Người đọc sáchQuan điểm

Luật bản quyền và sở hữu trí tuệ giúp tăng cường hay giảm tính sáng tạo?

5079690118_3e75901174_o

1. Định nghĩa về “bản quyền”

Bản quyền (copyright) nghĩa gốc bao gồm 2 từ : “copy” và “right”. Trong đó nếu từ “quyền” không có gì đặc biệt thì từ “copy” lại ngược lại. Trong văn bản luật được coi luật bản quyền đầu tiên có tên là Quy chế Anne (The Statute of Anne) ra đời năm 1710, câu mở đầu có ghi “Một đạo luật thúc đẩy việc học tập bằng cách đảm bảo quyền của tác giả và người mua những ấn bản sách in trong thời hạn nhất định”. Ở đây “copy” là danh từ, với nghĩa là bản sao hay bản in; và do đó bản quyền có nghĩa là “quyền được tạo ra và bán các bản in“.

Tuy vậy, ở thời điểm hiện tại, từ “copy” đang được sử dụng ở cả dạng danh từ và động từ, với nghĩa là sao chép. Ví dụ như ở điều 17 của Luật bản quyền Mỹ có đoạn “tái bản các công trình dưới dạng bản in”, là đang sử dụng từ “copy” ở cả 2 dạng này. Chính quan điểm coi “copy” là sao chép khiến phạm vi bao phủ của Luật bản quyền của Mỹ đến cả 1 số kỹ thuật cần thiết trong truyền tải thông tin như caching hay buffering trên Internet. Khi xem video trên Internet, các trình duyệt sẽ tải và lưu trước các đoạn video được cắt nhỏ để người xem có thể xem video được liên tục; trình duyệt cũng sẽ lưu 1 bản sao của trang web hiện đang được xem để khi người dùng nhấn nút Back thì sẽ không mất công để tải lại trang đó nữa. Việc này đang cho thấy một thực tế là mọi người đang hiểu và sử dụng sai một thuật ngữ ra đời từ thế kỷ 18 để áp vào tình hình xã hội và công nghệ thế kỷ 21.

Vì sao có sự chuyển đổi như vậy? Chẳng ai biết thực sự lý do của sự thay đổi khái niệm đó cả. Nhưng có một điều rất rõ ràng là “copy” ở nghĩa sao chép là một thành tố quan trọng trọng quá trình học tập, tiếp thu kiến thức của con người. Quá trình học của con người luôn gắn liền với sự bắt chước : hồi bé bắt chước bố mẹ cách ăn uống, đi lại, nói năng; bắt chước xã hội ở cách ứng xử, bắt chước bạn bè ở cách làm việc… Việc bắt chước và làm theo những tác phẩm/tác giả nổi tiếng một nhân tố không thể thiếu trong những hoạt động sáng tạo, cả trong khoa học cũng như nghệ thuật.

John Lennon từng nhớ lại thuở đầu của Beatles chuyên đi biểu diễn lại các tác phẩm nổi tiếng như sau “Thời đó, chúng tôi không hát những bài tự mình sáng tác, chúng chưa đủ hay. Đây là cách mọi nhạc sĩ đều làm, bạn hấp thu âm nhạc từ những nhạc sĩ bạn yêu thích cho đến khi đủ khả năng để tự tìm thấy tiếng nói riêng của mình”. Hay nói theo cách đơn giản hơn của Pablo Picasso “Nghệ sĩ tốt sao chép, nghệ sĩ vĩ đại ăn cắp”.

Good Artists Copy

Vậy thực sự bản quyền là gì? William Patry, một luật sư chuyên về bản quyền, trong tác phẩm “How to fix Copyright”, đã tóm tắt ngắn gọn trong 1 câu như sau “Hệ quả nghiêm trọng nhất của xu hướng biến các công trình văn hóa trở thành tài sản cá nhân thông qua luật bản quyền là khiến cho mọi người thay đổi thái độ và quan niệm của mình về sự sáng tạo và bắt chước. Mọi người giờ đây đều cho rằng, những người sáng tạo không thể là người đi sao chép hay bắt chước người khác được”.

 

2. Lịch sử ra đời và phát triển của Luật bản quyền.

Câu chuyện về lịch sử ra đời của Luật bản quyền bắt đầu từ những năm giữa thế kỷ 16 tại Anh. Thời đó, công nghệ in sắp chữ của Gutenberg đã tương đối phổ biến tại Anh, và là một nguy cơ thực sự với sự kiểm soát thông tin và tư tưởng của nhà thờ Công giáo. Đến năm 1662, dưới sự bảo trợ của 1 văn bản Luật từ Nghị viện Anh, toàn bộ việc in ấn và phân phối sách in tại Anh đã thuộc về London Company of Stationers, một công ty tư nhân tại Anh. Đổi lại lợi ích độc quyền toàn diện đó, mọi ấn bản sách được xuất bản thông qua London Stationers đều được kiểm duyệt chặt chẽ bởi nhà thờ. Sách được xuất bản dưới tên của nhà xuất bản chứ không phải tên của tác giả. Thời đó công ty này còn có quyền bắt bớ và thậm chí xét xử những cá nhân hay công ty in ấn sách lậu khác. Cái giá cho việc in sách không thông qua nhà thờ thời đó là rất thảm khốc, nhẹ thì tù đày, nặng thì bị thiêu sống. Việc này gây ra rất nhiều sự chống đối của người dân Anh.

Do đó đến 1694, dưới áp lực quá lớn của người dân, Nghị viện Anh đã quyết định chấm dứt sự độc quyền xuất bản của London Stationers, giao lại việc quản lý xuất bản cho chính quyền và tòa án. Tuy vậy London Stationers không bỏ cuộc, sau rất nhiều vụ lobby để lấy lại vị thế độc quyền của mình nhưng không được chấp thuận, họ đã đổi chiến lược. Lần này họ đề xuất một chính sách tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của tác giả thay vì lợi ích của nhà xuất bản : các công trình sáng tác của tác giả được nhìn nhận như một loại tài sản, và tác giả được toàn quyền quyết định cách sử dụng công trình của mình : quyết định ai được in, ai được sử dụng vào việc gì, ai hưởng lợi từ lợi nhuận bán sách và quan trọng nhất là có thể thông qua hợp đồng tùy ý bán hay nhượng quyền sở hữu cho bất kỳ ai… Mỗi tác phẩm sẽ được bảo hộ trong thời gian 14 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, và có thể tái đăng ký bảo hộ khi thời hạn bảo hộ đã hết. Đề xuất này của London Stationers được thông qua, và trở thành văn bản Luật có tên Quy Chế Anne, được coi là văn bản luật bản quyền đầu tiên trong lịch sử. Logic của London Stationers để thuyết phục Nghị viện Anh sau này trở thành 2 quan điểm phổ biến để bảo vệ cho sự cần thiết của luật bản quyền “Luật bản quyền bảo đảm quyền lợi của tác giả, mang lại cho họ động lực để sáng tác, mà nếu không có luật bảo vệ họ sẽ không làm” và “Luật bản quyền là để cân bằng giữa lợi ích cá nhân của tác giả và quyền tự do sử dụng và thể hiện tư tưởng của công chúng hưởng thụ tác phẩm”.

Incentive to Create

Copyright balance public and private interest

Quy chế Anne mới nghe dường như là một văn bản luật tiến bộ, bảo vệ quyền lợi của tác giả và giúp thúc đẩy sáng tạo và học tập tại Anh. Tuy vậy, nếu đặt mình vào vị trí của các tác giả ở hoàn cảnh xã hội thời đó, những quyền lợi kể trên chẳng có nhiều ý nghĩa. Thời đó công nghệ in ấn và hệ thống phân phối là rất đắt đỏ, chưa hề có thị trường sách đại chúng cũng như thư viện công cộng. Khi 1 tác phẩm được viết ra, tác giả hầu như chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc phải ký kết nhượng 1 số quyền sở hữu của mình cho các nhà xuất bản để đổi lại việc sách của mình được xuất bản. Thêm nữa, dưới quan điểm của các tác giả thời đó, việc hạn chế trong việc xuất bản, phổ biến sáng tác của mình để đổi lại sự bảo hộ bản quyền, vốn chẳng mang lại nhiều giá trị thực sự là một việc có vẻ đi ngược với mong muốn của họ. Thực tế việc coi và định giá lao động trí tuệ trở thành tài sản, giống như các loại tài sản khác chỉ có lợi cho các nhà xuất bản hơn là tác giả. Nói chung, luật bản quyền thời đó là luật được soạn ra bởi và để bảo vệ quyền lợi của nhà xuất bản, đảm bảo việc khan hiếm trong số đầu sách cũng như số lượng sách được in ra. Hệ quả của việc hạn chế đó là giá sách cực đắt và sách được coi là sản phẩm chỉ dành cho giới quý tộc và nhà xuất bản vẫn kiểm soát được lợi thế độc quyền của mình.

Booksellers war

Thực tế 30 năm kể từ Quy chế Anne ra đời, số lượng đầu sách được in lần đầu ở Anh đều giảm sút so với trước thời 1710. Chỉ đến khi năm 1740, với sự ra đời của công nghệ in tiên tiến hơn cộng với việc các thư viện bắt đầu được mở ra, nhu cầu đọc sách của người dân tăng lên mới khiến số đầu sách dần tăng trở lại. Tuy vậy, tăng trưởng chỉ thực sự ấn tượng khi năm 1774 Houses of Lords, một hội của các nhà quý tộc trong Nghị viện Anh chiến thắng trong một cuộc chiến vẫn được lịch sử nói đến dưới cái tên “cuộc chiến của các nhà sách” kéo dài 30 năm. Chống lại mong muốn nắm giữ độc quyền bản quyền của các ấn bản đã hết hạn bảo hộ của các nhà sách, mở đường cho 1 thị trường sách giá rẻ, nơi các tác phẩm cổ điển của các tác giả được nhiều người ưa chuộng như Shakespeare, John Milton, Geoffrey Chaucer được in ấn và phổ biến đến nhiều người đọc. Chiến thắng đó mang lại một môi trường kinh doanh giàu tính cạnh tranh hơn và dân chúng được tiếp cận sách giá rẻ và nhiều lựa chọn về đầu sách hơn. Ví dụ như tác phẩm Robinson Crusoe, xuất bản lần đầu năm 1719, đáng lẽ hết hạn bảo hộ và mọi nhà sách đều có thể in vào năm 1747, nhưng phải thông qua dự thảo năm 1774 mới thực sự được in rộng rãi. Và chỉ trong 5 năm tính từ năm 1774, đã có số lượng bán ra ngang với cả thời kỳ trước đó.

Phần tiếp theo của lịch sử luật bản quyển chủ yếu chứng kiến sự gia hạn liên tục thời gian bảo hộ bản quyển. Tại Mỹ, thừa hưởng chính sách bản quyền của Châu Âu, cho đến tận giữa những năm 1950, thời hạn bảo hộ bản quyển tác phẩm chỉ là 28 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên. Sau đó nó được nâng lên gấp đôi là 56 năm. Tuy vậy, đến năm 1976, Quốc Hội Mỹ đã phê chuẩn dự thảo thay đổi thời hạn bảo hộ thành 50 năm kể từ ngày tác giả mất, 75 năm đối với các sản phẩm sở hữu bởi tập đoàn. Năm 1998, dưới nguy cơ bị mất bảo hộ hình ảnh chuột Mickey khi sản phẩm này sẽ hết hạn bảo hộ vào năm đó, Disney đã lobby chính phủ Mỹ để chính sách vẫn được biết dưới cái tên “Mickey Mouse Protection Act” được thông qua,  kéo dài thời hạn bảo hộ thêm 20 năm nữa. Đến năm 2018, Mickey sẽ lại hết hạn bảo hộ, Disney hiển nhiên là muốn gia hạn tiếp và người ta đang dấy lên câu hỏi liệu thời hạn bảo hộ bản quyền có được tiếp tục gia hạn hay không?

Thế rồi làn sóng số hóa và Internet ập đến và thay đổi tất cả. Ngay trước thời đổ bộ của làn sóng số hóa, năm 1984 đã có 1 vụ kiện tụng nổi tiếng liên quan đến một thiết bị quay phim băng từ cầm tay của Sony. Sản phẩm có tên Betamax, cho phép người dùng có thể quay lại các chương trình truyền hình để xem lại khi cần đã bị các công ty truyền hình và hiệp hội băng đĩa tại Mỹ kiện ra tòa với cáo buộc thiết bị đó vi phạm bản quyền truyền hình. Tuy nhiên dựa theo một điều khoản có tên “fair use”, cho phép người dùng có toàn quyền quyết định sử dụng với ấn bản mua hợp pháp đã giúp Sony không bị coi là vi phạm bản quyền trong trường hợp này. Tuy vậy, các tập đoàn nội dung ở Mỹ, bao gồm Hiệp hội điện ảnh (MPAA), Hiệp hội thu âm (RIAA) đã rút kinh nghiệm từ vụ Sony với công nghệ băng từ (VHS) để cho ra đời một bộ luật mang tên DMCA (Digital Millennium Copyright Act) năm 1998 để ngăn ngừa những trường hợp như vụ của Sony có thể tái diễn với công nghệ CD/DVD.

Luật bản quyền dựa trên nền của công nghệ in bị giới hạn, hàng hóa khan hiếm và độc quyền về phân phối.

Thời nay, người ta không còn dùng sử dụng đồ đạc dưới ý nghĩa của luật bản quyền nói đến nữa. Ví dụ streaming video, nhạc…

Có ảnh hưởng đến sáng tạo thế nào

Từ thời 1710 đã không có ảnh hưởng nhiều : 1710 Statute of Anne led to a decrease in the number of works available. That decline began to turn around only at the end of the 1740s, due to the advent of the first generation of commercial circulating libraries, and the wider use of new, innovative forms of printing. Số lượng in chỉ được phục hồi khi có công nghệ in mới + public library.

Vì sao lại như vậy? Vì để copyright phát triển tốt —> Phải sinh ra một hệ thống tung hô các ngôi sao —> tạo ra thương hiệu + bán đồ liên quan tới họ —> lợi nhuận—> tạo ra xã hội người chiến thắng có tất cả —> 1% người nắm giữ 99% tài sản xã hội —> Occupy Wall Streets —> Game theory + máu me cờ bạc + cách luồn lách vào để tiến lên hơn là bằng cách sáng tạo.

Link rất tốt đến media, chiến lược kinh doanh của các corp.

Để bảo vệ các siêu sao và chứng minh không ai sao chép được họ —> cần luật chặt chẽ nhất có thể để bảo tồn được nó.

Miley Cyrus gạt phắt đi thành tựu của ngôi sao Youtube 13 tuổi vừa sáng tác vừa chơi đàn Rebecca Black (bài hát “Friday” của cô đã đạt được rất nhiều ủng hộ từ người dùng youtube trên toàn thế giới), Miley nói: “Để trở thành một nghệ sĩ khó hơn nhiều. Bạn không thể chỉ upload một bài hát lên youtube và rồi người ta sẽ mời bạn đi diễn tour đâu.”

Tỉ lệ các chủ sở hữu bản quyền yêu cầu tái bản quyền theo đạo luật của chính phủ trong những năm 1880 chỉ có 15%. Hãy nhớ rằng đây không phải là 15% của toàn bộ sáng tác.

Thư viện Quốc hội và các nhà trung tâm nghiên cứu tư nhân chỉ ra rằng có hơn 21 nghìn cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ giữa 1790 tới 1800, nhưng chỉ có 648 đăng ký được ghi nhận trong cùng thời kỳ, dẫn tới chỉ có 3.28% tác phẩm được đăng ký bản quyền.

Vì sao? Bởi đa số các tác phẩm đều có thời gian sống ngắn: lợi nhuận chỉ được tạo ra ngay sau khi xuất bản hoặc không hề có lợi nhuận. Có ra điều khoản bản quyền lâu hơn giá trị thị trường của tác phẩm thì cũng không thể thay đổi được giá trị của nó.

Lược dịch từ cuốn sách “How to fix Copyright”.

Link sách trên Amazon:

Share
Share:

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *