thiên Phụng rút kiếm ra, máu tứa tung tóe bắn xuống tuyết, ướt đầm cả vạt áo của nàng. Nàng dùng tay bới tuyết, tay cóng lại, đỏ ửng vì lạnh, rồi vùi con dao xuống sâu trong tuyết.

Nàng lảo đảo men theo bờ tường tới cổng hoàng cung. Mỗi bước đi đều nhỏ máu và đau điếng. Cái lạnh buốt cắt da cắt thịt khiến vết đau của nàng như bị cứa từng sợi cước. Nàng ngửi thấy rõ rệt mùi tanh nồng nên thấy choáng váng, nôn nao. Cuộc chiến đẫm máu vừa qua không khiến nàng thấy kinh hãi bằng bây giờ. Nên mới nói, nhát đâm của kẻ địch không đáng sợ bằng nhát đâm của chính mình.

Mắt nàng mờ mờ đi, phần vì sương, phần vì quá đau, nhưng nàng đã nhìn thấy bóng người lính ngự lâm canh gác cổng thành và cái mái cong cong dát bạc sừng sững giữa trời tuyết rơi. Nàng bước nhanh hơn và khe khẽ rên lên:
– Cứu ta… mau gọi Điểu vương… cứu ta…

Người lính canh thành nhận ra quận chúa Thiên Phụng, vội hốt hoảng chạy vào cấp báo. Thiên Phụng ngồi bệt xuống tuyết, nàng chỉ nhìn thấy những vệt máu của nàng nhỏ từng giọt trên tuyết.

Đúng lúc ấy, Lưu Hạo chuẩn bị nhập cung. Chàng thấy Thiên Phụng đang gục trước cổng thành, liền hốt hoảng đỡ nàng dậy:
– Quận chúa… sao người ra nông nỗi này…
Thiên Phụng thều thào:
– Mau đưa ta vào gặp Điểu vương…
Lưu Hạo toan đỡ nàng vào, nhưng lính canh chặn lại:
– Không có lệnh của Điểu vương, quận chúa không thể vào cung!

Lưu Hạo không nghĩ được nhiều như vậy, chàng thật lòng quan tâm đến quận chúa, không thể để quận chúa gặp nguy hiểm đến tính mạng được. Chàng sốt ruột và bực bội, gạt phắt giáo gươm của lính canh, dìu Thiên Phụng bước vào cung. Thiên Phụng dù thầm cảm tạ chàng, nhưng không khỏi nhìn chàng bằng ánh mắt nghi ngờ. Nàng nghĩ: “Lưu Hạo vốn không có võ công, lính ngự lâm của Điểu vương đều là những người được huấn luyện kỹ lưỡng nhất, làm sao có thể bằng một cái gạt tay mà có thể khiến đám lính chao đảo được như vậy… không lẽ…” Nàng ngước mắt nhìn Lưu Hạo rồi bất giác thở dài.

Lưu Hạo nhanh chóng đưa nàng đến trước Điểu vương, cùng lúc với người lính chạy vào cấp báo về tình hình của quận chúa. Lưu Hạo quỳ xuống tâu với giọng khẩn thiết:
– Muôn tâu Điểu vương, quận chúa không hiểu vì lẽ gì, bị thương nặng… thần đành bất chấp lệnh của Điểu vương, chỉ cần cứu được quận chúa… thần xin được chịu tội ạ…
Điểu vương lạnh lùng nói:
– Lưu Hạo, ngươi lui ra ngoài chờ lệnh… ta tự khắc có cách giải quyết…
Lưu Hạo lo lắng nhưng cũng đành phải rút lui. Lệnh của Điểu vương vừa lạnh lùng, vừa cương quyết, chàng không dám cãi. Điểu vương bước xuống khỏi ngai, đến gần Thiên Phụng đưa một tay cho nàng:
– Mau đứng dậy, ta sẽ chữa cho muội…

Thiên Phụng ngỡ ngàng đặt tay lên tay Điểu vương, ráng sức đứng dậy. Điểu vương đỡ nàng vào ngự thư phòng. Bao quanh cơ thể của ngài là quầng hào quang ánh bạc lấp lánh tựa băng giá dưới ánh dương quang. Bàn tay của ngài như cánh của loài phượng hoàng lướt đi trên vết thương của Thiên Phụng. Chẳng mấy chốc, vết thương liền lại. Thiên Phụng kinh ngạc:
– Vương huynh… tại sao người lại hao phí công lực vì muội…
Điểu vương đắp tấm chăn lông thú lên cho nàng, rồi ngồi xuống cạnh nàng:
– Muội dám tự đâm mình bị thương để đến gặp ta, đương nhiên ta cũng chẳng tiếc chỗ công lực chẳng mấy khi dùng đến ấy cho muội…
Thiên Phụng bẽn lẽn rụt người vào trong chăn như đứa trẻ con:
– Thì ra vương huynh đã biết…
Điểu vương bật cười:
– Ta lớn lên cùng muội, ta biết công lực của muội đến đâu… Muội ấy, một khi đánh thắng được người ta là thắng tới luôn, một khi đã bị thương thì không thể phản đòn, làm gì có chuyện chạy trốn được về tới hoàng cung để cầu cứu ta… Hơn nữa, muội ra khỏi Hoàng hoa cung, đến hồ Vọng Tiên, rồi vội vã chạy đến đây… ta biết hết…

Thiên Phụng ôm chầm lấy Điểu vương, nũng nịu:
– Thì ra vương huynh vẫn quan tâm tới Thiên Phụng như vậy… Vậy mà Thiên Phụng vẫn nghĩ rằng vương huynh có ý ngờ vực muội, ghét bỏ muội, không muốn trọng dụng muội nữa!

Điểu vương thở dài:
– Việc trị vì không phải lúc nào cũng như ý ta được! Có những việc đôi khi phải khiến muội bị tổn thương, không thể tránh… Nhưng ta biết từ lâu vốn dĩ muội không có ý muốn tranh ngôi báu với ta. Cái bản tính của muội đó, vừa lười biếng, vừa chẳng có phép tắc gì, rõ là kẻ chẳng hợp với quyền lực… Bình thường ta nghiêm khắc với muội, không phải bởi vì ta nghi ngờ gì muội, mà chỉ là ta lo có một ngày ta bị lật đổ, không giữ nổi cơ nghiệp của Điểu tộc, muội phải gánh vác trách nhiệm này, muội sẽ phải làm sao… Nhưng thôi, chuyện đó để sau hẵng nói… Muội không ngại mà tự làm mình tổn thương, để khiến ta phải cho muội nhập cung, hẳn là có gì quan trọng, cứ nói đi, đừng e dè!

Thiên Phụng không còn gì giấu diếm Điểu vương được nữa. Nàng bèn kể lại cuộc gặp của nàng và Vương Lâm cũng như tình trạng của người lính của thành Trấn Tây. Nghe đến đó, Điểu vương trầm ngâm:
– Người biết sự việc này ngoài Điểu Tùng, Chúc Thái Sơn và Lưu Hạo ra, không có thêm ai nữa. Chuyện này rất nghiêm trọng, liên quan đến sự tồn vong của Điểu tộc, không thể làm bừa. Cho nên kẻ làm lộ thông tin này ắt muốn tận diệt Điểu tộc, tức là trong số ấy có nội gián của Dã quốc…
Thiên Phụng không muốn nghĩ rằng có nội gián trong ba người ấy liền hỏi:
– Liệu có khi nào nội gián đến từ quân lính của Điểu tộc không?
Điểu vương cương quyết lắc đầu:
– Quân được cử sang Dã quốc là quân của phủ Trấn Tây, đều là những tinh binh thuần huyết Điểu tộc chúng ta, một lòng trung thành, không thể có chuyện tạo phản. Hơn nữa, nếu Dã quốc tấn công Điểu tộc, mọi người mang dòng máu họ Điểu sẽ đều bị giết, đương nhiên là không ai dại dột mà làm phản. Nên người làm phản chắc chắn phải là người ngoại tộc. Nhưng Chúc Thái Sơn căm thù Dã quốc đến tận xương tủy, không có lý nào lại về phe Dã quốc…

Thiên Phụng không dám nói đỡ thêm cho Thái Sơn, chỉ im lặng tính toán. Điểu vương gặng hỏi nàng:
– Muội đang có tính toán gì thế?
– Nếu thông tin đã đến tai Dã vương thì chắc chắn Dã quốc đang chuẩn bị tấn công vào thành Trấn Tây, cần sai người tin cẩn đến cảnh báo tướng quân Điểu Tùng và Chúc Thái Sơn… Mà người đáng tin cẩn hơn hết chính là Chúc Thần Cơ! Lát nữa, vương huynh triệu Thần Cơ vào với danh nghĩa là trị bệnh cho muội, sẽ tránh được dị nghị. Sau đó, muội sẽ dẫn theo Lưu Hạo tiến quân tiếp ứng cho Điểu Âu, bên ngoài là tiếp ứng, nhưng sẽ nghị hòa cùng Long Quốc Ân. Như thế sẽ cách ly được Lưu Hạo với thông tin liên quan đến phủ Trấn Tây. Sau khi muội và Lưu Hạo rời Điểu kinh, vương huynh lập tức cử Thần Cơ dẫn quân đến bảo vệ thành Trấn Tây. Lo toan tình hình trong kinh thành có thể giao cho Điểu Thần Ưng và Hoàng Bắc Minh.
Điểu vương ngửa cổ cười ha hả:
– Với đầu óc tính toán của muội, có khi ta phải dè chừng có ngày muội cướp ngôi của ta cũng nên…
Thiên Phụng cũng cười ha hả theo:
– Muội mà cướp ngôi của huynh, việc đầu tiên muội làm sẽ là bãi bỏ hết nghi lễ của Điểu tộc… xong giải tán luôn Điểu tộc… căng buồm giữa biển khơi, đi tìm vùng đất mới, chẳng tội gì phải tranh chấp mảnh đất nhỏ hẹp này!

Thiên Phụng giật mình nhận ra rằng mình đang nói giống hệt Vương Lâm, hóa ra trong sâu thẳm lòng nàng cũng có giấc mơ ấy, hoặc Vương Lâm vừa cài giấc mơ ấy vào tiềm thức của nàng.

Lại nói đến chuyện Điểu Âu dẫn quân về phía Nam tấn công Long tộc. Điểu Âu bản tính hiếu chiến, nên được lệnh của Điểu vương, cơn hứng khởi dâng lên cuồn cuộn, liên tục đốc thúc quân lính tốc hành đến chiến trận. Tốc độ tiến quân của Điểu Âu nhanh không kém quân Long tộc khi tiến đánh Điểu kinh. Quan điểm của chàng là: “Càng thiếu thốn lương thảo thì càng phải tốc chiến, tốc thắng!”. Trong 2 ngày 2 đêm liên tục hành quân, chàng đã áp sát thành Vũ Cầm.

Thành Vũ Cầm trên bề mặt là núi cao vực sâu với khu rừng già cây cối sum suê, hoa dại mọc đầy, nhưng dưới lòng đất là khu thành đã được Chinh Nam tướng quân Điểu Thiên Hoàng xây dựng. Khu thành có chứa một động cơ máy móc, tạo nên một trường lực ngăn cách Long tộc và Điểu tộc. Khi Điểu Thiên Hoàng tử trận, Điểu tộc buộc phải tạo một cỗ máy yếu hơn ở khu thành khác. Thành Vũ Cầm thuộc quyền quản lý của Long Quốc Ân, đáng lý Long tộc phải sớm tấn công Điểu tộc, nhưng vì Long tộc nội loạn liên miên, lại phải đương đầu với quân của Dã quốc ở phía Tây nên chưa thể tiến quân. Đợt rồi tiến quân, không ngờ lại đại bại, Long Quốc Ân lui quân, giao cho công chúa Long Từ Quyên cố thủ ở thành Vũ Cầm, còn mình về giải quyết triều chính ở Long thành. Lần này, muốn nhanh chóng đánh cướp Long tộc, Điểu Âu phải tấn công khu thành ở dưới lòng đất.

Điểu Âu rất giỏi chế tạo các loại động cơ và vũ khí. Trước khi dẫn quân đi, chàng đã cùng với Thần Ưng chế tạo rất nhiều loại đạn có thể xuyên thủng lớp kết giới của thành Vũ Cầm. Qua các ghi chép trong Hoàng Hoa cung mà Thiên Phụng giao cho chàng, chàng biết rằng kết giới lớp ngoài của thành Vũ Cầm được tạo bởi một loại nam châm với trường lực lớn, nên mọi vũ khí bằng sắt đều không thể xâm nhập. Thần Ưng đã chế những khẩu đại bác lớn và đầu đạn bằng đồng. Vũ khí thông dụng xưa nay đều bằng sắt và thép, nên rất khó vượt qua trường lực này. Nếu bí mật này sớm được biết thì thành Vũ Cầm hẳn đã sớm thuộc về Điểu tộc, nhưng ngặt một nỗi Thiên Phụng vốn chẳng quan tâm đến mấy thứ tư liệu về kỹ thuật, có đọc nàng cũng chẳng hiểu, nên giữ trong Hoàng Hoa cung đã lâu mà chẳng ngó ngàng đến. Nay cuốn sách này được giao cho Điểu Âu mới đúng thực là bảo kiếm về tay anh hùng.

Những khẩu đại bác bằng đồng, chứa đầu đạn đồng nhằm thẳng thành Vũ Cầm mà bắn. Long Từ Quyên đứng ở trong thành nhìn ra, cao cao tự đắc, cứ nghĩ rằng như mọi lần, đạn sẽ bị đẩy ra. Ai ngờ, đạn bay vèo vèo dội tan tành lớp kết giới bên ngoài thành Vũ Cầm. Từ Quyên không khỏi lo lắng, hóa thành hình rồng lao thẳng về phía quân Điểu tộc, để mặc quân đội Long tộc lúng túng chạy loạn lên lo bảo vệ thành.

Từ Quyên giương cao cánh rồng, khè lửa vào quân Điểu tộc. Nhưng quân Điểu tộc đã có chuẩn bị từ trước. Một cỗ máy phun tuyết và thổi khí lạnh được đưa ra. Khí lạnh bốc hơi tê cóng khiến lửa của Từ Quyên không có tác dụng gì.
Điểu Âu giương cao thanh kiếm hình tia sét của mình, dồn năng lượng từ bên trong. Thanh kiếm phóng ra những tia điện sáng lóa, phóng về phía con rồng lửa. Con rồng lửa gầm lên một tiếng dài vì đau đớn, phải quay đầu bay về phía thành Vũ Cầm, biến lại thành Long Từ Quyên.

Lúc này quân Long tộc đã thiệt hại phân nửa. Long Từ Quyên nhìn xác quân lính chết cháy đen thui như ngả rạ mà lòng ngùn ngụt căm hận. Những tia điện từ kiếm tầm sét của Điểu Âu đã được khuếch đại và tiếp tục phóng thẳng vào bên trong thành. Nhiều lính của Long tộc bị lửa bén vào, hốt hoảng chạy như những đuốc lửa di chuyển tán loạn. Long Từ Quyên nhanh chóng ra lệnh cho đám tàn quân rút lui sâu vào bên trong thành.

Từ Quyên bị cú sét giáng của Điểu Âu, thương tích nặng nề. Quân lính xơ xác, chẳng còn hàng ngũ chỉnh đốn. Đứng sâu trong thành, Từ Quyên nhìn ra bên ngoài thấy quân Long tộc bị bỏ lại đang quằn quại tựa hàng ngàn bó đuốc sống đang đợi lụi tàn thành tro bụi. Lớp thành trong được bảo vệ bởi những bộ rễ cây cổ thụ. Bám dưới rễ cây là những tổ ong đất bám thành lớp bảo vệ. Chỉ cần có tấn công, hàng tỉ con ong đất này sẽ lập tức tấn công. Vượt qua lớp bảo vệ này không phải đơn giản. Nhưng Long Từ Quyên cũng không khỏi lo lắng, bởi Điểu Âu dường như đã có chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, nếu đã phá được lớp thành ngoài thì cũng chẳng khó khăn gì để phá được lớp thành trong.

Từ Quyên lập tức triệu tập các phó tướng dưới trướng mình tìm kế sách chống chọi lại quân Điểu tộc. Nhưng ba quân tướng sĩ đều bạt vía, chẳng nghĩ ra kế sách gì. Đang lúc lo lắng thì văng vẳng đâu đó vang lên tiếng tiêu thư thả, thanh nhàn…

Từ Quyên nhìn về phía dòng sông ngầm chảy bên cạnh phủ. Giữa dòng sông nước xiết, một con thuyền nan đang buông xuôi dòng về phía Nam. Tiếng tiêu vọng lúc gần, lúc xa, lúc đứt, lúc nối. Từ Quyên ra lệnh:
– Mau bắt người thổi tiêu đến đây! Đề phòng gian tế!
Hai vị phó tướng của Long tộc nhanh chóng nhảy xuống nước, biến thành con rồng, áp sát con thuyền. Hai con rồng đội thuyền đưa về phía bờ. Từ trong thuyền bước ra một chàng thư sinh mặc áo đỏ sẫm, tóc buông xõa. Chàng đã ngừng tiêu, cất tiếng miệt thị:
– Ta tưởng Long tộc vốn thuộc giống loài vương giả, vốn phải biết thưởng thức điệu khúc tuyệt hảo này chứ! Vậy mà lại đối xử thô bạo với cao nhân như ta, e rằng vận mệnh của Long tộc chẳng được là bao!

Một vị phó tướng dằn mặt:
– Đừng nhiều lời! Mau tới gặp công chúa!
Nói đoạn, hai người áp giải chàng trai đến dưới trướng Long Từ Quyên. Nhìn thấy Long Từ Quyên, chàng trai cũng không quỳ. Long Từ Quyên bèn dùng ánh mắt, xoáy thẳng vào chàng, ra lệnh:
– Qùy xuống!
Từ Quyên có khả năng điều khiển được ý chí của người khác, chỉ cần nàng xoáy ánh mắt của nàng vào ai, đặc biệt là đàn ông, người đó buộc phải nghe lời. Chàng trai dù cố cưỡng lại, nhưng hai đầu gối của chàng vẫn quỳ sụp xuống. Chàng trai lại lớn tiếng mỉa mai:
– Dùng dị thuật để cưỡng ép sự tuân phục của người khác là hạ sách trong thuật cầm quân. Long tộc có tướng giữ thành như công chúa thì chẳng mấy chốc mà đại bại!

Lời chàng trai nói chạm vào đúng nỗi đau của Từ Quyên. Sau cuộc tấn công vào Điểu kinh thất bại, nàng cũng đã hiểu ra rằng dị thuật điều khiển tâm trí và tạo ảo giác của nàng không phải điểm cốt lõi để thống lĩnh ba quân. Nhưng câu nói của chàng lại xúc phạm đến tôn nghiêm của công chúa cao quý như nàng, nàng không thể chấp nhận được. Mặt nàng đỏ bừng, mắt trừng lên quát mắng:
– Kẻ bần hàn như ngươi, tư cách gì để trách mắng bổn cung!
Chàng trai vẫn ung dung, cười khẩy:
– Công chúa cao quý rồi cũng thành tro bụi, kẻ bần hàn rồi cũng thành tro bụi. Khi Điểu Âu dẫn quân đến đây, công chúa cũng thành tro bụi như kẻ bần hàn này mà thôi…
Long Từ Quyên lừ mắt nhìn chàng trai, gằn giọng hỏi:
– Ngươi tên tuổi là gì? Đến đây có mục đích gì?
Chàng trai không thèm khai tên tuổi, chỉ nói điều cần nói:
– Công chúa đương đầu với kẻ địch, công chúa đã biết được mấy phần về kẻ địch. Ta chỉ là kẻ hát rong đi khắp tửu quán, thanh lâu ở khắp các vùng có khi còn hiểu biết hơn công chúa. Điểu Âu không giống như tướng lĩnh thông thường của Điểu tộc. Hắn là con trai duy nhất của Trấn Tây tướng quân Điểu Tùng, rất giỏi chế tạo các loại máy móc, thông hiểu mọi thứ cơ quan ngầm. Khu thành Vũ Cầm này do Điểu Thiên Hoàng chế tạo, dù sau đó Long tộc các vị đã thiết lập lại máy móc trong thành để bảo vệ Long tộc, nhưng hiểu thực sự về nó, e rằng Điểu tộc vẫn hơn. Điểu Âu đã dám tự tin dẫn một toán quân không quá đông tấn công vào thành Vũ Cầm, chắc chắn hắn đã nắm được bí mật trong thành. Công chúa liệu có thể làm được ư?

Từ Quyên im lặng, mồ hôi hột vã ra trên trán nàng. Những vị tướng dưới trướng nàng đứng hai bên, nghe mà rụng rời. Chàng trai khoát tay tiếp lời:
– Bất kể các người nghi ngờ ta, ta cũng mặc. Ta chỉ khuyên công chúa nên nhanh chóng rút quân khỏi thành Vũ Cầm, lui về thành Long Kim cố thủ rồi cấp báo cho Thế tử và nhị vương tử ứng cứu. Quan trọng là bảo tồn được cho binh lính. Hiện nay Điểu tộc đang mùa đông, không có nhiều lương thực, nên không thể đóng quân ở thành Vũ Cầm được lâu đâu. Khi Điểu Âu không đề phòng, quân tướng mệt mỏi, ta sẽ có kế giúp nàng chiếm lại thành Vũ Cầm.
Từ Quyên nửa tin nửa ngờ:
– Làm sao ta biết ngươi không phải gián điệp của Điểu tộc, tung tin phản gián để dụ ta lui quân?
Chàng trai ngửa cổ cười chế nhạo:
– Gián điệp thì sao? Phản gián thì sao? Đường đường là tướng giữ thành, công chúa không bảo vệ được quân của mình, không hiểu địch thủ nên khinh địch mà đại bại, đã không biết địch lại còn không biết chính mình, làm sao có thể thống lĩnh quân đội. Thật là đáng xấu hổ! Nàng liệu sức cả về mưu kế hay sức mạnh, nàng có thắng được Điểu Âu không?

Những điều chàng trai nói không sai một chút nào. Nàng tự biết nàng khó lòng mà thắng được Điểu Âu, nhưng vì sĩ diện, nàng không thể rút lui. Quốc Ân sẽ cười nhạo nàng, cả Long tộc sẽ cười nhạo nàng, đời đời sau này sẽ ghi danh nàng như kẻ đại bại. Nàng không chịu được điều ấy. Cơn bấn loạn khiến nàng không còn có thể giữ chàng thư sinh quỳ dưới đất được nữa. Chàng trai vội đứng dậy, giũ sạch bụi khỏi tà áo của mình, rồi cúi mình:
– Cảm tạ công chúa đã cho ta được bình thân! Cảm ơn này, ta sẽ cho nàng biết một điều. Nàng bảo toàn mạng sống được cho những quân sĩ còn lại này, ba quân sẽ biết ơn nàng. Tấm lòng thương quân sĩ như anh em của nàng sẽ truyền tai nhau đến những đạo quân khác. Quân sĩ sẽ nhớ ơn nàng, bởi nàng không lạnh lùng sắt đá như thế tử hay nhị vương tử.
Từ Quyên nghe chàng trai nói chợt tỉnh ngộ. Nàng bước khỏi chỗ ngự của mình, đến gần chàng trai, cúi đầu cảm tạ:
– Chẳng hay quý tính đại danh của tiên sinh là gì?
Đáp lễ, chàng trai cũng hạ giọng:
– Ta họ Phi, tên Côn. “Côn” là một giống cá ngoài biển khơi. Ta phiêu bạt chân trời góc bể, những mong tìm được minh chủ để tôn phò. Ta thấy Long tộc đang gặp nguy, bèn thử tới dâng kế sách, biết đâu lại có duyên.
Nghe lời Phi Côn, Từ Quyên ra lệnh rút quân cấp tốc về thành Long Kim. Long Kim là khu thành kiên cố bậc nhất của Long tộc. Toàn bộ tường thành được xây bằng vàng ròng, vũ khí không dễ bắn thủng. Sau đó, Từ Quyên cho người cấp báo cầu cứu Thế tử Long Quốc Ân.

Điểu Âu dùng lửa thiêu rụi toàn bộ đàn ong và rễ cây bao phủ thành Vũ Cầm chỉ trong một đêm. Sau đó, chàng dẫn quân chiếm lại thành Vũ Cầm. Thành Vũ Cầm từ sau khi Điểu Thiên Hoàng qua đời không thay đổi nhiều lắm. Chỉ có điều từ khi thành rơi vào tay Long tộc thì không có người dân sinh sống trên mặt đất, mà hoàn toàn là quân lính, vừa đóng quân, vừa canh tác ruộng vườn để phát triển quân lương, ở ngay giữa rừng già. Nhìn ruộng vườn của Long tộc để lại trên mặt đất của thành Vũ Cầm, Điểu Âu gật gù khen ngợi:

– Long tộc thật biết tính toán lâu dài, bảo sao bấy lâu nay quân Điểu tộc ta cứ thua dài dài. Để quân lính tự canh tác, tự duy trì được lương thực, lại tránh được gián điệp trà trộn vào dân chúng! Ta phải học cái kế này!

Điểu Âu cùng quân lính đi khắp các vùng để tìm lương thực, thực phẩm của Long tộc. Quân Long tộc rút vội vã, vẫn còn nhiều lương thực chưa thu hoạch. Chàng sai quân thu hoạch rồi gom lại, đóng thành bao, nhanh chóng chuyển về tiếp tế cho người dân của Điểu tộc đang trong mùa đông băng giá.

Thành Vũ Cầm nằm giáp ranh giữa đất của Điểu tộc và Long tộc nên khí hậu rất ôn hòa, không bị tuyết phủ vào mùa đông, thời tiết lúc nào cũng như độ vào thu. Điểu Âu sau mấy ngày chiến trận căng thẳng, chàng cũng muốn thong dong hưởng thụ nắng ấm. Chàng xuống ngựa tản bộ cạnh bờ sông. Con ngựa chiến nhởn nhơ hít mùi thơm của thứ con non tươi mùi sữa. Điểu Âu phóng tầm mắt về phía con sông. Nước sông trong veo, xanh mát, in hình hai bên bờ được đan kết bởi những dải hoa màu xanh tím. Những dải hoa ấy chính là hoa Tử Lan. Tương truyền rằng hoa Tử Lan là kết tinh linh hồn của một nàng công chúa Điểu tộc, đã trót yêu người của Long tộc không thành, nên nhảy xuống sông tự vẫn. Thật là một câu chuyện thương tâm. Nhìn những đóa hoa xanh tím phủ kín hai bờ sông, chàng không khỏi tự nghi hoặc về cuộc chiến không rõ nguyên nhân giữa hai nhà Long – Điểu.

Share
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *