Lịch sử

Mao Trạch Đông – Mấy vấn đề về tâm lý văn hóa và nguyên nhân lịch sử

Sự định vị quan hệ Mao – Chu.

Nhìn cả chiều dài lịch sử thế kỷ 20 của Trung Quốc (TQ), có rất nhiều vấn đề lịch sử mù mờ cứ chờ đợi các chuyên gia học giả mò mẫm giải đoán mãi mà vẫn chưa xong. Trong đó có một chuyện như đánh đố mà cũng khá thú vị là, tại sao cuối cùng lại là Mao Trạch Đông chứ không phải Chu Ân Lai trở thành lãnh tụ như đế vương ? Hơn nữa, không nói đến quá trình từng trải của Chu Ân Lai so với Mao Trạch Đông là tương đương, cho dù là rất nhiều mặt ngón nghề, tâm địa, ma lực cá nhân, v.v… điều kiện để trở thành lãnh tụ, đều không dưới Mao Trạch Đông. Nhất là về mặt nhân duyên nhân mạch, với địa vị đã từng là người lãnh đạo từ rất sớm những năm trước đây, Chu Ân Lai còn hơn xa Mao Trạch Đông, nhưng cuối cùng Chu Ân Lai lại cúi đầu cụp tai thần phục trước ngôi báu đế vương Mao Trạch Đông. Thoáng nghĩ lúc đầu, cảm thấy như có những gì đó không thể ngờ tới. Ở đây, giả dụ, chỉ với cách nói đại loại như xét về khí chất đế vương của Mao Trạch Đông so với Chu Ân Lai để giải thích, thì vẫn còn xa mới thuyết phục được. Có lẽ đưa ra hai nhân vật lịch sử gần gần như nhau để so sánh, có thể sẽ giúp cho nhìn rõ cái ảo diệu trong đó. Ví như lấy Tào Tháo và Gia Cát Lượng để phân tích.

 Cho dù “Tam quốc diễn nghĩa” phân biệt rạch ròi làm xấu hóa và mỹ hóa đối với Tào Tháo và Gia Cát Lượng, nhưng trong các thơ văn của bản thân họ lưu lại, người đời sau còn có thể nhìn rõ diện mạo chân thực về khí chất và bẩm tính giữa họ. Đúng là văn như con người họ, thơ cũng như con người họ.

Từ hai bộ Sư biểu đưa ra của Gia Cát Lượng, người ta đọc ra không phải là một nhân vật lãnh đạo “diệu toán thần cơ”, mà là một Nho tướng trung thần “cúc cung tận tụy, cái chết để phần mình”. Nhất là ngôn từ theo loại “Thần vốn áo vải, cày bừa làm ăn Nam dương, tạm thời an toàn tính mạng trong thời loạn, chẳng mong chi đạt với chư hầu”, rõ là hình ảnh hiền thần thuộc giáo lý Nho gia hun đúc mà thành. Giả như đối mặt với một đế vương như Lý Thế Dân, Gia Cát Lượng tâu lên như thế, sẽ khiến người ta cảm thấy dịu dàng đôn hậu, càng thêm khiêm nhường. Nhưng, cứ nghĩ đến sự thực trên, ông ta hết lòng phủ phục triều bái như vậy, chẳng qua là một đứa trẻ Tiểu Mao Lưu A Đấu không đỡ dậy được, tôn kính ông ta, dư thừa làm người làm thần, khó tránh làm cho người ta buồn cười.

Gia Cát Khổng Minh được “Tam quốc diễn nghĩa” thần hóa, về thành tựu của tướng trị quốc là có thể tin được, nhưng trí tuệ siêu nhân về quân sự lại là sự thêm mắm thêm muối của tiểu thuyết Diễn nghĩa. Hơn nữa không cần nói chuyện khác, chỉ lấy việc 6 lần xuất Kỳ Sơn chẳng dựng được cây nào, cuối cùng chết trên đường đi, đủ thấy việc xuất tướng là không đúng lúc và sự khiếm khuyết về thiên phận quân sự. Cho đến con mắt chính trị và tầm nhìn lịch sử của ông ta, cũng không phải “đối sách nổi bật” thần kỳ như Diễn nghĩa biên soạn, chẳng qua là “Tiên đế lo nghĩ không đứng hai chân Hán, tặc, vương nghiệp không yên, vậy giao cho thần đi dẹp tặc vậy. Lấy sự sáng suốt của Tiên đế để đo cái tài của thần, vốn biết thần dẹp giặc, tài nhược địch cường vậy. Nếu không dẹp giặc, vương nghiệp cũng vong. Chỉ còn ngồi chờ đợi chết, quyết dẹp chúng.” (Xem hậu xuất Sư Biểu). Những lời lẽ đó quả thật khó hiểu thế nào.

Càng có ý, nói đến địch thủ Tào Tháo, Gia Cát Lượng không chút giấu diếm thừa nhận : “Trí kế Tào Tháo tuyệt hơn người, cách dùng binh phảng phất Tôn, Ngô”. Những lời tán thưởng này, về sau được tác giả đưa vào “Tam quốc diễn nghĩa” để hình dung Gia Cát Lượng, còn bản thân Gia Cát Lượng lại thành thật thừa nhận trong “xuất Sư biểu” của ông, thực sự dùng binh như thần là Tào Tháo. Từ đó có thể thấy, nếu năm đó Gia Cát Lượng không bị Lưu Bị mời ra Long Trung, mà là bị Tào Tháo thu vào doanh trại, thế nên câu chuyện của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai về sau là đã có tiền lệ lịch sử điển hình.

Tào Tháo đã bị Diễn nghĩa tái gian hùng hóa, kỳ thực trong lịch sử là một lãnh tụ hết sức hiếm thấy. Hơn nữa, chưa nói đến nói hùng tài đại lược và nghiệp tích chính trị của ông ta, chỉ đọc thơ ca của ông là đã có thể thấy tâm khảm và tầm nhìn của một lãnh tụ trong lòng quần chúng. Khí phách và phong độ Tào Tháo thể hiện trong thi ca, là Lý Bạch về sau, cho đến cả Mao Trạch Đông sau này đều khó sánh nổi. Vô luận là sự cảm ngộ đối với sinh mệnh đối với vũ trụ trong tổ thơ “bộ xuất Hạ môn hành”, còn là ngao du trong thế giới tưởng tượng “giá lục long, thừa phong nhi hành… Đi 4 biển, đường qua 8 bang” như vậy, hoặc là cảm hoài bi lương trong một loại thi ca “độ quan sơn” (băng qua cửa núi), “giới lộ hành” (giới lộ=hạt sương trên lá củ kiệu, hình tượng mong manh, cổ xưa lấy hình tượng này để ai điếu người quá cố), “hao lý hành” (hao ở đây là chỉ cây thanh hao tỏa mùi thơm thoang thoảng, Hao còn có ý là xa vời, viễn vọng), với ý cảnh sâu xa, với tầm nhìn rộng mở, mới mẻ của người cùng thế hệ. Nhất là khí độ, phong thái lãnh tụ của ông ta trong hai bài nổi tiếng “đoản ca hành” “núi không ngán cao, biển không ngại sâu. Chu Công thổ lộ, thiên hạ qui tâm” nổi bật trong con mắt.

Người ta nói thi ca của Tào Tháo có phong cách cổ, nói cho đúng hơn, kỳ thực là chứa đựng rất giàu khí chất của sinh mệnh và nguyên khí của văn hóa. Trong thi ca Trung Quốc có khí chất và nguyên khí này nhất, đương nhiên phải đưa lên hàng đầu là “Kinh thi”, còn thi ca của Tào Tháo, nhất là thơ tứ tuyệt của ông ta, về ý cảnh và phong cách lại vừa vặn gần với “Kinh thi” nhất. Khí phách cao xa của thơ Tào Tháo, đến Mao Trạch Đông đều không thể khuynh đảo, cảm thán rằng “Ngụy vũ múa roi, đông đến bia đá còn lưu lại” (Ngụy vũ huy tiên, đông lâm kiệt thạch hữu di thiên). Kỳ thực Ngụy vũ chẳng lẽ chỉ là vung roi ? Hơn nữa không nói đại nghiệp kinh bang tế thế về sau của Tào Tháo, chỉ lấy sự thực mấy lần lật lại bản án các lãnh tụ Trần Phan Lý Ưng thuộc đảng cấm vào cuối nhà Hán của ông lúc còn trẻ, là đủ thấy Mao Trạch Đông sau này kém cỏi rõ rệt. Một là để lật lại án vị tinh anh Sĩ Lâm bị giết oan, một là theo cách Tần Thủy Hoàng “đốt sách chôn Nho”, đưa hàng triệu phần tử tri thức vào tù. Đương nhiên, bất kể nói thế nào, Mao Trạch Đông đối với Tào Tháo không nói tự biết, ít nhất cũng là ngưỡng mộ trong lòng. Nếu không, Quách Mạt Nhược nhìn gió trở buồm sẽ không viết bài văn thay Tào Tháo lật án bất luân bất loại đó. Thực ra Quách Mạt Nhược cũng chưa từng thực sự thông hiểu Tào Tháo.

So sánh Tào Tháo với Gia Cát Lượng như vậy, đại thể là đã hiểu rõ tại sao là Mao Trạch Đông chứ không phải Chu Ân Lai trở thành nhân vật lãnh tụ kiểu đế vương. Chu Ân Lai không phải không muốn làm lãnh tụ, trên thực tế ông đã từng làm lãnh tụ. Sau khi ông ta cầm lá thư giới thiệu do Đi-mi-tờ-rốp đầu não quốc tế cộng sản tự viết trở về Trung Quốc, là bước lên mây xanh ngay, làm Chủ nhiệm giáo đạo trường quân sự Hoàng Phố ngay khi tuổi còn trẻ trung. Sau khi Tưởng Giới Thạch tách đảng thanh Cộng, Chu Ân Lai càng là một bước trở thành nhân vật lãnh tụ nòng cốt nhất của Trung Cộng năm đó. Nhưng Chu cũng giống như Gia Cát Lượng, có tài của một tướng quốc mà không có năng lực của một lãnh tụ. Tựa như bại tích của Gia Cát Lượng 6 lần xuất quân Kỳ Sơn, Chu Ân Lai cũng mấy lần đánh là mấy lần thất bại, trước sau hai lần chỉ huy bạo động thành phố ở Thượng Hải và Nam Xương. Thế nhưng, khác với Gia Cát Lượng, bị Lưu Bị làm cho một trận buộc phải hết lòng với  đất trời nhà họ Lưu, còn Chu Ân Lai cuối cùng ý thức được, trong cốt tủy của mình không phải là loại nhân vật có thể cuối cùng thống nhất được thiên hạ, từ đó tại Hội nghị Tôn Nghĩa tự đáy lòng tình nguyện nhường hiền, đã bắt đầu cuộc sinh nhai chính trị cúi đầu thần phục Mao Trạch Đông dài đến mấy chục năm của mình. Có thể nói, xưng thần của Chu Ân Lai là bước ngoặt lịch sử có tính then chốt đối với từng bước “xưng vương” “xưng đế” của Mao Trạch Đông. Người thông thuộc lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc đều biết, Chu Ân Lai lúc đó, nắm già nửa thực lực trong đảng trong quân, chuyển hướng của Chu là hết sức quan trọng đối với việc xác lập vị trí lãnh tụ của Mao Trạch Đông.

 

Hiện tượng ý thức tầm dưới (hạ ý thức) này về tâm lý văn hóa, thông thường là do rất nhiều tình tiết bề ngoài tựa như hình thành một cách ngẫu nhiên. Người ta có thể đưa ra đủ cách này cách nọ để giải thích việc chuyển nhượng quyền lực cao nhất giữa Chu Mao, ví như cho rằng lúc đó Chu Ân Lai vì tình thế ép buộc, hoặc giả đó là kết quả của Mao Trạch Đông đã ngầm làm nhiều động tác nhỏ mà có được. Cũng tựa như người ta giải thích khi Hit-le lên nắm quyền, cũng có thể tìm được rất nhiều tình tiết lịch sử ngẫu nhiên, để chứng minh thành công của Hit-Le chẳng qua là sự may mắn mà thôi, chứ không phải là sự lựa chọn của tầng vô ý thức tập thể dân chúng Đức. Đương nhiên, cách lý giải càng dứt khoát càng giản đơn là đem hiện tượng lịch sử qui về vận mệnh. Ai cũng không thể phủ nhận vận mệnh, cũng giống như cuối cùng ai cũng không thể nói rõ ràng được vận mệnh là cái gì. Sự thực thì, tính cách và vận mệnh của một con người là có tính đối xứng, vận mệnh của một dân tộc thông thường cũng có liên quan với vô ý thức tập thể của dân tộc đó. Hoặc là nói, từ vô ý thức tập thể của một dân tộc, có thể tìm ra rất nhiều dấu tích của vận mệnh lịch sử của họ.Cũng có thể việc nhường ngôi lúc đó của Chu Ân Lai đúng là có đủ loại nguyên nhân, cũng có thể lúc đó đúng là Chu không ý thức được thật rõ ràng về vị trí Quân Thần này giữa Mao Trạch Đông với ông ta; nhưng từ sự quan hệ gần gủi mấy chục năm của Chu sau này với Mao để xét, vị trí Quân Thần này không phải ngày càng mờ nhạt, mà là ngày càng rõ rệt. Giả như, Chu Ân Lai hơi có chút tinh thần chủ nghĩa Mác, như thứ ý thức tự do mà Mác luận giải về tự do tinh thần trong “Bàn về lệnh kiểm duyệt sách báo Phổ Lỗ sĩ”, Chu tuyệt đối không tiếp nhận thậm chí chịu đựng định vị giữa Chu và Mao này. Sở dĩ Chu cam lòng tình nguyện tiếp nhận và chịu đựng định vị này, chỉ có một giải thích, từ trong tiềm ý thức của Chu là vô ý thức tập thể nằm sâu trong tim Chu đã phát huy tác dụng. Điều này không chỉ lý giải điều bí mật của quan hệ Mao Chu là ở đây, cũng còn là lý giải điều then chốt của toàn thể đảng Cộng sản Trung Quốc (CSTQ) với giai đoạn lịch sử TQ tương ứng lúc đó là ở đây.

Cái gọi là chủ nghĩa Mác Lê, ở đảng CSTQ chỉ là một chiếc áo khoác ngoài ý thức hệ khiến mọi người cũng như khiến họ hoa cả mắt. Trong vô ý thức tập thể của họ, điều thực sự này nọ xoay quanh Mao Trạch Đông, xoay quanh Chu Ân Lai, thậm chí xoay quanh đối với cả đảng CSTQ vừa đúng là truyền thống văn hóa và tâm lý làm theo của sự phản đối và phê phán trên tầng diện ý thức của họ. Quan hệ ý thức và vô ý thức là tựa như quan hệ giữa các đảo và đại dương; ý thức hệ được xây dựng lên trên các hòn đảo lớn mạnh đến mấy cũng không địch nổi với đại hải mênh mông của vô ý thức tập thể.

Trong vô ý thức tập thể của đảng CSTQ, học thuyết Mác kỳ thực không khác gì mấy với sùng bái thượng đế giáo lúc đó của Hồng Tú Toàn, chẳng qua đều là một cách nói có tính phù hiệu dùng để đánh đấm khắp giang sơn mà thôi. Cho dù là cướp ngân hàng, cũng phải có một cách nói, huống hồ đánh cướp cả giang sơn ?

Còn thành công lớn nhất của Mao Trạch Đông, là ông ta dùng Hán ngữ bạch thoại hiện đại (Ở TQ trước đây trong các văn bản nhà nước, các văn thơ của các học giả quan chức đều dùng “Văn ngôn” là loại văn rất súc tích, ngắn gọn, ít chữ mà nghĩa nhiều nghĩa sâu; còn trong đời thường hàng ngày của dân chúng là dùng “văn bạch thoại”, tức là văn nói thường ngày) để chuyển đổi học thuyết Mác Lê một cách thần không biết quỉ không hay thành một bộ ngôn từ “Tam quốc” hiện đại và ngôn từ “Thủy hử” hiện đại. Mao Trạch Đông dùng bộ ngôn từ này của ông ta trước tiên đã chinh phục được đảng CSTQ của ông ta, sau đó dẫn dắt đảng của ông ta đã chinh phục được dân chúng TQ đần độn bởi “Tam quốc diễn nghĩa” và “chuyện Thủy hử” hun đúc. Sự ngu muội này của dân chúng ở chỗ, rõ ràng là bị người ta cưỡng hiếp, thế mà ngược lại lại nói người ta cứu mình.

Kỳ thực cái mà Mao Trạch Đông cứu không phải là dân thường TQ, mà là đảng CSTQ. Về điểm này, tất cả các lãnh tụ Trung Cộng, nhất là Chu Ân Lai, nhân vật hạt nhân như thế, đều biết rõ từ trong ruột gan. Nếu không, làm sao mà Chu Ân Lai lại trung thành không hai lòng đối với Mao Trạch Đông như Gia Cát Lượng đối với Lưu A Đấu ? Giả như “Tam quốc diễn nghĩa” có thể tạo dựng Gia Cát Lượng như thực theo “xuất Sư biểu”, như vậy Chu Ân Lai có thể là nhân vật lịch sử gần giống nhất với Gia Cát Lượng. Theo tiêu chuẩn luân lý của tam cương ngũ thường Nho giáo, Thần tử phải tận trung tuyệt đối với Chúa quân, bất kể Chúa quân như đứa trẻ khốn nạn như Lưu A Đấu, hoặc như Mao Trạch Đông kiêu hùng loạn thế như thế. Chỉ là so sánh Ông ta với cái trung thành ngu ngốc kiểu Gia Cát Lượng, sự trung thành của Chu Ân Lai là trung thành một cách rõ ràng : không có Mao Trạch Đông là không có đảng CSTQ.

Đúng là Mao Trạch Đông đã cứu lấy đảng CSTQ. Đương nhiên, muốn làm rõ đảng CSTQ mà Mao Trạch Đông cứu, trước tiên phải làm rõ, đảng CSTQ làm sao lại lâm vào khốn cảnh.

Đảng CSTQ lấy chủ nghĩa Mác Lê làm giáo lý, kỳ thực lại không phải thoát thai từ chủ nghĩa Mác Lê, mà là nổi lên từ phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ.” Học thuyết Mác truyền vào TQ từ Cách mạng Tháng Mười của Liên Xô, từ rất sớm đã là thứ canh của canh con thỏ mà a hoàn (người hầu) đưa cho.

Khi Lê nin biến chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Lê nin, tinh thần chủ nghĩa tự do những năm đầu của Mác đã bị lý luận chính đảng và lý luận chuyên chính của Lênin hoàn toàn xóa mất. Vì thế cái chủ nghĩa mà người Liên Xô dạy cho người TQ và họ nói là chủ nghĩa Mác, chi bằng nói là chủ nghĩa Lênin. Hơn nữa, người TQ bị người Liên Xô dạy sớm nhất làm chủ nghĩa Lênin, chẳng phải là người đảng CSTQ, mà là Tôn Trung Sơn, hơn nữa là kẻ tạo phản xuất thân từ cái bang giang hồ này.

Tôn Trung Sơn làm theo chủ nghĩa Lênin, thể hiện trong giải thích liên Nga liên Cộng phù trợ công nông đối với chủ nghĩa Tam dân mà về sau ông đưa ra, cũng được triển khai vào thực tế trong mọi nỗ lực nhất thống thiên hạ tuân theo phương thức Liên Xô, nhất là cuộc chiến tranh Bắc phạt đó, đã mang lại hậu quả lịch sử có tính tai họa cho TQ. Theo nói, tấm gương trong trái tim con mắt của Tôn Trung Sơn nên là Hồng Tú Toàn, chỉ là do sử dụng quá mức những phép tắc của Hội Bái thượng đế, không còn có bất cứ lực hiệu triệu nào nữa, ông ta mới chạy khắp nơi cầu cứu, cuối cùng đã tìm vào vòng tay người Liên Xô, được Lênin ca ngợi nhiệt liệt. Còn đằng sau cách mạng của ông ta có hay không khí phách văn hóa mà nói, Tôn Trung Sơn, không cần nói, không cách gì so sánh với Mao Trạch Đông với đầu óc có văn hóa, thậm chi Tôn Trung Sơn cũng không bằng Hồng Tú Toàn rớt bảng tú tài.

Tôn Trung Sơn xưa nay chưa hiểu rõ chuyện của TQ là chuyện gì, chuyện của người TQ là chuyện gì, chuyện của văn hóa TQ là chuyện gì. Còn Mao Trạch Đông  chỉ từ một bộ “Hồng Lâu Mộng” có thể nói ra một loạt suy nghĩ của mình, Tôn Trung Sơn nếu đối mặt với bộ tiểu thuyết này, có thể chỉ là há mồm lè lưỡi. Với Mao Trạch Đông sau này rất rõ bản thân đang làm những gì ngược lại, Tôn Trung Sơn ngoài một lòng muốn có được trọn vẹn giấc mộng Đại Tổng thống của mình, kỳ thực cũng là giấc mộng Hoàng đế, căn bản không biết cuối cùng là mình đang làm cái gì. Lôgich chung về cách mệnh của Tôn Trung Sơn này là, có sữa là bà mẹ. Năm đó để người Nhật ủng hộ ông ta không ủng hộ Viên Thế Khải, ông ta ngang nhiên hứa với người Nhật 3 tỉnh Đông. Về sau, sau khi ngã vào người Liên Xô, Tôn Trung Sơn lại hoàn toàn đi theo cố vấn Liên Xô, người ta nói như thế nào, ông ta làm như thế ấy. Từ xây dựng đảng đến xây dựng trường quân đội, tất cả đều làm theo mô thức chủ nghĩa Lênin của Liên Xô. Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn và đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông sau này, nói toạc ra là một giuộc, ở rất nhiều điểm không khác gì nhau.

Nhưng cũng chính là nguyên nhân này, Mao Trạch Đông xưng Tôn Trung Sơn là người đi trước của cách mạng. Nói cách khác, Mao Trạch Đông ca ngợi Tôn Trung Sơn về mặt dựa người Liên Xô đánh khắp giang sơn, so với Mao là đi trước một bước. Đảng Cộng sản của Mao Trạch Đông với đảng Cộng sản của thời đại Trần Độc Tú chỉ là có tính thừa kế về bề ngoài, về thực chất lại khác nhau xa không chỉ lấy đoạn đường để tính.

Chu Ân Lai trong quá trình chuyển từ đảng CSTQ của Trần Độc Tú sang đảng CSTQ của Mao Trạch Đông.

Đảng CSTQ lúc mới khởi đầu, lúc lấy Trần Độc Tú làm lãnh tụ, không những không phải là đảng CS của Mao Trạch Đông sau này, mà cũng không cùng loại với thứ đảng Cách mệnh kiểu bang hội giang hồ của Tôn Trung Sơn. Đảng CS của Trần Độc Tú, đó là kết quả lịch sử của phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” (Phong trào ngày 04/5/1911). Khác với Tôn Trung Sơn không có một tý nào dấu nét văn hóa đến từ nông thôn Quảng Đông và phố Đường nhân hải ngoại, Trần Độc Tú lấy “Thanh niên mới” làm trận địa lấy Bắc Đại (Đại học Bắc Kinh) làm bối cảnh, đó là nhân vật linh hồn của toàn bộ phong trào văn hóa mới.

Đảng CSTQ thời kỳ sớm ban đầu của Trần Độc Tú gầy dựng nên, thoát thai từ một phong trào khai sáng văn hóa vạch thời đại. Đây là đặc điểm lớn nhất của đảng CSTQ vừa không giống với Quốc dân đảng Họ Tôn, lại cũng không giống với các đảng CS các nước khác trên thế giới. Và cũng không có mấy liên quan với giáo lý  chủ nghĩa Cộng sản, mà là một kết quả lôgích của sự phát triển tự thân lịch sử văn hóa TQ.

Chính vì vậy, Trần Độc Tú tin thờ học thuyết chủ nghĩa Cộng sản, nhưng không phải hoàn toàn đương nhiên đồng tình với đủ thứ chủ trương của người Liên Xô, nhất là không đồng tình với phương thức cách mệnh của chủ nghĩa Lênin. Bởi vì thân hình  lịch sử đang đứng sau lưng Trần Độc Tú vừa không phải là Mác cũng không phải Lênin, càng không phải là Stalin, mà là những tinh anh trí thức TQ từ đảng bị cấm cuối Hán đến người đảng Đông Lâm cuối Minh tiếp đến chư quân biến đổi pháp luật Mậu Tuất, các chí sĩ cách mạng cuối Thanh đầu Minh và cuối cùng bao gồm những người đảng CSTQ thời kỳ đầu trong đó.

Cho dù Trần Độc Tú cấp tiến như thế nào, thiên kiến như thế nào khi đề xướng văn bạch thoại, nhưng ông ta đối với cách mạng bạo lực đầy khí thế cỏ dại, lại mãi giữ thái độ bảo lưu. Trần Độc Tú là vừa  độc lập không ràng buộc, nhưng trong sâu thẳm nội tâm lại chỉ thừa nhận truyền thống văn hóa thư sinh, chứ không thích phần tử tri thức TQ của văn hóa lưu manh. Phần tử tri thức như thế này được cấp tiến lên rất đao to búa lớn lúc đó có kiểu Trần Phan Lý Ưng, nhưng trong xương tủy lại ôn hòa, vẫn là thân sĩ kiểu TQ, rất dễ đồng tình với chủ trương lý luận kiểu như Pô-ân-stanh (Berstein ?), có khuynh hướng xây dựng đảng CS thành một đảng nghị viện, lấy phương thức nghị viện hợp pháp chứ không phải lấy phương thức cách mạng bạo lực làm tôn chỉ của đảng.

Lập trường văn hóa này của Trần Độc Tú, hiển nhiên là không thể phù hợp với cố vấn Liên Xô, nhất là với các đầu não Quốc tế Cộng sản. Điều mà người Liên Xô cần là người hợp tác giang hồ, không có lập trường văn hóa của mình, nhưng đang có nhu cầu lợi ích thiết thực như Tôn Trung Sơn, chứ không phải loại bạn bè chính trị xuất thân lãnh tụ văn hóa như Trần Độc Tú. Nói cách khác, người Liên Xô chỉ cần đảng CSTQ chuyển xoay dưới cái gậy chỉ huy của họ, chứ không cần người chủ nghĩa CS của TQ có đầu óc của mình có tư tưởng của mình. Nhưng Trần Độc Tú lại đúng là một nhân vật lãnh tụ có đầu óc của mình có tư tưởng của mình như thế, hơn nữa tư tưởng của ông ta lại không thể tương dung với nguyên tắc chủ nghĩa Lênin, nhất là với nhân cách chuyên chế của Stalin của Xô Cộng, vì thế, ông ta bị người Liên Xô tìm đủ phương cách chèn ép và loại bỏ, đó là thế tất nhiên. Việc mất vị trí vai trò của Trần Độc Tú, làm cho đảng CSTQ hoàn toàn bị Quốc tế Cộng sản khổng chế. Hầu như Quốc tế Cộng sản bảo làm gì, họ đón nhận làm đúng như thế. Ví như họ bảo làm bạo động thành phố, cho dù điều kiện không chín mùi, đảng CSTQ cũng phải làm theo. Mà người chấp hành trung thực nhất thời gian này, lại là Chu Ân Lai. Chu Ân Lai tuy bản thân chưa từng nắm chức trọng yếu, là Tổng Bí thư, nhưng ông ta là nhân vật hạt nhân trên thực tế của đảng CSTQ lúc đó. Các nhà biên tạo lịch sử đảng của Trung Cộng đưa cái gọi là sai lầm đường lối mấy lần sau này đều qui khởi đầu cho các vị Cù Thu Bạch, Lý Lập Tam, đâu có ngờ, người chấp hành thực sự đường lối, lại là Chu Ân Lai. So với Trần Độc Tú, Chu Ân Lai ngoài việc chấp hành chỉ lệnh đến từ Liên Xô, từ Quốc tế Cộng sản, không có bất kỳ suy xét nào, chủ trương nào của mình. Có thể nói, quá trình chuyển đổi lãnh tụ từ Trần Độc Tú đến Mao Trạch Đông, trong một thời gian rất dài của đảng CSTQ là một chính đảng không có linh hồn, không có đầu óc. Vô số thanh niên cách mạng, tràn đầy nhiệt huyết, nói chết là vì đảng, nhưng thật ra là chết có phần hồ đồ. Điều chua cay trong đó, Chu Ân Lai nên là người hiểu rõ nhất.

Giả như không có đủ thứ chuyển ngoặt sau này, không có vào vai ngôi chủ của Mao Trạch Đông sau này, đảng CSTQ bị người Liên Xô và Quốc tế Cộng sản tống táng đi, là hoàn toàn có khả năng. Thảm sát của Tưởng Giới Thạch, không những không làm cho đảng CSTQ suy yếu, trái lại làm cho đảng CSTQ giành được ưu thế về đạo nghĩa, làm cho họ phấn đấu vì cái mộng tưởng đó mà phải đổ máu càng thêm chân thực, càng thêm rung động lòng người, càng thêm ma lực. Nhưng người Liên Xô và Quốc tế Cộng sản chỉ huy mù quáng chỉ vì từ nhu cầu lợi ích của mình, đã từng bước từng bước dẫn đảng CSTQ vào tuyệt cảnh tựa như bọn Thạch Đạt Khai lãnh tụ làm phản Thái bình Thiên Quốc lúc đó. Thất bại nối tiếp thất bại, máu của biết bao đồng chí đã đổ, khiến Chu Ân Lai dù không ý thức được đảng CSTQ rất cần một nhân vật linh hồn, cũng đã phát hiện mùi vị tính nguy hiểm của mù quáng chuyển xoay theo gậy chỉ huy của người khác. Tuy đã dứt khoát rời bỏ đặc sứ Quốc tế Cộng sản chuyển sang xác lập vai trò lãnh đạo của Mao Trạch Đông, mà đó là quyết định được đưa ra sau khi tranh cãi quyết liệt của mấy nhân vật nòng cốt Trung Cộng lúc đó, nhưng sự chuyển hướng của Chu Ân Lai đã có tác dụng khá quan trọng. Cuối cùng Chu Ân Lai ngả về Mao Trạch Đông khiến đảng CSTQ đã hoàn thành bước ngoặt có tính lịch sử từ Trần Độc Tú sang Mao Trạch Đông. Gạt ra ngoài những ân ân oán oán trong cái gọi là đấu tranh đường lối lúc đó giữa Chu Ân Lai với Mao Trạch Đông, quay sang Mao Trạch Đông của Chu Ân Lai, làm cho đảng CSTQ, cũng làm cho cục diện tiến trình lịch sử TQ sau này, cơ bản được xác định. Đương nhiên Chu Ân Lai là không ý thức được, Mao Trạch Đông lúc đó, rất sớm đã không còn là chàng thanh niên nhiệt huyết hồi năm nào hô to “Anh Trần muôn năm !” đối với Trần Độc Tú. Cũng là nói, thân hình lịch sử đứng đằng sau Mao Trạch Đông đã không còn là tinh anh Sĩ Lâm các thời đại, mà là Tần hoàng Hán vũ, Đường tông Tống tổ; mà là Chu Nguyên Chương, Lý Tự Thành, Hồng Tú Toàn. Không cần nghi ngờ, về nắm quyền và tài năng cá nhân mà nói, tài cao lược lớn của Mao Trạch Đông không có ai hơn trong đảng CSTQ. Khác với rất nhiều lãnh tụ Trung Cộng, bao gồm Chu Ân Lai trong đó, không biết bản thân cuối cùng là đang làm những gì, Mao Trạch Đông trước sau vẫn giữ được một tầm nhìn rộng lớn, kể cả con mắt chiến lược cũng từ đó mà có. Trong những năm tháng không có đầu óc nhất đó của Trung Cộng, vừa đúng lúc đó duy nhất đầu óc của Mao Trạch Đông là rõ ràng nhất. Từ trong một loạt bài viết của ông lúc đó, mọi người không khó phát hiện những điểm hơn người của ông. Như các bài “cuộc đấu tranh của Tỉnh Cương sơn”, “nguyên nhân sở dĩ tồn tại lâu dài của căn cứ địa đỏ TQ”, “một đốm lửa đốt cháy cả cánh đồng” v.v…

Mọi người rất có thể soi mói nói, sự đánh giá tình thế của Mao Trạch Đông không phải là hoàn toàn chuẩn xác, nhưng điều quan trọng là, đối với tình hình, Mao Trạch Đông trước nay không đánh mất sự phân tích và phán đoán của mình. Điều này cũng tựa như một tay cờ ưu tú, không thể bảo đảm mỗi nước cờ đi đều thập toàn thập mỹ, nhưng ít nhất anh ta trước sau chưa từng đánh mất sự hiểu rõ toàn cục trong đầu.

Năng lực này của Mao Trạch Đông không thể lấy ai để so sánh trong đảng CSTQ, càng là không đặt kỳ vọng vào loại nhà cách mạng giang hồ Tôn Trung Sơn lúc đó. Tại Hội nghị Tôn Nghĩa, lúc đó sở dĩ các vị lớn của Trung Cộng lại tiến cử Mao Trạch Đông, không nói đến việc họ đạt được sự nhất trí chung đối với năng lực này của Mao Trạch Đông, ít nhất về điểm này ai cũng thấy rõ. Mọi người rất có thể nói, vào ngôi chủ của Mao là kết quả của đấu tranh quyền lực, hoặc giả nói cân bằng so sánh quyền lực, thậm chí còn có thể nói Mao Trạch Đông du thuyết trong các nhân vật hạt nhân mà có, nhưng đàng sau việc so đọ quyền lực, năng lực nắm vững toàn cục của Mao Trạch Đông không thể không là nhân tố hết sức quan trọng. Thành công của Mao Trạch Đông đương nhiên còn ở năng lực ăn nói của ông. Những bài viết bằng văn bạch thoại của ông, ngay đến Hồ Thích người khởi xướng đầu tiên về văn bạch thoại, đọc xong đều bái phục không ngớt, nhận định viết bài bằng văn bạch thoại, kể ra Mao Trạch Đông là số một. Giả như Mao Trạch Đông chỉ có năng lực nắm chắc toàn cục mà không có năng lực diễn đạt ăn nói với những hình ảnh sinh động, bản lĩnh to lớn đến mấy, cũng khó có được sự nhận thức của mọi người, có được sự tiếp nhận của đông đảo trong đảng. Nhưng các bài viết của ông đúng là quá sinh động quá hình ảnh, đúng là có thể coi là những tin vui kiến giải mới của nhân dân TQ; hơn nữa bản sự và công phu của những từ ngữ mạnh mẽ đầy lý lẽ này, cũng làm cho mọi người chỉ dừng lại ở ngó xem mà thôi. Những bài viết của ông nói lên, cho dù không là chân lý, vẫn rất có khí thế của chân lý, rất có dáng dấp kiểu như vậy của chân lý.

Tôn Trung Sơn xuất thân từ bang hội giang hồ, từ xưa đến nay không dám công khai thừa nhận bối cảnh cỏ rác của mình, càng không dám đưa nguyên tắc giang hồ viết thành văn bản mũ mão đàng hoàng. Nhưng Mao Trạch Đông lại không chút che đậy, công khai tung tin, “ai là kẻ thù của ta, ai là bạn của ta, đây là vấn đề trọng yếu hàng đầu của cách mạng”. Nguyên tắc bang hội, hễ khi qua lời nói của Mao Trạch Đông đã biến thành vấn đề quan trọng hàng đầu của cách mạng. Nhân vật như thế này không làm thủ lĩnh, ai làm thủ lĩnh ?

Thế nhưng, năng lực nhìn toàn cục và năng lực ăn nói này của Mao Trạch Đông vẫn chưa phải là nguyên nhân sâu xa căn bản nhất của Mao Trạch Đông bước lên vũ đài lịch sử, mà chỉ là nguyên nhân văn hóa chính trị bề ngoài của nó. Sự quật khởi của Mao Trạch Đông, nguyên nhân nhân văn càng quan trọng hơn ở chỗ về ý nghĩa mệnh vận, qua sự lựa chọn của nhân vật tinh anh, từ đó mà giành được sự nhất trí thừa nhận về kết cấu tầng sâu tâm lý văn hóa của cả dân tộc. Bởi vì kết cấu tầng ngoài của lịch sử chung là đều đem nguyên nhân tầng sâu của nó chôn sâu chôn chặt, từ đó khiến con mắt mọi người chỉ dừng lại ở đủ loại có tính ngẫu nhiên, đã bỏ qua sự cùng thừa nhận lịch sử của hạ ý thức tâm lý văn hóa quốc dân. Cũng giống như việc lên vũ đài của Hitler năm đó, mọi người thích thú với sự kiện từ tiệm bia nổi tiếng nào đó, hoặc từ tác dụng trong đó để tìm kiếm nguyên nhân, mà đã bỏ qua tâm lý dân tộc đằng sau bó đuốc diệu hành đó khi ông ta lên vũ đài.

Nếu nói nguyên nhân văn hóa chính trị là sự lựa chọn lịch sử của tầng diện ý thức, vậy thì nguyên nhân tâm lý văn hóa lại là hiệu ứng lịch sử của tầng diện vô ý thức tập thể dân tộc đó. Tựa như Hítler, Mao Trạch Đông đối với văn hóa lịch sử là nhân vật lịch sử như thế này đều có hiệu ứng phủ khắp nhất định cả về không gian thời gian, sự xuất hiện của họ bất kể có bao nhiêu tính ngẫu nhiên, đàng sau chung là vẫn có sự cùng nhận thức tự nhiên của vô ý thức tập thể dân tộc của họ lặng lẹ nhẹ nhàng phát huy tác dụng. Giả như hình ảnh giữa Hitler với nhân vật anh hùng trong một chuyện thần thoại Đức không có tính ăn khớp với nhau, cho dù ông ta có bao nhiêu lực kích động cũng không được người Đức tôn sùng là thần minh. Cùng đạo lý như vậy, Mao Trạch Đông bước lên thần đàn, nguyên nhân căn bản nhất là ở sự cùng nhận thức nội tâm của dân chúng TQ bao gồm các lãnh tụ lớn nhỏ Trung Cộng trong đó. Sự cùng nhận thức này với nói đó là sự lựa chọn của lý tính, càng không bằng nói là sự qùi lạy của hạ ý thức. Cũng giống như khi Trung Cộng mới xây dựng đảng, trong đảng nhất trí tiến cử Trần Độc Tú tượng trưng cho cuộc vận động văn hóa mới “Ngũ tứ” làm Tổng Bí thư, về sau các lãnh tụ Trung Cộng tại Hội nghị Tôn Nghĩa đều vô tư đặt hy vọng ký thác vào con người Mao Trạch Đông. Tại Đại hội lần thứ nhất rất sớm Trung Cộng, bất kể Mao Trạch Đông biết ăn biết nói như thế nào, trong con mắt mọi người cũng không đem hy vọng đặt vào thân ông ta; nhưng trong thời gian Hội nghị Tôn Nghĩa, mọi người ngoài lựa chọn Mao Trạch Đông ra, tuyệt đối không thể lại tìm lại Trần Độc Tú một thư sinh như thế làm lãnh tụ. Lúc mới đầu tiến cử Trần Độc Tú, là vì mọi người nhất trí cho rằng, họ cần một lãnh tụ văn hóa. Còn lúc này chọn Mao Trạch Đông, là vì trong hạ ý thức của họ ý thức mạnh mẽ rằng, chỉ có Mao Trạch Đông mới có thể đảm đương được Sơn đại vương (Vua núi lớn) của đảng Tỉnh Cương Sơn của sự nghiệp đảng CSTQ đã rơi xuống đám cỏ thành giặc.

Trong thời khắc này, vũ đài văn hóa chính trị của đảng CSTQ, trải qua từ “Thanh niên mới” của Bắc Đại chuyển đến trường Quân sự Hoàng Phố, lại từ trường Quân sự Hoàng Phố mở rộng đến phong trào nông dân trong nông thôn và bãi công công nhân trong thành phố, cuối cùng trải qua các cuộc bạo động, đã tìm được nơi qui tụ trong núi cao rừng hiểm, làm giặc để sống. Tương ứng với đó, nhân vật anh hùng trong tim mắt họ, cũng từ Trần Phan Lý Ưng của đảng bị cấm cuối Hán hoặc người đảng Đông Lâm cuối Minh, 7 quân tử của biến pháp Mậu Tuất, Từ Tích Lân, Thu Cận của cuối Thanh đầu Dân quôc, thậm chí từ tiền bối Tăng Quốc Phan mà rất sớm Mao Trạch Đông nghiêng lòng, đã trở thành đám cỏ kiểu Trần Thắng Ngô Quảng, và những loại đám cỏ này hễ thành sự sẽ trở mặt ngay diễn biến thành Chu Nguyên Chương, Hồng Tú Toàn đế vương. Rất khó nói cuối cùng đây là bi kịch lịch sử của đảng CSTQ, hay là kết quả lôgích tất nhiên của nó, nhưng lịch sử, đúng là phát sinh như vậy, được viết ra như vậy.

Bí mật của lịch sử, nói toạc ra là giản đơn như vậy. Bởi vì mọi người cứ nói chủ nghĩa Lênin của văn bạch thoại hiện đại, ai cũng chẳng ý thức được rằng, nhân tố tâm lý văn hóa đằng sau của một sự lựa chọn lịch sử này, ai cũng chẳng ý thức được rằng, Mao Trạch Đông cùng tín đồ của ông nói là Mác, không bằng nói là Tần Thủy Hoàng cộng với Chu Nguyên Chương, hoặc giả là bản Hán ngữ hiện đại của “Tam quốc diễn nghĩa” cộng với “Thủy hử truyện”. Nhưng trong hạ ý thức, không nói mọi người đều rõ, nhất là một số tướng lĩnh Hồng quân tràn đầy khí thế giặc cỏ, càng là coi sự lựa chọn thế này là thiên kinh địa nghĩa. Nói cho cùng, trong đảng Trung Cộng, nhất là trong tướng lĩnh Hồng quân, có mấy người thực sự đọc qua trước tác của Mác ? Có ai trong chiều sâu nội tâm thực sự coi học thuyết của Mác là một cái gì đó ? Tựa như năm đó tướng sĩ Thái bình Thiên quốc đi theo Hồng Tú Toàn khởi nghĩa, chẳng có ai đã từng nghiên cứu sâu Thiên phụ Thiên quốc là chuyện gì.

Trung Cộng và Hồng quân của nó đi từ Tỉnh Cương sơn đến Diên An, căn bản chẳng có công sức nghĩ kỹ quan hệ giữa Mao Trạch Đông với Mác. Điều quan trọng là, lời nói của Mao Trạch Đông, thông tục rõ ràng, hình ảnh sinh động, chẳng có ai nghe mà không hiểu. So với dưới đây, đại loại giá trị thặng dư của Mác nói, với các anh em đi dép cỏ, vào sinh ra tử trong khói lửa chiến tranh, thực sự cách quá xa quá xa với thực tại. Cho dù các lãnh tụ phong trào công nhân lúc đó, chạy đến các vùng mỏ khai sáng hoặc giả nói là xúi giục làm phản, cũng phải bắt tay từ kết cấu chữ Hán của hai chữ “công nhân”. Nói cái gì về hai chữ “công nhân” cộng lại, là biến thành một chữ “Thiên” v.v…(chữ Công  | ở trên, chữ nhân  /\  ở dưới, thành chữ Thiên     .) Những lãnh tụ Công Vận này cũng không ngu đến mức giảng giải về “Tư bản luận” của Mác đối với công nhân vào lúc này.

 

Đây hầu như là một bi kịch, nhưng kỳ thực lại là một hỷ kịch, trong cốt tủy vẫn là một náo kịch. Mao Trạch Đông học được cách ăn nói từ trong phong trào văn bạch thoại “Ngũ tứ”, khi cuối cùng chinh phục được các đồng chí của ông, đã lặng lẹ nhẹ nhàng biến văn bạch thoại thành ngôn từ đế vương kiểu Mao Trạch Đông. Ngôn từ đế vương này lấy ngôn từ bạch thoại hiện đại trôi chảy, kỳ dị đa biến, đem nguyên lý chủ nghĩa Mác êm ả phiên dịch thành như “Thủy hử truyện”. Ví như, phá nhà cướp của, gọi là “đánh thổ hào, chia ruộng đất”; đánh vào kinh thành, cướp đoạt ngôi vị của lão Hoàng đế, gọi là “xây dựng nhà nước chuyên chính giai cấp vô sản lấy liên minh công nông làm cơ sở”. Cứ như vậy v,v… mà chuyển ngôn từ “Thủy hử truyện” thành ngôn từ nguyên lý chủ nghĩa Mác.

Đương nhiên, ngược lại mà nói, từ đó cũng có thể thấy sự hạn chế lịch sử của phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ”, chỉ trong dân chúng, hơn nữa chủ yếu là trong tầng diện ý thức của phần tử tri thức đã làm một lần khai sáng, và cũng không đi sâu vào vô ý thức tập thể của cả dân chúng. So với sự ảnh hưởng của loại tiểu thuyết như “Tam quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử truyện” đối với dân chúng TQ, phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” trong tâm lý văn hóa của cả dân chúng TQ, chỉ là vạch ra một vết hằn nông cạn mà thôi; mặc dù vậy, tôn chỉ dân chủ khoa học của nó, về sau còn bị Mao Trạch Đông không tiếng không tăm thu thu dấu dấu đổi thành cái gọi là “phản đế phản phong kiến”, nghe vào hình như cái gọi là chủ nghĩa đế quốc từ ngoài đến, chứ không phải là những chủ nghĩa Lênin hoặc giả là chủ nghĩa Stalin của Liên Xô đã cản trở sự tiến bộ của TQ, tựa như là Quân vương cổ xưa xa xăm, chứ không phải các lãnh tụ cách mạng với giấc mộng Hoàng đế hiện đại đang làm đủ thứ hình sắc hiện tại đang cướp đoạt giang sơn.

Bài viết đến đây, mọi người có thể hiểu rõ, tại sao là Mao Trạch Đông, chứ không phải là Chu Ân Lai trở thành lãnh tụ như mọi đế vương, bởi vì Mao Trạch Đông đến từ vô ý thức tập thể của cả dân tộc (tuy nó chấn thương chứ không phải nó là khởi nguồn), còn Chu Ân Lai bởi vì tầm nhìn văn hóa nông cạn và năng lực nói năng nghèo nàn, cuối cùng chỉ có thể đóng vai trò đại loại như Gia Cát Lượng đã từng đóng vai trò thần tử trước mặt Lưu A Đấu. Chu Ân Lai nho nhã so với Mao Trạch Đông phóng khoáng như ngựa trời bay trên không trung, hiện rõ là không có văn hóa. Đây tuy cũng là nói Chu Ân Lai không hiểu văn hóa, không bằng nói Chu Ân Lai không có được cái ý nghĩa trọng yếu văn hóa lịch sử thâm sâu của văn bạch thoại “Ngũ tứ” và của phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” như Mao Trạch Đông. Thế nên, cái khẩu hiệu “đả đảo Khổng gia điếm”, rơi vào thân Chu Ân Lai sẽ thành như Gia Cát Lượng khom lưng lùi xuống ở vị trí thần tử. Còn Mao Trạch Đông xưa nay không coi Nho giáo của Khổng tử là gì, đường hoàng gắn với phong cách “Thủy hử truyện”, ôm chặt với kỹ xảo “Tam quốc diễn nghĩa”, với văn bạch thoại một tay vùng vẫy biến hóa vô cùng, làm mây làm mưa, đoạt lấy quyền lực ngôn từ của chủ nghĩa Mác Lênin, từ đó bù đắp một cách thành công khoảng trống lịch sử văn hóa TQ sau khi “Khổng gia điếm bị đánh đổ.” Mấy câu cuồng thi trên đầu ông ta, “Câu vãng ai, số phong lưu nhân vật, hoàn khán kim triều” (Ôi ! toàn bộ đã qua, kể ra, nhân vật phong lưu, còn xem triều đại hiện nay) không phải là lời nói suông, cũng không phải là manh ngôn.

Diễn biến tâm lý văn hóa từ “đảng Ngũ tứ” đến “đảng Sơn”

Nên nói rằng, Mao Trạch Đông không phải là khi mới bắt đầu đã nghĩ kỹ đến vai trò lịch sử của mình, đã ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình. Từ rất sớm Mao Trạch Đông là một thanh niên nhiệt huyết của chủ nghĩa lý tưởng phi thường. Sự cấp tiến tư tưởng của ông, cái độc đáo của con mắt soi xét lịch sử của ông, cái tinh tường nắm chắc đối với dòng mạch lịch sử của ông, cho dù ngày nay xem lại, vẫn y như thế khiến mọi người kinh ngạc. Ông ta từ khi mới bắt đầu là tôn thờ Tăng Quốc Phan là Thầy dẫn đường tinh thần của mình, rất cẩn thận chăm chút chép viết nhật ký Họ Tăng. Ông nhiệt tình hăng say chỉ điểm giang sơn trong “Thủy hử truyện”, sôi nổi mạnh mẽ, lấy thiên hạ là trách nhiệm của mình. Ông cao giọng hô to TQ đi theo chế độ Liên bang, lúc đó gọi là đường lối liên tỉnh tự trị, hơn nữa trình bày hết sức rõ ràng tầm quan trọng của độc lập HồNam và tính tất yếu tự trị liên tỉnh của nó. Tầm cao tư tưởng của Mao Trạch Đông trong thời đại thanh niên, không chỉ đến cả một đời sau này của ông đã bao lần đều không thể đạt tới, cho dù người cùng thời đại với ông, thậm chỉ cả đến những người về sau của ông, cho đến ngày nay chưa từng đi tới.

Các lãnh tụ của văn hóa mới “Ngũ tứ”, có lẽ cũng chưa có ai từng nghĩ tới, trong thời đại đó của họ, nhân vật có sức soi xét lịch sử văn hóa nhất, đương nhiên là một thanh niên Hồ Nam tốt nghiệp trường Sự phạm Trường Sa. Những nhân vật lãnh tụ này có thể không thật hiểu rõ định nghĩa của văn hóa cũng không định nghĩa trong sách vở, hoặc là nói đọc được từ trong ghi chép văn tự, còn định nghĩa đối với lĩnh hội của văn hóa trong sinh mệnh cá thể và nhìn thấu đối với lịch sử. Nếu nói bối cảnh văn hóa cá nhân của lọai gia thế truyền thống có học, hiển nhiên Hồ Thích cao xa hơn nhiều Trần Độc Tú. Nhưng nếu nói thể nghiệm cuộc sống cá nhân với văn hóa và lịch sử, từ đó khơi dậy nhiệt tình hăng hái, sức hiệu triệu, v.v…, Hồ Thích lại kém xa Trần Độc Tú. Giả như phong trào văn bạch thoại chỉ dừng ở “cải lương văn học” một cách bình ổn của Hồ Thích, mà không có “Bàn về cách mạng văn học” của Trần Độc Tú, vậy thì cuộc biến cách về ngữ ngôn rất có thể bị hạn chế trong cái vòng phần tử tri thức nhỏ hẹp, khó trở thành phong trào văn hóa mới vô cùng sôi động và có ảnh hưởng sâu xa khắp trong thiên hạ.

Thứ trương lực văn hóa, năng lượng văn hóa này được thể hiện ra từ sinh mệnh cá thể, thông thường là cội nguồn của lực sáng tạo giàu nhất lịch sử. Lực sáng tạo như thế này, được trao cho sức sống thời kỳ sớm nhất của đảng CSTQ, mà trước nay chưa từng có. Cho dù nếu theo năng lượng văn hóa của sinh mệnh cá thể để vẽ ra, trở thành tiêu chí lịch sử của trục tọa độ văn hóa của sinh mệnh, chỉ có hai nhân vật, một là Trần Độc Tú, một là Mao Trạch Đông; nhưng năng lượng lịch sử văn hóa của hai nhân vật này, bất luận là về thời gian hay không gian đều có lực che phủ mà người văn hóa bình thường không có được. Đồng thời, cũng chính là hai nhân vật này, đã đánh dấu hai giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác nhau của đảng CSTQ, hai thớ đất chất văn hóa hoàn toàn khác nhau.

Đảng CSTQ lấy chủ nghĩa Mác Lê làm giáo lý, về kết cấu cụ thể của văn hóa đảng CSTQ vừa khớp với phong trào văn hóa mới TQ lấy Hán ngữ bạch thoại hiện đại làm hình thức ngôn ngữ, hơn nữa lấy Trần Độc Tú và Mao Trạch Đông làm tiêu chí, đã trải qua hai lần tạo dựng tâm lý văn hóa có tính lịch sử. Một lần là tạo tác ra kiểu “Ngũ tứ” lấy Trần Độc Tú làm tiêu chí, một lần là “chiếm núi làm vua” lấy Mao Trạch Đông làm chủ đạo. Toàn bộ lịch trình đường tâm văn hóa của đảng CSTQ kỳ thực rất giản đơn, trước tên là đảng “Ngũ tứ” lấy Trần Độc Tú làm lãnh tụ, sau đó là đảng Núi Tỉnh Cương, hoặc gọi là “đảng Sơn” lấy Mao Trạch Đông làm lãnh tụ, cuối cùng là đảng rổng tim, hoặc gọi là “Không đảng” của thời đại sau Mao. Giả sử có thể vẽ một đường cong lịch sử, vậy thì từ đảng “Ngũ tứ” đến “đảng Sơn”, là thời kỳ đi lên; từ “đảng Sơn” đến “đảng Không” là thời kỳ đi xuống của đảng. Thời kỳ ban đầu đảng CSTQ xuất phát từ “Ngũ tứ”, đối với học thuyết chủ nghĩa CS mà họ tin thờ, rõ ràng là rất xa lạ. Sau này, khi Mao Trạch Đông kể lại người TQ đi tìm chân lý, vung mạnh ngọn bút viết rằng “một tiếng pháo cách mạng Tháng Mười nổ vang đã đem lại cho người TQ Chủ nghĩa Mác Lênin”, quả thực đó là vừa khoa trương vừa nông cạn. Chủ nghĩa do cách mạng bạo lực đem đến, chỉ là một yếu tố kích phát, hoặc là nói một thứ kích tố tâm lý dẫn đến cuồng nhiệt cách mạng, tựa như một thứ thuốc cao dùng bôi bên ngoài.

Điều mà khơi dậy về mặt tinh thần của người CS TQ thời kỳ đầu không quản thân mình, xông vào nơi nước sôi lửa bỏng như vậy, không phải là chủ nghĩa, mà là truyền thống nhân văn, nguồn cội sâu xa nhất của văn hóa TQ luôn chảy trong dòng máu phần tử tri thức TQ. Thứ truyền thống văn hóa này không thấy kinh truyền, không thấy trong 24 pho sử, càng không thể đọc thấy trong các thứ diễn nghĩa, mà là câu chuyện như thần thoại ẩn chìm trong “Sơn hải kinh”. Vô luận là tinh thần cao cường, là khí khái bốc trời, hay là phong thái cao sang như chim Tinh Vệ, khí độ chống trời như thần Nữ Oa, mỗi một nhân vật, mỗi một câu chuyện đều hiện rõ khí chất tinh thần chân bản nhất của dân tộc Trung Hoa. Diễn nghĩa sử kinh đều là những câu chuyện thần thoại được viết ra trên bình diện ý thức, ngôn từ của tầng diện ý thức, chỉ có điều không biết tác giả là ai, mới là hiện rõ sinh động vô ý thức tập thể của cả dân tộc. Từ trong diễn nghĩa sử kinh nhiều nhất chỉ có thể đọc được lịch sử, hơn nữa còn là vì người con trai xấu xí mà viết, vì người thắng lợi mà viết, duy chỉ có như thần thoại trong “Sơn hải kinh”, con người mới có thể đọc ra được toàn bộ linh hồn dân tộc.

Giống như tác phẩm văn học kinh điển, thần thoại đó là giấc mộng dân tộc, hơn nữa còn muốn bản chân hơn so với bất kỳ tác phẩm văn học nào. Bởi vì tính chất vô ý thức tập thể này của thần thoại, bất cứ hình thái ý thức nào, bất cứ ngôn từ quyền lực nào và quyền lực ngôn từ nào, đều không cách gì che đậy nó được. Khi Khổng tử phối hợp với Chu Công năm đó đã dựng lên thể chế chuyên chế tập quyền, sau khi xây dựng ngôn từ và quyền lực ngôn từ lịch sử  Chu – Khổng, ngôn từ chuyên chế của họ càng không cách gì che lấp được, như những câu chuyện thần thoại của “Sơn hải kinh” và cả truyền thống nhân văn của nó.

Bất kể giáo lý Nho gia xâm chiếm ý thức con người như thế nào, thậm chí bào mòn hoặc là gây hại đến lĩnh vực vô ý thức của con người, chế tạo ra một thứ mà Spin-khơ-lây gọi là giả tượng lịch sử kiểu ngụy tạo, nhưng cũng không thể thay thế vô ý thức tập thể của cả dân tộc.

Chính vì vậy, từ trong vô ý thức tập thể đã bộc phát ra năng lượng văn hóa, mỗi lần nối tiếp mỗi lần phát triển rực rỡ trong lịch sử TQ. Đảng Cố cuối Hán cũng thế, người đảng Đông Lâm cũng thế, các quân tử Mậu Tuất cũng thế, chí sĩ cách mạng cuối Thanh đầu Dân quốc cũng thế, người đảng CS thời kỳ ban đầu cũng thế, bất kể họ tuyên bố cái gì của họ tin thờ, cái kế thừa trong cốt tủy lại vừa khớp với thứ huyết thống văn hóa trong thần thoại “Sơn hải kinh”.

Trên con người họ, chung là người ta có thể thấy các hình ảnh cao cường, ngút trời. Trên con người họ, người ta liên tiếp nhiều lần hiểu rõ được nguyên khí văn hóa TQ, hiểu rõ tinh thần nguyên thủy của thứ văn hóa TQ này là tự do nhất, mạnh mẽ nhất, giàu tình cảm nhất, có sức sáng tạo sinh mệnh nhất. Đây là nguyên nhân căn bản và bí mật nhất là tại làm sao văn hóa TQ trải qua bao đời mà không suy giảm.

Chính là từ tinh thần nguyên thủy này, tuyệt không phải vì Đạo Khổng Mạnh và giáo lý Nho gia của họ, văn hóa TQ mới có được sự sinh tồn mãi mãi một cách ngoan cường trong đêm dài lê thê chuyên chế. So với tính nguyên thủy và tính chân bản này của văn hóa TQ, Khổng Nho chẳng qua là một khúc xen cài trong lịch sử văn hóa dân tộc. Có thể nói, từ rất sớm trước phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” đã vì trải qua phục hưng văn nghệ kiểu TQ từ Thiền Tông đến “Hồng Lâu mộng” mà mặc nhiên phai màu. Đương nhiên, đây là một câu chuyện khác, để bài viết khác nói kỹ hơn.

Hiểu rõ được huyết mạch văn hóa truyền thống này được kế thừa trong tinh thần phong trào văn hóa “Ngũ tứ” và người đảng CS TQ lúc ban đầu, người ta có thể phát hiện, nghiên cứu học thuật trước đây đã tập trung quá nhiều vào bàn thảo ở tầng diện ý thức, đầu tư lượng lớn suy tư vào sự dị đồng của các loại chủ nghĩa, đã bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử đã làm về tầng diện vô ý thức tập thể của tâm lý văn hóa dân tộc, từ đó dẫn đến các câu chuyện lịch sử có liên quan với “Ngũ tứ”, liên quan với đảng CSTQ, v.v… khó triển khai trên tầng diện văn hóa. Chẩn trị bệnh án thần kinh của cá nhân một người, cần sự phân tích giải mộng và tinh thần của bác sĩ thần kinh học Sigmund Freud. Chẩn đoán thần kinh của cả dân tộc xem có phải là đã sinh bệnh, là phải đi sâu vào vô ý thức tập thể của dân tộc này, đi sâu vào vô ý thức tập thể được chiết xạ từ trong những câu chuyện thần thoại và kinh điển văn học. Cái gọi là hiện tượng Mao Trạch Đông, trên thực tế vẫn là một thứ hiện tượng bệnh lý của tâm lý văn hóa dân tộc, căn bệnh của nó là ở làm tổn thương vô ý thức tập thể của dân tộc Trung Hoa đã sụt giảm từ Tống, Minh. Sự tranh chấp rất nhiều chủ nghĩa trong văn hóa lịch sử chính trị TQ thế kỷ 20, đều là mây khói lướt qua trước mắt mà thôi. Điều mà nằm sâu trong tâm lý văn hóa đã ảnh hưởng đến lịch sử, vẫn là cái gien văn hóa cộng đồng đôi bên, hoặc là nói cùng bị chấn thương tâm lý.

Bởi cùng huyết thống văn hóa, giữa các nhân vật lãnh tụ “Ngũ tứ” lúc đó có sự chia rẽ về chủ nghĩa, nhưng không ảnh hưởng đến nhận thức chung của họ về giải thoát giáo điều truyền thống Khổng Nho, cũng không ảnh hưởng đến khát vọng chung và đồng tâm hiệp lực đeo đuổi tự do của họ. Chủ nghĩa do ý thức và lý tính chế tác ra thường chỉ trở thành cái mặt nạ, trở thành cái áo khoác ngoài hoặc đẹp hoặc hợp thời, từ trong vô ý thức tập thể nẩy sinh năng lượng sinh mệnh và tinh thần văn hóa mới là nội dung đích thực và huyết mạch văn hóa lịch sử của một dân tộc, mới là nguyên động lực chân chính của sáng tạo văn hóa và sinh thành lịch sử. Đương nhiên, chủ nghĩa trên tầng diện ý thức và tinh thần nội tại của tầng diện vô ý thức này, luôn luôn sẽ hình thành sự khác nhau của cùng cơ cấu, hoặc tương tự nhau của khác cơ cấu. Chủ nghĩa mà Trần Độc Tú với Hồ Thích tin thờ là khác nhau, nhưng họ đóng vai trò trong phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” lại có phương hướng chỉ đạo văn hóa như nhau. Mao Trạch Đông và Trần Độc Tú, nói đến sự tin thờ của họ là cùng một chủ nghĩa, nhưng nội dung căn bản văn hóa của họ lại khác nhau như trời với đất.

Khác với đảng CSTQ kiểu “Ngũ tứ” của Trần Độc Tú tạo dựng lên, Mao Trạch Đông sau khi làm chủ, đưa đảng CS của ông ta từng bước đã cải tạo thành đảng Hảo hán Lương Sơn, đảng Tỉnh Cương sơn, từ đó đã đưa đảng “Ngũ tứ” của Trần Độc Tú biến thành “đảng Sơn” kiểu Mao. Nhìn bề ngoài, về chủ nghĩa tin thờ và phương thức ngôn từ của “đảng Sơn” với “đảng Ngũ tứ” chẳng có gì là không giống nhau, nhưng trong cốt tủy, trên tầng diện tâm lý văn hóa, tầng diện vô ý thức tập thể của nó, hai bên là hoàn toàn khác nhau.

Cơ sở tâm lý văn hóa của “đảng Sơn” kiểu Mao, vừa không phải đến từ truyền thống tinh anh sĩ đại phu như Trần Độc Tú, càng không phải xuất ra từ tinh thần cội nguồn văn hóa như “Sơn hải kinh”, mà là đến từ làm thương tổn vô ý thức tập thể được thể hiện ra trong tiểu thuyết diễn nghĩa đại loại như “Tam quốc diễn nghĩa”, “Thủy hử truyện”. Loại tiểu thuyết này phần lớn đều được hình thành trên cơ sở lời thoại gốc, có khá nhiều người nghe người đọc. Hoặc là nói, bản thân loại tiểu thuyết này là đến từ nhu cầu tâm lý của người nghe.

Từ niên đại hình thành loại tiểu thuyết này, tức là 3 triều đại Tống, Nguyên, Minh để xét, không cần nhắc đến “Sơn hải kinh” như thần thoại đã trở thành ký ức xa mờ từ rất lâu rồi, cho đến khí khái của tinh anh đảng Cố cuối Hán, phong cốt như Kê Khang (nhân vật trong Tam quốc diễn nghĩa thời Ngụy) thời đại Ngụy Tấn, gương mặt văn nhân trong “Thế thuyết Tân ngữ” (ghi những chuyện về các nhân văn, học sĩ từ cuối Đông Hán đến Đông Tấn do Lưu Nghĩa Khánh biên soạn), tình cảm mạnh mẽ hào hùng trong thơ biên trại thời thịnh Đường, đều đã trở thành chuyện xa xưa như mây khói.

Một mặt là dân tộc du mục phương Bắc lần này đến lần khác xâm nhập, chinh phục và chiếm lĩnh dã man, mặt khác là càng ngày càng chìm đắm vào phong khí đời sống thế tục hàng ngày và tình cảm quấn quýt với con cái triền miên không dứt. Hai mặt hình thành sự đối chiếu tương phản hết sức cổ quái, nhưng lại cực kỳ mãnh liệt. Từ Hoàng cung đến thôn dã, từ miếu đường đến giang hồ, chí khí kiên cường của thời kỳ Hán Đường, đã bị tình cảm yếu đuối của niên đại Tống Minh thay thế. Đại trượng phu nam tử Hán không nên đi làm lính, mà lý đương nhiên là lo chuyện yêu đương. “Sông lớn chảy về đông, nhân vật tài ba tựa làn sóng tận ngàn xưa” đã thành tiếng vọng của lịch sử, “bờ dương liễu, gió ban mai, trăng tàn” mới là thời thượng từ Hoàng đế đến thư sinh cùng đeo đuổi.

Sự suy thoái của khí tiết anh hùng này, một mặt đã tạo nên lề thói xã hội lấy lời nói tình nghĩa làm chính, hiện rõ càng có nhân tính, mùi vị tình người, mặt khác cũng dẫn đến con người ngày càng không muốn đánh trận, ngày càng có khuynh hướng cổ vũ người khác làm anh hùng, cổ vũ người khác chống đỡ cường địch, nói giản đơn là, cổ vũ người khác yêu nước đi, đánh trận đi (tham khảo trong phần Lời tựa của “Bàn về lịch sử cuối cận đại Trung Quốc”).

Cái gọi là chủ nghĩa yêu nước có sắc thái đội đứng ngoài cổ vũ phong trào rõ rệt. Người làm thơ yêu nước không cần có mặt tại chiến trường để chứng minh mình nhiệt tình yêu nước, còn những người đánh trận trên chiến trường lại vị tất có năng lực dùng thi ca để bày tỏ nhiệt tình yêu nước của mình. Ngôn từ yêu nước và hành vi yêu nước ngày càng tách rời nhau, yêu nước cuối cũng trở thành sự việc không liên quan đến mình, biểu diễn tình cảm mạnh mẽ treo trên cao. Tâm lý chủ nghĩa yêu nước và văn học chủ nghĩa yêu nước kiểu đội cổ vũ này, lại ngược lại khiến con người ngày càng nhút nhát, ngày càng u ám. Lại cộng thêm nhằm vào Lý học (một môn học dự báo) Tống Minh ứng vận phong khí thế tục mà sinh ra ngày càng chuyên chế, ngày càng hung hăng về quyền lực tiếng nói và ý thức hệ, đã gây nên sức ép tâm lý ngày càng nặng nề đối với con người, dẫn đến toàn bộ vô ý thức tập thể bị tổn thương mà trước nay chưa hề gặp.

Thứ tổn thương này thông qua đọc chuyện nghe kể chuyện lần này đến lần khác, hai chiều trao đổi, chuyển ý cho nhau, biến thành các bộ tiểu thuyết diễn nghĩa nối tiếp nhau. Như chuyện Nhạc Phi, chuyện Tướng Dương gia, chuyện Bảng Phong thần, nhất là chuyện Tam Quốc và chuyện Thủy hử. Những chuyện này không ngừng kể và nghe đi nghe lại gần như bệnh lý, tựa như thủ dâm tinh thần và buông thả tâm lý năm này qua năm khác, dẫn đến tinh thần con người ngày càng ủ rũ, tâm lý ngày càng không bình thường. Còn những tiểu thuyết này hễ sau khi hình thành lại quay ngược lại lần này đến lần khác đắp xây lên cả dân tộc, nhất là thành phần tri thức thành thị nông thôn TQ loại II loại III.

Thứ khỏe mạnh cường tráng trong “Sơn hải kinh ” trước đây, đến trong “chuyện Thủy hử” đã biến thành ngang ngược và cường bạo; cái tốt đẹp của Nữ Oa vá trời và Tinh Vệ lấp biển như trong “Sơn hải kinh”, trong “Diễn nghĩa Tam quốc” hoàn toàn đã bị tâm địa đen tối và quyền mưu dạ sói thay thế. Lấy cách nói của “Hồng Lâu mộng”, thủy tính của nữ nhi, linh khí của nữ nhi, tuyệt đối không nhìn thấy trong Diễn nghĩa. Trong mỗi bộ tiểu thuyết diễn nghĩa sói nằm trong đó, hoàn toàn là bùn nhơ của người con trai, ô đục của người con trai. chẳng phải người con gái như cùng bị yêu ma hóa, yêu tinh hóa trong “Phong thần diễn nghĩa” và “Tam quốc diễn nghĩa”, tức là bị người con trai sát hại một cách khoái trá, một nhát dao vung lên chặt làm đôi như trong “chuyện Thủy hử”.

Thế nhưng, lại chính là tiểu thuyết làm ra dưới những dơ dáy như thế, vậy mà đã thành sách đọc bán chạy trải qua mấy trăm năm không suy giảm, già trẻ thấy thích, nhã tục cùng khen. Cả dân tộc suy đồi về tinh thần và văn hóa và vô ý thức tập thể của cả dân tộc bị tổn thương, là nhân quả của nhau, tuần hoàn ác tính lẫn nhau; ngay như tác phẩm nổi tiếng thời đại “Hồng Lâu mộng” ra đời cũng đã từng là việc vô bổ.

Vì thế, từ một ý nghĩa nào đó mà nói, sinh ra của Mao Trạch Đông là một thứ chứng bệnh lịch sử tổn thương vô ý thức tập thể cả dân tộc phát sinh. Tâm lý âm ám  lộ ra từ trong tiểu thuyết diễn nghĩa và triết học lưu manh và văn hóa côn đồ được xây dựng trên cơ sở tâm lý này, hầu như toàn bộ đều do diễn đạt bằng lời văn bạch thoại của Mao Trạch Đông đã thành văn hóa Mao ngữ, lấy triết học đấu tranh làm hạt nhân, hoặc lấy cách nói trước đây, gọi là Tư tưởng Mao Trạch Đông.

Năng lực văn bạch thoại của Mao Trạch Đông, không ai so được, đưa những thứ thù hận xây dựng trên đố kỵ, vì những thù hận này mà sinh ra bạo lực và tất cả bạo hành, gồm cả báo thù, chém giết, cướp bóc trong đó, nằm dày đặc trong tất cả tiểu thuyết diễn nghĩa, được nâng lên thành lý luận đấu tranh giai cấp của Mao, ngang nhiên hô lên “đấu tranh giai cấp, một số giai cấp đã thắng lợi, một số giai cấp đã bị tiêu diệt, đây là lịch sử”. Khác với tạo phản rải rác ở mọi nơi, tạo phản của Mao Trạch Đông đã nhờ vào lý luận chủ nghĩa Cộng sản phương tây, đã chiếm dụng thành quả lịch sử của văn bạch thoại “Ngũ tứ”, đã hết sức thành công chỉnh hợp ra cả một bộ ngôn từ lưu manh và văn hóa côn đồ được tổng kết từ trong tiểu thuyết diễn nghĩa.

Hạt nhân văn hóa côn đồ mà tiểu thuyết diễn nghĩa trưng ra chính là sùng bái quyền lực. Thứ sùng bái quyền lực này lấy dục vọng làm lý do động lực, lấy mỹ nhân và giang sơn làm mục tiêu tranh đoạt, lấy mọi thủ đoạn để đạt mục đích làm đặc trưng. Khí độ anh hùng trong truyền thống  “Sơn hải kinh” như quân tử có việc không làm, quân tử có việc phải làm, quân tử biết việc đó không thể làm mà vẫn làm, hoàn toàn bị đại loại quân tử dạ sói không có việc gì là không làm, không ác độc không là trượng phu thay thế. “Tam quốc diễn nghĩa” theo nguyên tắc sùng bái quyền lực và không ác độc không là trượng phu thế này, đã đúc tạc ra gian hùng loạn thế kiểu Tào Tháo. “Tào Tháo” diễn nghĩa với Tào Tháo trong lịch sử với hình tượng Tào Tháo trong thi ca của bản thân Tào Tháo là hoàn toàn khác nhau, tập trung kẻ dã tâm, kẻ âm mưu vào một con người, vì quyền lực không có thứ gì là không dùng đến cùng cực.

Hết sức buồn cười là, Mao Trạch Đông về sau lại trùng khớp theo hình tượng này, đã hoàn thành tạo dựng hình tượng lãnh tụ vĩ đại như thế của ông ta. Mao Trạch Đông không chỉ đã trực tiếp thể hiện mọi ý nghĩ trong lòng vào trong thơ ca của mình, đem giang sơn ví như mỹ nhân, không chút xấu hổ cao giọng:“ Giang sơn như thử đa kiều, dẫn vô số anh hùng cạnh chiết yêu”(Núi sông kiều dỉễm biết bao, anh hùng bị cuốn tranh vào ôm lưng); hơn nữa còn đưa sùng bái quyền lực nâng lên thành pháp bảo thứ nhất trong 3 pháp bảo lớn để ông tranh đoạt giang sơn, tức là chuyên chế lãnh tụ với danh nghĩa “lãnh đạo của đảng”. Bởi vì cái gọi là “lãnh đạo của đảng” là một khái niệm hết sức hàm hồ, vừa có thể giải thích là do đảng lãnh đạo, lại có thể giải thích là lãnh tụ của đảng lãnh đạo. Giả sử không có lãnh tụ và tổ chức cụ thể, đảng chẳng qua là một khái niệm trống rỗng. Cái ẩn chứa thực sự đằng sau cái khái niệm này, chính là chuyên chế tập quyền quyền lực cao hơn tất cả, là tiếng nói quyền lực cao hơn mọi sùng bái quyền lực.

Pháp bảo thứ hai trong 3 đại pháp bảo của Mao Trạch Đông là “đấu tranh vũ trang”, chính là một đặc trưng khác của tiểu thuyết diễn nghĩa, bạo lực giải quyết tất cả, chân lý đẻ ra dưới nắm đấm, Mao ngữ gọi là “chính quyền đẻ ra từ họng súng”. Vô luận là “Tam quốc diễn nghĩa” hay là “Thủy hử truyện” đều không tách rời với nêu cao và sùng bái bạo lực. Như các vụ Quan Công qua 5 cửa chém 6 tướng, Võ Tòng đánh hổ giết chị dâu, Dương Hùng giết vợ giết a hoàn, Lý Quì càng hung, vung búa “xếp đầu mà chặt”. Chung là, ai ngang ngược, kẻ đó anh hùng, ai nhu nhược, kẻ đó xúi quẩy. Năng lực bạo lực cao thấp, trở thành chuẩn tắc đo lường có anh hùng hay không. Loại anh hùng này với cao cường, ngất trời trong “Sơn hải kinh” dù cho là cùng công sức, nhưng đều đã từng đi cách nhau rất xa, gió ngựa trâu không thể bì với nhau về tốc độ. Anh hùng trong “Sơn hải kinh” không sợ cường bạo, anh hùng trong tiểu thuyết diễn nghĩa lại tranh nhau để trở thành cường bạo.

 

Cường bạo như thế này, khi vào trong ngôn từ của Mao Trạch Đông, ngoài nhấn mạnh bạo lực đoạt lấy chính quyền ra, sau khi đoạt được chính quyền rồi, còn dùng để ức hiếp và lăng nhục đối với kẻ yếu, đã biến thành lôgích cường quyền là sử dụng bạo lực có lý, của đại loại như lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh và nắm đấu tranh giai cấp là linh nghiệm ngay. Đồng thời với lấy bạo lực để cường hóa chức năng chuyên chính của bộ máy quốc gia mà trước nay chưa từng có, Mao Trạch Đông còn mỹ từ hóa việc người với người tàn sát lẫn nhau thành sóng to gió lớn của quần chúng đấu tranh, hơn nữa còn bức ép toàn thể nhân dân TQ nhìn thấy tận mắt và lĩnh giáo từ cảnh tượng cơn gió bão lớn của cả xã hội về đấu tranh giai cấp tàn bạo mà trước đây chưa hề xẩy ra. Đây quả thực là hễ khi lưu manh đại đùa dỡn, lời nói nào nói ra đều hết sức hình tượng sinh động.

Trong tiểu thuyết diễn nghĩa còn có một nguyên tắc băng nhóm của kéo bè kết phái, trong từ điển của ngôn từ Mao Trạch Đông, từng từ lý luận của ông ta “ai là kẻ thù của chúng ta, ai là bạn bè chúng ta”, trực tiếp hóa thành pháp bảo thứ 3, “Mặt trận thống nhất”. Pháp bảo này của Mao Trạch Đông, có thể nói là vừa tổng kết đủ thứ nguyên tắc tổ hợp của bang hội giang hồ, vừa tập hợp đại thành kẻ âm mưu và kẻ tung hoành trong lịch sử TQ. Từ hợp tan tan hợp dọc đất ngang trời thời kỳ Xuân Thu Chiến quốc đến “kết nghĩa vườn đào” trong “Tam quốc diễn nghĩa”, rồi đến nghĩa khí giang hồ trong “Thủy hử truyện”, các thứ nguyên tắc băng nhóm của kéo bè kết phái, đại loại như khiêu khích ly gián, lợi dụng lẫn nhau, toàn bộ đều được lý luận Mặt trận thống nhất của Mao Trạch Đông phát huy đến độ điêu luyện.

Ý nghĩa cốt yếu của nguyên tắc băng nhóm ở chỗ, ngoài chịu trách nhiệm đối với lợi ích của băng nhóm ra, các việc khác làm như thế nào đều coi là hợp nghĩa khí, hợp đạo đức. Ví như, Lý Quì trong Thủy bạc Lương sơn, ngoài 108 anh em của ông ta ra, tính mạng của người khác đều có thể coi là cỏ rác, cho dù sắp đầu mà chặt là xong. Ý nghĩa cốt yếu của nguyên tắc băng nhóm này ở chỗ trong quá trình đấu tranh quyền lực và tranh đoạt giang sơn, người với người ngoài lợi dụng nhau ra, không có quan hệ nào để nói cả.

Cái gọi là Mặt trận thống nhất, chẳng phải là kéo bè kết phái trong giang hồ. Dùng cách nói của Mao Trạch Đông là “ai là kẻ thù của chúng ta, ai là bạn bè của chúng ta, vấn đề này là vấn đề quan trọng đầu tiên của cách mạng. Cách mạng của TQ trước đây, thành quả của mọi cuộc đấu tranh cách mạng đều rất ít, nguyên nhân cơ bản của nó là không đoàn kết được với bạn bè thực sự để đánh lại kẻ thù thực sự.” Ý nghĩa cốt yếu của đoạn lời nói này ở chỗ, tại làm sao kẻ thành công chỉ thưa thớt trong giới giang hồ cỏ dại trước đây, là vì không hiểu được cách sử dụng âm mưu quỉ kế đại loại như lôi kéo vào, lại đuổi cổ ra hoặc nâng đỡ dìu dắt, lại ném vất đi của kéo bè kết phái.

Theo lý luận Mặt trận thống nhất của Mao Trạch Đông, mọi thủ đoạn gián điệp, thủ đoạn đặc vụ, như kế ly gián, kế mỹ nhân, ngụy tạo án cưỡng hiếp, ngụy tạo án tự thiêu, v.v, mọi việc đều có được cách nói đàng hoàng mũ áo. Có việc được coi là kinh nghiệm công tác vùng trắng, có việc coi là chiến đấu trong tim gan kẻ địch, thậm chí đối với đồng chí đồng bọn với mình, cũng dùng thủ đoạn này để giám sát lẫn nhau.

Phương châm cơ bản của Mặt trận thống nhất chẳng phải là đánh bại đối thủ, tiêu diệt đối thủ càng hiệu quả hơn, nói theo lời Mao Trạch Đông để nói, nói Là “Đoàn kết với tất cả lực lượng có thể đoàn kết, cô lập đánh trả một nhóm nhỏ kẻ thù giai cấp”. Rất nhiều nhân sĩ không đảng phái vốn là nằm ngoài phạm vi đấu tranh giai cấp hoặc chuyên chính, hoặc giả cái gọi là nhân sĩ dân chủ, chỉ vì trúng phải duyên cố vòng thòng lọng Mặt trận thống nhất, ai ai cũng biến thành bộ mặt hoàn toàn khác. Những con người này thường là không có tiền, không có thế, nhưng có danh vọng, có ảnh hưởng, nhưng dưới Mặt trận thống nhất của Trung Cộng, họ không phải là “hàng hóa kỳ hạn” găm hàng đợi giá, mà là trở thành “hàng rối” chờ đợi rồi bị lừa phỉnh dụ dỗ làm việc xấu, sập bẫy.

Hàng kỳ hạn cũng thế, hàng rối cũng thế, toàn là trong hạ ý thức lại hy vọng lên giường cùng kẻ chuyên chế, với cái tên đẹp đẽ : Hiệp thương chính trị (tức là trộn cho cái chức Ủy viên chính hiệp kêu keng keng). Điều này nói là người bị lừa bị dụ dỗ quá ấu trĩ, không bằng nói là người đi lừa đi dụ dỗ quá lão luyện.

Chuyên gia Mặt trận thống nhất của Trung Cộng, quá biết nên làm thế nào để tìm được nhược điểm nhân tính của đối tượng dụ dỗ, quá biết nên làm thế nào để lợi dụng nhược điểm nhân tính của người ta, thật là trăm phát trăm trúng, không chút sai lầm. Người bị lừa, bị dụ dỗ, thường là sau khi muốn cùng giường cùng chăn với kẻ chuyên chế, mới biết mình thất tiết bị lừa, hơn nữa hối không kịp, phát hiện lên thuyền giặc dễ xuống thuyền khó.

Tóm lại, lý luận Mặt trận thống nhất của Mao Trạch Đông phát minh ra đã viết lên một trang hoàn toàn mới về thuật đế vương và thuật bang hội trong lịch sử TQ. Điều này mà nói, nhìn số nhân vật phong lưu, đúng là còn phải nhìn thấy triều đại ngày nay. Truyền thống mà Mao Trạch Đông kế thừa, giả như cũng có thể nói là truyền thống, vừa không phải cái gọi là Pháp gia, đương nhiên cũng không phải cái gọi là Nho gia, mà là thứ triết học lưu manh và văn hóa côn đồ trong tiểu thuyết diễn nghĩa từ thời Tống, Minh. Các thứ “anh hùng” trong tiểu thuyết diễn nghĩa, không chỉ so ai càng lưu manh hơn ai trong “Tam quốc diễn nghĩa”, cũng như vậy, so ai càng côn đồ hơn ai trong “Thủy hử truyện”. Tống Giang chẳng qua là muốn trở về với lập trường thư sinh, trở về với truyền thống Nho gia, kết quả lại làm cho trong ngoài không thành người, trong tiểu thuyết bị người hạ độc chết không tính, sau ngàn năm lại bị Mao Trạch Đông định tính là phái đầu hàng. Coi khinh Tống Giang của Mao Trạch Đông với coi thường Khổng Tử của Mao là một chuyện. Trong tim mắt của Mao Trạch Đông, hoặc là chinh phục, hoặc là bị người chinh phục, không có con đường trung gian đại loại điều hòa hoặc thỏa hiệp. Bởi vì thỏa hiệp thường là trên cơ sở hai bên ngang hàng, qua hòa đàm mà đạt được. Trong từ điển của Mao Trạch Đông không có hai chữ ngang hàng, cho dù có hòa đàm, cũng là một thủ đoạn khác của bạo lực giải quyết, gọi là lấy hai tay của cách mạng đối phó lại hai tay của phản cách mạng.

Hòa đàm, thỏa hiệp, thường là sự thông cảm cho nhau giữa các quân tử, đây là điều không thể hòa nhập vào triết học đấu tranh và nhân cách lưu manh của Mao Trạch Đông. Thế nhưng toàn bộ bi ai của người TQ và lịch sử TQ lại vừa đúng ở chỗ, mọi người chung là không tin vào những kẻ chú trọng thực tế như Tăng Quốc Phan, Lý Hồng Chương, mà sùng bái nhân vật hùng hổ khoác lác như Tôn Trung Sơn, Mao Trạch Đông.

Đằng sau đạo lý của “chủ nghĩa Mác” mà Mao Trạch Đông nói, ngàn đầu vạn mối, qui cho cùng, chỉ là một câu nói “tạo phản có lý”, đang ẩn dấu một bí mật của lịch sử TQ, đó là người TQ đúng là thích “tạo phản có lý”, mà từ xưa đến nay không hiểu được “cải cách có lợi”. Trong lịch sử TQ, hễ là lãnh tụ của cải cách, cuối cùng đều không những bị thất bại, mà còn thân tàn danh liệt. Ngược lại, hễ là kiêu hùng tạo phản, dù cho hết sức thô bỉ, cũng vẫn là anh hùng như thường.

Phảng phất thiên tính người TQ không tin vào cải cách từng bước một, mà là thích thú vào tạo phản một cách sảng khoái. Cho nên Mao Trạch Đông tổng kết nói, tạo phản có lý. Điều này, kỳ thực không phải là đạo lý của chủ nghĩa Mác, mà là bí mật tâm lý của dân chúng TQ. Cái vặn vẹo của Mao Trạch Đông ở chỗ, kỳ thực ông ta biết “tạo phản có lý” là lời nói của dân chúng TQ thích nghe, là điều thích biết thích thấy của dân chúng TQ, nhưng ông ta cố ý đem điều này nói thành là đạo lý của chủ nghĩa Mác. Điều này không chỉ vì linh hồn Mác ở trên trời cho là có nghe thấy cũng không cách gì nắm được ông ta, hơn nữa còn là vì ông ta còn có thể mượn vong linh Mác để dọa một tiếng đối với “đảng Sơn” của ông ta và dân chúng TQ dưới sự thống trị của ông ta.

Khi người cộng sản phương tây hô hào dựa vào “Quốc tế ca” có thể tìm được người của mình, trong lịch sử TQ và trên lãnh thổ TQ, mọi người dựa vào “Thủy hử truyện” và “Tam quốc diễn nghĩa” đã tìm được lãnh tụ của mình. Những tiểu thuyết diễn nghĩa được hình thành thời Tống, Minh, hầu như đã thành “Kinh thánh” kiểu TQ. Hầu như mọi người TQ đều tôn thờ thầm lặng trong tim mọi thứ quyền mưu và mọi thứ làm người mà loại diễn nghĩa này đề cao, cái gọi là “Tâm hữu linh” trong lòng có linh cảm, đây cũng coi là một thứ mặc nhiên thừa nhận không cần nói ra giữa người TQ với nhau.

Chính là dựa vào sự ngầm hiểu này, Mao Trạch Đông vào làm chủ đảng CSTQ; cũng là dựa vào sự ngầm hiểu này, Mao Trạch Đông được các đồng đảng đồng chí đồng bọn của ông ta từng bước tôn lên thần đàn. Cái đang tiềm phục đằng sau bài ca tụng “Đông phương hồng, mặt trời lên” đầy khoái cảm sau khi bị cưỡng hiếp, chẳng phải là sự nhận thức chung là đã tìm được chân mệnh Thiên tử. Đây là không nói khắc biết, không cần nói trắng ra mọi người đều rõ cả. Giả như có ai đó không rõ, hãy xem xem “Thủy hử truyện” và “Tam quốc diễn nghĩa” là đủ rõ. Thử nghĩ xem,Võ Tòng chẳng qua là đã đánh chết một con hổ, là được tôn làm anh hùng, có thể tùy ý sát hại đàn bà trẻ con. Lý Quì vì biết rõ đại loại như thế nào là trung với Tống Giang, như thế nào là cúi đầu chịu tội trước Tống Giang, càng là đã thành anh hùng kiểu gương mẫu, cho dù một nhát đấm làm đôi cái đầu trẻ con vô tội cũng vẫn là anh hùng. Cứ theo lôgích này, Mao Trạch Đông từng cứu đảng CSTQ, đương nhiên có thể tùy ý càng muốn làm mưa làm gió gì cũng được. Cho đến Lưu Hoàng thúc với Hoàng thống như vậy trong “Tam quốc diễn nghĩa” bị cải thành hệ thống lý luận của học thuyết chủ nghĩa Mác Lê trong cách mạng của Mao Trạch Đông. Ai là hậu duệ chính tông của Nhà Hán, diễn hóa thành ai là người truyền nối chính tông của chủ nghĩa Mác Lê. Vì vậy, Mao Trạch Đông lấy thân phận song trùng vừa là người kế thừa vừa là người phát triển, tự nhiên đã thành Thiên tử chân mệnh so với Lưu Bị còn hơn Lưu Bị. Phong trào giang hồ cỏ dại trong lịch sử TQ chà đi xát lại đến Mao Trạch Đông, cuối cùng chà xát ra một cách nói khoác lác nhất, cho dù mọi âm mưu quỉ kế bạo hành dưới cách nói này, toàn bộ được trang sức với ngôn từ đàng hoàng áo mũ.

Thứ đối xứng tâm lý văn hóa của văn hóa Mao ngữ và phương thức thiên biến lịch sử có quan hệ với tiểu thuyết diễn nghĩa có thể trở thành một chuiyên đề nghiên cứu. Ví như, một đặc trưng khác của nó, văn hóa miếu thờ cũng là một chủ đề quan trọng. Bất cứ là miếu thờ cổ nhân của tiểu thuyết diễn nghĩa dựng lên, như Quan Công, Trương Phi, Võ Tòng, Lý Quì, Nhạc Phi, Dương Gia Tướng, Khương Thái Công, v.v…; hay là miếu thờ người ngày nay của văn hóa Mao ngữ dựng lên, như Trương Tư Đức, Bạch Cầu Ân trước đây, Lôi Phong, Âu Dương Hải sau này, v.v…; đằng sau đều ẩn chứa ổ bệnh của chấn thương vô ý thức tập thể tương ứng, đến đây tạm không phân tích thêm nữa. Ở đây cần nhấn mạnh là, thứ văn hóa lưu manh này của Mao Trạch Đông kế thừa và nêu cao với văn hóa thư sinh mà Trần Độc Tú dựa vào là hai thứ truyền thống hoàn toàn khác hẳn nhau. Tuy nhiên, văn hóa lưu manh của tiểu thuyết diễn nghĩa Tống, Minh hình thành, vừa quan hệ với sức ép của quyền lực ngôn từ Nho gia, lại mang dấu ấn thứ đạo đức kiểu giáo lý gốc của Tống Nho, nhưng với cội nguồn truyền thống Nho gia từ Khổng Tử, cuối cùng có sự khác nhau giữa thư sinh với lưu manh.

Phong trào “văn hóa mới Ngũ tứ” trong khi phê phán văn hóa Khổng Nho, coi tất cả văn hóa truyền thống gọi chung chung là chủ nghĩa phong kiến, không chú ý đến sự khác nhau trong đó. Các lãnh tụ văn hóa của “Ngũ tứ” không phát hiện được văn hóa Khổng Nho với tư cách là một thứ nguồn vốn lịch sử tuy nhiên đã gần hết thời, nhưng nói cho cùng vẫn là văn hóa thư sinh. Họ không phát hiện được một thứ “quái đản” càng đáng sợ hơn văn hóa Khổng Nho nằm trong truyền thống, tức văn hóa lưu manh được tiểu thuyết diễn nghĩa truyền bá. Thứ văn hóa lưu manh này tuy nhiên có đủ thứ cội nguồn lịch sử sản sinh ra, có đủ thứ cái gọi là tính hợp lý lịch sử, hoặc là nói cơ sở hiện thực và cơ sở tâm lý của “tạo phản có lý”, nhưng lại càng tăng hiệu ứng mặt trái tính phá hoại hơn văn hóa Khổng Nho đối với phát triển lịch sử TQ.

Khi phương tây phát hiện con người là một thứ động vật văn hóa, họ có thể không chú ý đến tính động vật của con người, cũng như vậy sẽ cấu thành một thứ văn hóa thấp kém nhưng vẫn có một năng lượng cực lớn. Giả dụ nói, văn hóa Khổng Nho vẫn là cấu trúc văn hóa của tầng diện đầu não, tầng diện ý thức, vậy thì văn hóa lưu manh trong tiểu thuyết diễn nghĩa hoàn toàn là sự bộc lộ tâm lý của tầng diện cơ thể tầng diện cảm quan tầng diện dục vọng. Từ sự tương tác của cá nhân và lịch sử mà nói, rất khó nói cuối cùng là Mao Trạch Đông đã lợi dụng thứ văn hóa này, hay là bản thân Mao Trạch Đông cũng là vật hy sinh của thứ văn hóa này. Điều có thể xác nhận chỉ là, mượn thứ văn hóa lưu manh này nhảy lên nhân vật lịch sử ngôi lớn, bất kể nói thế nào cũng đều là xấu xa, bất luận gọi con người này là Hồng Tú Toàn, hay gọi là Tôn Trung Sơn, hoặc gọi là Mao Trạch Đông.

Đương nhiên, từ vai trò chỉnh hợp của lịch sử và hiệu ứng cùng nhận thức tâm lý của quần chúng mà nói, Mao Trạch Đông đã nhờ vào truyền thống diễn nghĩa đen tối nhất bèo bọt nhất trong văn hóa TQ đưa đảng CSTQ từ “đảng Ngũ tứ” của Trần Độc Tú chỉnh hợp thành “đảng Sơn” kiểu Mao, cũng không hoàn toàn là sai lầm của Mao Trạch Đông. Không có sự phối hợp và đồng tâm hiệp lực của đồng chí đồng bọn của ông ta, cho đến của rất nhiều phần tử trí thức lớn bé và dân chúng TQ, năng lực nói năng của Mao Trạch Đông mạnh đến mấy cũng không thành sự được. Ví như Mao Trạch Đông nhân vật như thế này nếu xuất hiện trên mảnh đất nước Mỹ, mọi lời nói của ông ta đều sẽ bị coi là loạn ngôn, ăn nói lung tung, coi như không đưa ông ta vào bệnh viện thần kinh, thì ít nhất cũng mời ông ta đi tìm bác sĩ tâm lý chữa trị. Vì vậy, tách mọi thứ có tính ngẫu nhiên của hiện tượng Mao Trạch Đông ra, sự nổi lên của Mao Trạch Đông cũng có thể nói là kết quả lịch sử tất nhiên của bản thân sự lưu lạc của lịch sử văn hóa TQ dẫn đến. Nhìn chung một đời Mao Trạch Đông, chẳng phải là Lưu bị trời sinh, Lưu Bang trời sinh, Tần Thủy Hoàng trời sinh, cũng không phải Chu Nguyên Chương trời sinh, Hồng Tú Toàn trời sinh, mà là từ sự phản xạ tâm lý chấn thương vô ý thức tập thể dân chúng TQ do “Thủy hử truyện” và “Tam quốc diễn nghĩa” gây độc hại mà lĩnh ngộ dần, về sau hình thành đế vương giặc cỏ.

Giả sử đế vương này mọi việc làm ra như ma quỉ sau khi giang sơn nắm vào tay mình, vậy thì ma quỉ này cũng bị sự tổn thương vô ý thức tập thể của dân chúng TQ tạo dựng nên, chứ không phải Mao Trạch Đông muốn làm ma quỉ là thành ma quỉ, mà là ma quỉ ở nơi tầng sâu tâm lý dân chúng nói lên muốn có Mao Trạch Đông, thế nên mới có Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông nhìn lên thiên mã đi trên không, muốn làm gì làm nấy, trên thực tế lại đâu đâu cũng được lòng tốt của dân. Tựa như Hitler rất biết nhân dân Đức muốn nghe cái gì, Mao Trạch Đông cũng rất rành điều gì mới là điều mà đồng chí trong đảng của ông và dân chúng TQ nghe là thích thấy là vui.

Bí mật lịch sử của Mao Trạch Đông từ Tăng Quốc Phan chuyển sang Hồng Tú Toàn.

Bình tâm mà xét, chiều hướng tương lai thời ban đầu của Mao Trạch Đông, không phải về sau ông làm được. Anh hùng văn hóa và khuôn mẫu kinh bang tế thế kiểu Tăng Quốc Phan, chiều hướng tương lai từ rất sớm này của Mao Trạch Đông với Đế vương giặc cỏ kiểu Hồng Tú Toàn mà về sau ông làm được là hoàn toàn ngược lại.

 

Sự chuyển hướng về lựa chọn văn hóa của Mao Trạch Đông khá giàu kịch tính, trong đó vừa có nguyên nhân hình thành tâm lý cá nhân ông ta, cũng có nguyên nhân hình thành lịch sử trong toàn bộ diễn biến văn hóa. Chỉ riêng số trường hợp cá nhân ông ta mà nói, sự hình thành thói chuyên chế và nhân cách lưu msanh của ông, chủ yếu là có liên quan với sự bạo ngược của phụ thân ông và sự lạnh lùng mà ông phải chịu đựng ở Bắc Đại (Ý trích trong Chương III “Hiện tượng Mao Trạch Đông”). Văn hóa chuyên chế và ngôn từ chuyên chế mấy ngàn năm, khiến việc giáo dục gia đình người TQ khá ngu muội và cực kỳ đen tối. Mao Trạch Đông khi kể câu chuỷện của ông với thân phụ thời ấu thơ, hầu như cũng là câu chuyện trong mọi gia đình TQ không biết đã lặp đi lặp lại bao nhiêu năm bao nhiêu thế hệ không dứt được. Những xung đột này thậm chí có thể đọc thấy trong “Hồng Lâu mộng”, cũng tức là thế giữa Giả Chính với Giả Bảo Ngọc như băng với than, như nước với lửa. Thứ chế độ đẳng cấp và quan niệm đẳng cấp, quân quân thần thần, cha cha con con mà Chu Công với Không tử lần lượt định ra, làm cho người TQ có thói quen phân biệt cao thấp, trái phải giữa người với người, chứ không hiểu đối xử bình đẳng và tiếp xúc bình đẳng với nhau. Trái phải vốn là khái niệm bình đẳng, nhưng trong con mắt người TQ, cũng chia ra trước sau hoặc trên dưới. Làm cha không biết đối thoại bình đẳng với con, cũng như vậy, đại học giả trong kinh thành không biết tôn trọng trò sư phạm ngoại tỉnh đến, gọi là biểu thị chút ít lễ phép, cũng cần được coi là “lễ hiền hạ sĩ” (kính trọng người tài năng). Lễ là lễ, trên dưới cao thấp một chút không được hàm hồ, cứ như thế, v.v…

Người cha kiểu TQ, chẳng phải là loại anh hùng luôn đêm tối đóng cổng cho lớp trẻ mà Lỗ Tấn nói đến, mà là loại gia trưởng có thói quen lấy phương thức bạo ngược, tâm lý bạo ngược và gien bạo ngược cưỡng ép gieo mầm vào hạ ý thức của thế hệ sau. Người TQ rất khó tránh thế hệ thân phụ họ gây tổn thương tâm lý với họ. Mao Trạch Đông cũng như vậy, đã kế thừa tập tính chuyên chế bạo ngược từ trên cơ thể người cha bạo ngược; sau đó lại từ thế lợi và ngạo mạn của các đại học giả kinh thành (ít nhất là trong con mắt Mao Trạch Đông), đã thưởng thức no thứ mùi vị kỳ thị đẳng cấp giữa phần tử tri thức TQ với nhau. Mao Trạch Đông bị coi khinh ở Bắc Đại, bất kể đối phương không để ý như thế nào, lại trực tiếp dẫn đến sự chuyển hướng về lựa chọn văn hóa sau này của ông. Hơn nữa, thứ kỳ thị đó với là một phản ứng lại mà tâm lý hạ ý thức bị tổn thương tạo nên, sau khi ông ta ngồi vững giang sơn, lại lấy phương thức cực kỳ bạo ngược dâng lại cho tất cả phần tử tri thức TQ. Mao Trạch Đông từ rất sớm đã từng lấy Tăng Quốc Phan làm thầy dẫn đường tinh thần của mình, về sau lại đã từng hướng theo phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” của Bắc Kinh, trong các bài viết đã từng hô to : “Trần quân vạn tuế !” (Ông Trần muôn năm !) đối với Trần Độc Tú, ngụ ý thú vị nhất là, vừa khéo trước sau “Ngũ tứ” Mao Trạch Đông, vì cuộc hôn nhân với Dương Khai Huệ đến ở cùng với nhạc phụ Dương Xương Tề cũng là thầy giáo của Mao một thời gian ở Bắc Kinh. Trong thời gian này, với Mao Trạch Đông có thể nói là khắc cốt ghi tâm. Không nói người khác, chỉ riêng chuyện về sau, khi gặp Lương Thấu Minh ở Diên An, ông nhớ lại tình tiết lúc ban đầu ông đến thăm nhạc phụ, thì gặp Lương Thấu Minh mở cửa để thấy, trong hồi ức của ông bao hàm biết bao cảm khái khó nói nên lời. Không cần nói, ông đã chịu sự lạnh nhạt không thèm để ý đến ông qua bái kiến rất nhiều nhân vật phong ba “Ngũ tứ”, nhất là khi gặp nhân vật lớn như Hồ Thích, đã để lại dấu ấn mãnh liệt trong tầng sâu nội tâm.

Viết đến đây, cũng cần nói một ít về nội hàm văn hóa của Hồ Thích. Với khí chất văn hóa của Hồ Thích mà nói, bất luận người đầu tiên đề xướng văn bạch thoại là ông, hay là ông là người giới thiệu chủ nghĩa thực dụng Dewey J. với TQ, đều là sự nỗ lực và công phu về tầng diện ý thức của ông. Trong cốt tủy của Hồ Thích là một Nho sinh trung dung, có trí lực của người bình thường, chẳng phải là một thiên tài sáng tạo. Ý thức dân chủ của Hồ Thích không tách rời với địa vị tinh anh của ông . Cũng là nói, dân chủ của ông ta là dân chủ của giữa những tinh anh. Trong thi ca của ông thi thoảng bắt gặp có chút đồng cảm với người phu xe, nhưng tuyệt đối ông không thể chịu được một tiểu hòa thượng xuất thân từ một tiều phu trở thành Thiền tông lục tổ. Vì thế, ông đã không tiếc công sức khảo xét chứng cứ chân giả của Thiền tông, lấy đó để bảo vệ tôn nghiêm của khoa học mà ông đề xướng. Sự miệt mài và cổ hủ, đáng yêu và buồn cười của ông, hết sức cổ quái trộn lẫn với nhau. Đến cuối một đời, ông chưa từng đọc hiểu “Hồng Lâu mộng”, nhưng ông lại là một học giả mở núi nghiên cứu Hồng học, đương nhiên là nghiên cứu về ý nghĩa khảo cứ học. “Nghiên cứu thêm ít vấn đề, bớt bàn về chủ nghĩa” của ông ta, nghe ra hết sức bảo thủ, trên thực tế lại là lập trường lý tính thực dụng không chệch đi đâu được. Tinh túy của Hồ Thích bao gồm ý thức dân chủ phương tây mãnh liệt của ông, thường là đến từ lập trường này của ông. Hoặc là nói, thực ra Hồ Thích không chỉ thực sự không tin sự thần minh như thế của Thiền tông, cho đến các chủ nghĩa hiện thời, ông cũng đều không tin. Nghe Trần Độc Tú nói mạnh chủ nghĩa đế quốc đáng hận như thế nào, thế nào, ông  chịu không nổi, hét toáng lên : “Ông ơi, đâu đến cái chủ nghĩa đế quốc, đâu đến cái chủ nghĩa đế quốc a!” Với nội hàm văn hóa và tư chất cá nhân này của Hồ Thích, muốn ông ta nghe hiểu Mao Trạch Đông với giọng nói Hồ Nam của một học sinh tốt nghiệp Sự phạm Trường Sa thực sự là muốn nói những gì với ông, thực là điều khó khăn. Ngược lại, Mao Trạch Đông sau khi giang sơn vào tay, nếu phê phán mạnh chủ nghĩa duy tâm của Hồ Thích làm mũi tên báo thù bị coi thường lúc ở Bắc Đại, Hồ Thích lại là một đối tượng Mặt trận thống nhất rất thích hợp của Mao Trạch Đông. Nhân viên Mặt trận thống nhất của Mao Trạch Đông chỉ cần bỏ ít công sức, bảo Hồ Thích có lời nói đại loại như Đài Loan từ xưa đến nay là lãnh thỏ của Đại lục, nên là chẳng có vấn đề gì, giả như ông ta còn sống đến thế kỷ 21. Biết đâu Hồ Thích sẽ còn cẩn thận khảo xét kỹ lưỡng chứng cứ, đưa ra lượng lớn chứng cứ chứng minh Đài Loan nằm ở vị trí lãnh thổ Đại Lục. Nhưng lịch sử không thể giả thiết. Sự thật của lịch sử là, bởi các tinh anh văn hóa mới “Ngũ tứ” như Hồ Thích lạnh nhạt đối với chàng thanh niên Hồ Nam Mao Trạch Đông, cho dù là một nhân vật thiên tài có lực soi xét lịch sử nhất, giàu tính sáng tạo lịch sử nhất lúc đó, đã bỏ mất người văn hóa vào đội ngũ, đã bỏ mất định hướng nhân sinh lấy Tăng Quốc Phan làm Thầy, chuyển hướng theo nhân vật “Thủy hử truyện” và Thủy bạc Lương sơn đã thuộc làu trong ruột thời trẻ. “Độc lập hàn thu, Tương giang bắc khứ”, “Vấn tang mang đại địa, thùy chủ trầm phù ?” (Một mình mùa thu lạnh lẽo, từ Hồ Nam đi lên bắc, hỏi đất rộng mênh mang ai là chủ nổi chìm ?) Có thể đã viết lên tâm trạng cô độc đến mức không biết làm thế nào có được chí lớn trong khoảng thời gian đó của Mao Trạch Đông. Tuy nhiên một thời gian dài sau khi Mao Trạch Đông rời khỏi Bắc Kinh cũng chẳng nhàn rỗi, nhưng ông vẫn chưa xác định rõ được vị trí lịch sử và phương hướng nỗ lực của mình. Cho đến năm đó về lại quê hương đã thấy phong trao nông dân Hồ Nam, ông mới tìm được vị trí của mình, tìm được phương hướng của mình. Lúc còn nhỏ đọc “Thủy hử truyện” là đã biết giặc cỏ tạo phản, giang hồ bạo động, trong thời khắc đó, trong hạ ý thức của ông lên men bay lên nhanh chóng. Từ đó mà “chữ nghĩa toát lên”, Mao Trạch Đông đã viết “Báo cáo điều tra phong trào nông dân Hồ Nam” kiểu tuyên ngôn cá nhân. Từ một ý nghĩa nào đó mà nói, bản tuyên ngôn này đã mỹ hóa và ca tụng đầy thơ mộng đối với hành động bạo lực của nông dân, với Mao nói là đưa ý kiến lên lãnh tụ cách mạng kiểu Trần Độc Tú, không bằng nói là thách thức với thân sĩ như Hồ Thích và phần tử trí thức như Hồ Thích. Trong hạ ý thực của Mao Trạch Đông, năm đó Hồ Thích không nghe hiểu những tiếng Hồ Nam từ Mao nói ra, lúc đó hầu như toàn bộ do phong trào nông dân Hồ nam nói ra cả. Tình cảnh những nông dân nhờ vào thổ hào thân liệt mọi nơi biểu tình, để đập vào con mắt Mao Trạch Đông tựa như bản thân Mao đang nhổ đờm vào thân sĩ như Hồ Thích, vừa xả khí vừa giải hận, toàn thân sung mãn khoái cảm. Đọc chút dòng chữ này, nên biết những khoái cảm thế này làm cho Mao Trạch Đông phấn chấn đến mức độ nào.

 

Trong thời gian rất ngắn, đưa hàng vạn vạn nông dân tức từ các tỉnh miền trung, miền nam và miền bắc TQ đứng lên với thế như bạo dông bạo tố, nhanh mạnh khác thường, bất kể lực lượng lớn như thế nào đều không thể đè bẹp nổi. Họ sẽ bứt tung mọi mạng lưới trói chặt họ, chạy nhanh hướng về con đường giải phóng. Tất cả chủ nghĩa đế quốc, quân phiệt, tham quan ô lại, thổ hào liệt thân đều bị họ chôn dưới mồ. Trong hai chữ “tất cả” (“Báo cáo điều tra phong trào nông dân Hồ nam”) đương nhiên cũng bao gồm những người lấy quyền uy tri thức tự coi là người Hoa cao đẳng như Hồ Thích. Mao Trạch Đông trong thời khắc này, đã hoàn toàn quên lãng năm đó đã chăm chút chép lại nhật ký Tăng Quốc Phan như thế nào, đã hoàn toàn quên lãng năm đó tri hô “Hồ nam độc lập”, “liên tỉnh tự trị” như thế nào, đã hoàn toàn quên lãng năm đó hướng về phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” hô to “Trần Quân vạn tuế” như thế nào. Mao Trạch Đông trong thời khắc này, trên tầng diện ý thức bằng Hán ngữ bạch thoại hiện đại nói chủ nghĩa Mác Lê, trên tầng diện hạ ý thức lại đứng về lập trường của những Hồng Tú Toàn năm đó bị Tăng Quốc Phan căm ghét sâu độc một cách tự nhiên. Tuy nhiên khi ông đưa ra sự chuyển hướng văn hóa như thế này, lại không biết tương lai có thu được thành công hay không, điều này giống như đánh bạc, một khi úp con bài xuống, cũng chẳng bỉết thua hay thắng. Nhưng Mao Trạch Đông đã lựa chọn như thế.

Mao Trạch Đông về sau thành công, đương nhiên có rất nhiều nguyên nhân lịch sử, trong đó bao gồm Mao Trạch Đông về sau chân thành xin lỗi Nhật Bản kẻ xâm lược. Bởi vì sự xâm nhập của phát-xít Nhật, về khách quan đúng là làm cho Mao Trạch Đông và đảng CSTQ lâm vào tuyệt địa tan rã không thành quân phùng sinh, đã tạo được cơ hội chuyển đổi tuyệt vời về không gian sinh tồn. Nhưng, Mao Trạch Đông nên cám ơn nhất là Tôn Trung Sơn mà lúc đầu Mao đã gọi là “người tiến hành cách mạng trước tiên”. Khi nghe cách xưng hô này không thể không buồn cười, phảng phất như Tôn Trung Sơn là Tôn Ngộ Không đang mở đường phía trước, còn Mao Trạch Đông như là Đường Tăng sư phụ kiêm chủ nhân của Tôn Ngộ Không.

Tuy nhiên, Mao Trạch Đông từ lập trường Tăng Quốc Phan chuyển sang lập trường Hồng Tú Toàn một cách nhẹ nhàng, tựa như thuận lý thuận lẽ, nhưng muốn để cải biến cục diện toàn bộ môi trường lịch sử từ sau khi Tăng Quốc Phan bình định bạo loạn Hồng Tú Toàn năm đó, chuyển hóa lại môi trường lấy bạo lực đẩy bạo lực để thích hợp với nhân vật kiểu Hồng Tú Toàn tiến hành giang hồ làm loạn, nhưng lực bất cập của Mao Trạch Đông lúc đó. Khúc gấp lịch sử này, đúng là Tôn Trung Sơn “người đi trước” này, dưới sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô đã đề xuất cho Mao Trạch Đông về sau. Vô luận là trí thức, năng lực hay dã tâm cá nhân và năng lượng hoạt động của Tôn Trung Sơn đều nằm giữa Hồng Tú Toàn và Mao Trạch Đông, là kẻ gây tội lỗi hàng đầu đem toàn bộ lịch sử TQ từ những người như Tăng Quốc Phan, Lý Hồng Chương mở ra thời đại cải lương không dễ dàng, đẩy quay về lại trong cái vòng luân hồi lịch sử đen tối đã kết thúc các vương triều thay thế nhau bởi tạo phản. Giả như sau này cần làm cuộc xét xử lịch sử, mà giả như Mao Trạch Đông là bị cáo chủ yếu, vậy thì Tôn Trung Sơn đương nhiên là bị cáo quan trọng hàng đầu.

Lịch sử không thể giả thiết. Nhưng có lúc giả thiết lịch sử một cái, cũng giúp cho nhìn rõ lịch sử. Giả như năm đó không có Tôn Trung Sơn dưới sự chỉ đạo của cố vấn Liên Xô thúc đẩy chủ nghĩa Lê nin, phát động cái gọi là chiến tranh Bắc phạt thống nhất toàn TQ, vậy thì không những không xẩy ra chuyện phong trào nông dân Hồ Nam mà Mao Trạch Đông nhìn thấy, hơn nữa toàn bộ chính trị TQ và văn hóa TQ nghiễm nhiên sẽ phát triển hướng theo quĩ đạo lịch sử từ Tăng Quốc Phan đến phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ”, trọng điểm văn hóa của Bắc Đại như thế nghiễm nhiên sẽ là trọng tâm tâm lý của tinh anh toàn xã hội. Trong cục diện văn hóa chính trị như thế, Mao Trạch Đông, một nhân vật như thế, cho dù không thể có được cơ hội xuất đầu lộ diện ở Bắc Đại, ở các địa phương khác cũng có thể là một giấc mộng đẹp ông đóng vai trò anh hùng văn hóa. Ví như ThưNhân đây mà nói, phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” không chỉ đã dự báo tính khả năng lịch sử của cơ hội này, hơn nữa từ các mặt ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tâm lý đã chuẩn bị cho chính trị liên bang dân chủ tương lai. Thế nhưng, cái cơ hội này đã bị Tôn Trung Sơn với phương thức dẫn sói vào nhà liên hợp với người Liên Xô tống táng mất.

Vạch rõ ra sự can thiệp của người Liên Xô và ảnh hưởng của cái gọi là Chủ nghĩa Mác, bởi vì nếu không có sự tiếp nhận của người TQ, cho dù người Liên Xô tiếp tục can thiệp cũng không cách gì đạt được hiệu quả, tựa như Tưởng Giới Thạch sau này dứt khoát cắt đứt với người Liên Xô, họ cũng không cách gì nắm được Tưởng; cục nghẽn chủ yếu của lịch sử là ở tình cảm sâu nặng với “quân lâm thiên hạ” (Vua đến với đất nước) của Tôn Trung Sơn, có thể là một trong nguyên nhân chủ yếu của lịch sử TQ hết lần này đến lần khác sa vào vòng tuần hoàn lịch sử.

Trong lịch sử muộn cận đại TQ, ngoài Tăng Quốc Phan ra, hầu như mọi lãnh tụ chính trị đều ôm ấp ý nguyện đế vương này. Hồng Tú Toàn đương nhiên không cần nói nữa, cho dù là Khang Hữu Vi không thể làm được đế vương nhưng cũng muốn làm một cuộc soái đế vương, hoặc là nói, không có được tiếng nói quyền lực, cũng phải nắm cho được một nắm quyền lực tiếng nói, càng huống chi Tôn Trung Sơn một kẻ dã tâm xuất thân từ bang hội giang hồ thế này ? Vở kịch xưng đế của Viên Thế Khải đứng ra diễn, tính hài kịch của nó không phải ở chỗ ông ta muốn nghiễm nhiên làm Hoàng đế, mà là ở sau khi kết thúc vương triều Mãn Thanh, cho dù muốn làm Hoàng đế cũng không còn có thể tiếp tục công khai xưng là Hoàng đế nữa, mà nên gọi là làm Đại Tổng thống, hoặc như sau này gọi là Chủ tịch gì gì đó, Bí thư gì gì đó, thậm chí như cách Từ Hy Thái hậu rút lui đứng sau rèm, cũng vẫn có thể làm đủ vai trò đế vương. Ngược lại, bất cứ đem cái Hoàng đế được dựng lên bằng cách nào, được gọi như thế nào, đều không thể tiếp tục công nhiên tuyên bố mình là Hoàng đế nữa. Đây có thể là điểm tiến cùng thời đại của Tôn Trung Sơn so với Viên Thế Khải, ông ta hiểu rõ nên dấu cái đuôi sam Hoàng đế đi, khoác lên đầu cái mũ Đại Tổng thống. Bất kể ông ta gọi Đại Tổng thống là lâm thời hay là bất thường, điều quan trọng là ở trong xương tủy vẫn nghiễm nhiên là Hoàng đế. Ông ta còn hiểu rõ, ngoài đội lên đầu cái mũ Đại Tổng thống ra, còn phải kèm theo một số cách nói liên quan đại loại dân chủ dân sinh ở cái miệng. Trong thâm tâm ông ta hiểu rõ, ngoài dân chúng ngu muội ra, ai cũng sẽ không đem cách nói này thành sự việc. Chỉ là với nhân vật là một lãnh tụ, lý đương nhiên cần dốc hết lực thổi phồng to lên tấm da lừa này. Hồng Tú Toàn đã bày ra cái Hội Bái Thượng đế lạc loài, Tôn Trung Sơn lại đưa ra cái chủ nghĩa Tam dân như có thật. Đương nhiên rồi, về mặt khoác lác, hai người trong họ ai cùng không vượt qua được Mao Trạch Đông, Mao Trạch Đông không chỉ là Mặt trời hồng đỏ nhất đỏ nhất trong trái tim toàn dân TQ, mà còn luôn tuôn ra cần “giải phóng toàn nhân loại”. Thổi cái da lừa to phồng lên cỡ đó, cho dù không nói mình là Hoàng đế, dân chúng bị đầu độc cũng phát hiện Mặt trời hồng trong tim họ nguyên là một Thổ hoàng đế. chẳng qua là, tấm da lừa của Tôn Trung Sơn tuy thổi không phồng to như của Mao Trạch Đông, lại thêm “xuất soái chưa thắng, thân chết trước”, dã tâm đế vương, lại chưa hề bị vạch rõ đầy đủ.

 Thế nhưng, mọi người cùng thời đại Tôn Trung Sơn, cũng chẳng nhìn rõ chút nào tâm nguyện đế vương của ông ta. Khi Tôn Trung Sơn tổ chức lại đảng Cách mạng ở Tokyo, lệnh ép các đảng viên lăn dấu tay để biểu thị trung thành với ông ta, các lãnh tụ Hoàng Hưng, Trần Quýnh Minh, Lý Liệt Quân đều hết sức phản cảm, hơn nữa chống lại ngay tại chỗ. Khi Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu kiên trì yêu cầu xưng là Đại Tổng thống bất thường, hơn nữa bất chấp muốn phát động cuộc chiến thống nhất đó, Chương Thái Viêm kiên trì lập trường “liên tỉnh tự trị”, phủi tay mà đi, mỗi người đi mỗi ngã (Xem bảng niên biểu Tôn Trung Sơn).

Bất kể Tôn Trung Sơn bề ngoài hứa hẹn đại loại làm Quân chính, Hiến chính như thế nào, nhưng trong cốt tủy của ông ta vừa không thích chế độ Dân chủ, cũng không thích chế độ Liên bang. Lúc mới đầu, Tống Giáo Nhân khi ra sức tiến hành luận bàn về Dân chủ tại Quốc hội, từng khẩn thiết yêu cầu ông ta ở lại cùng công tác, hơn nữa Attention: còn bằng lòng vẫn tôn ông là Lãnh tụ hàng đầu, ông ta phớt lờ đi và bỏ Tống Giáo Nhân ở lại Bắc Kinh, nghe theo người ta một mình đối mặt với Viên Thế Khải như sói như hùm. Kết quả dẫn đến Viên Thế Khải không ngại ngùng gì đã giết hại Tống Giáo Nhân một cách trắng trợn. Sau khi màn kịch xưng đế của Viên Thế Khải hạ màn, Trần Quýnh Minh lãnh tụ Cách mạng Khai sáng đã từng đi theo Tôn Trung Sơn ở Quảng Đông đã từng khuyên Tôn Trung Sơn một cách cay đắng ruột gan, ở Quảng Đông làm Liên tỉnh tự trị là phù hợp nhu cầu kinh tế văn hóa bản địa Quảng Đông, cũng phù hợp trào lưu lịch sử liên tỉnh tự trị trên cả nước, Tôn Trung Sơn không những nghe không lọt tai, sau khi hai bên đoạn tuyệt với nhau, ông ta còn trở mặt qui cho Trần Quýnh Minh là phản cách mạng (Xem bài “Trần Quýnh Minh với Tôn Trung Sơn đoạn tuyệt nhau như thế nào”, đăng trong Tập san Nam phương cuối tuần). Rõ ràng là bản thân mình đuối lý, lại quay lại vu cho người khác. Vụ án oan này với vụ án Bành Đức Hoài tại Hội nghị Lư Sơn mà Mao Trạch Đông tạo ra hết sức giống nhau, chỉ có điều là nội dung cụ thể và phương thức cụ thể khác nhau mà thôi. Liên quan nhân cách văn hóa và nhân phẩm chính trị của Tôn Trung Sơn, trong bài viết “Lầm lạc của Tôn Trung Sơn trong thập niên thứ nhất sau Cách mạng Tân Hợi”, giáo sư Viên Vĩ Thời của khoa Lịch sử Đại học Trung Sơn, đặc biệt dẫn lời nhận xét đối với Tôn Trung Sơn của 6 vị Lãnh tụ cách mạng và người thân Tống Giáo Nhân, Đào Thành Chương, Chương Thái Viêm…đã từng cùng làm việc với Tôn Trung Sơn, sau đó tổng kết thế này :

Những người trên không có ai không cho rằng, Tôn Văn với là nhà chính trị , về phẩm đức có không ít khiếm khuyết quan trọng. Đồng thời, bình luận của họ tuy có ít nhiều khác nhau, nhưng có mấy điểm chung nổi bật : 1) Lòng dạ hẹp, thiếu độ bao dung người; 2) Khinh suất, nói năng, việc làm thỉếu sự nghĩ sâu xét kỹ; 3) Tham quyền, ham muốn lãnh tụ rất mạnh; 4) Tố dưỡng dân chủ không đủ, không ít khi hiện rõ tính cách chuyên chế, không trừ thủ đoạn nào.

Điều lý thú là, nếu như những lời bình xét này dùng vào các  nhân vật như Hồng Tú Toàn hoặc như Mao Trạch Đông, hầu như cùng phù hợp như vậy, chỉ có điều là mức độ có khác nhau mà thôi. Nhìn chung là Lãnh tụ chính trị vì giang sơn mà ôm lưng, không ngoài đặc trưng loại tính cách này : chỉ biết ngồi lên giang sơn lại không hiểu quản lý quốc gia, thỏa mãn dã tâm cá nhân cách xa đối với quan tâm khổ đau dân chúng. Hồng Tú Toàn sau khi định đô Nam Kinh gọi là Thiên Kinh, thiên hạ còn chưa hóa giải ổn định, đã vội vàng không thể chờ đợi dựng lên Hoàng đế với một đống phi tần  như mây thối rựa hôi thối (Xem bài đăng trong Tạp chí “Viêm hoàng Xuân Thu”, “Hồng Tú Toàn đi đến diệt vong trong vòng vây mỹ nữ”). Xây dựng TQ mới của Mao Trạch Đông, hễ những người đã trải qua thời đại Mao Trạch Đông, đều đã được qua giáo huấn, từ Đại nhảy vọt đến Đại cách mạng Văn hóa, không phải để dân số TQ càng chết càng nhiều, mà là để lòng người của quốc dân càng biến càng xấu, hầu như không làm được một việc gì tốt đáng nói. May cho Tôn Trung Sơn, không đợi đến lúc ngồi lên giang sơn, đã xuôi tay nhân thế, nếu không từ những lời khoác lác cao xa, mạnh mồm cao giọng của ông ta là sẽ làm con đường sắt trực thông từ nội địa đến Tây Tạng như thế nào để xét (Xem niên biểu Tôn Trung Sơn), cũng không thể so với Mao Trạch Đông cao minh mất đâu rồi; rõ ràng cũng là một kiêu hùng loạn thế chỉ biết đánh khắp giang sơn ngồi trên giang sơn, không hiểu được, cũng chưa từng nghĩ đến để hiểu làm thế nào để xây dựng một quốc gia, làm thế nào để quản lý thiên hạ.

 

Lại so với Tăng Quốc Phan, thực chất cuộc chiến tranh Bắc phạt đó của Tôn Trung Sơn càng rõ ràng hơn. Nếu nói là, vũ lực thống nhất toàn TQ, Tăng Quốc Phan là có điều kiện nhất, thậm chí so với Mao Trạch Đông càng có điều kiện. Mao Trạch Đông khi đề ra đánh qua sông Trường Giang, còn có rất nhiều tiếng nói phản đối, thậm chí đến kẻ độc tài Liên Xô đứng sau lưng đều hy vọng TQ chia giang sơn để trị; còn Tăng Quốc Phan, lúc đó sau khi bình định Hồng Tú Toàn làm loạn, không những không có ai phản đối ông ta tiếp tục dùng binh, hơn nữa còn có không ít người hăng hái khuyên ông Bắc tiến, một cử động lật đổ Vương triều Mãn Thanh để làm Hoàng đế. Nhưng cuối cùng Tăng Quốc Phan dùng câu “Ỷ thiên chiếu hải hoa vô số, cao sơn lưu thủy tâm tự tri” để trả lời (Dựa trời chiếu soi biển, thấy rất nhiều hoa, nước từ núi cao chảy ra, chỉ tự mình biết), không những từ chối Bắc tiến, mà còn giải tán Tương quân (Tương là tên gọi khác của tỉnh Hồ Nam). Hành động này, chỉ có trước đây Chu Vũ Vương đã từng làm thế, gọi là gươm súng nhập kho, ngựa thả núi nam. Tăng Quốc Phan lấy đó để đổi lại được có đủ thời gian và không gian chuyển TQ từ lịch sử chiến tranh loạn lạc đen tối sang thời đại cải lương hòa bình, từ tập quyền trung ương của một vùng thép chuyển sang phân quyền địa phương tương đối độc lập vận hành, vừa thoái mái lại năng động, sau đó để sau này thúc đẩy cả xã hội TQ từ đông, nam tự bảo trong lịch sử, chuyển sang tiến trình lịch sử liên tỉnh tự trị, đã đặt được nền tảng xã hội văn hóa vững chắc. Khác với Tôn Trung Sơn và Mao Trạch Đông, điều mà Tăng Quốc Phan coi trọng là làm thế nào để quản trị một quốc gia, chứ không phải là làm thế nào để cả một giang sơn vào tay mình. Điều đáng tiếc là, tất cả những việc mà Tăng Quốc Phan làm lúc đó, đều chưa thể hình thành văn bản rõ ràng, đều chưa được tổng kết thành kinh nghiệm lịch sử, càng chưa thể nâng lên thành ngôn ngữ lý luận hệ thống.

So với từ chối Bắc tiến của Tăng Quốc Phan năm đó, Tôn Trung Sơn lại là trong hoàn cảnh lịch sử không có điều kiện nhất không nên phát động cuộc chiến tranh thống nhất nhất, nhưng dựa vào sự ủng hộ của Liên Xô như cái gậy cứng, xây dựng trường quân sự, chiêu bình mại mã. Tôn Trung Sơn từ đó đưa trọng tâm tâm lý của toàn bộ tinh anh xã hội từ điểm tựa văn hóa quan trọng như Bắc Đại chuyển đến trường quân sự Hoàng Phố đột nhiên nổi lên ớ phía nam, đến như Thiên Cẩu thi nhân Quách Mạt Nhược đều như người bắt chước chó mặc quân phục. Quân và Trường cùng làm một, vốn là khí thế văn hóa được hình thành trong phong trào văn hóa mới, liền bị xóa tan, trang phục học sinh được thay đổi ngay thành quân phục càng làm cho mọi người trầm trồ. Không cần nói, đến lãnh tụ văn hóa như Hồ Thích, Trần Độc Tú, ngay cả lão học trò của Khổng Phu tử, trong hạ ý thức của mọi người, Quan Công, Trương Phi, Võ Tòng, Lý Quì, v.v… đọc được từ trong “Tam Quốc diễn nghĩa” hoặc “Thủy hử truyện” đều bị họ thay thế. Tưởng Giới Thạch xuất thân từ băng Thanh Hồng, vì vị trí Hiệu trưởng Trường quân sự Hoàng Phố, thoáng chốc đã thành ngôi sao thời đại càng chói lòa vượt xa chư quân “Tân Thanh niên” Bắc Đại. Từ Bắc Đại đến Trường quân sự Hoàng Phố, từ khai sáng văn hóa đến chiến tranh thống nhất, lịch sử đã được chuyển hướng như thế này : Từ cục diện văn hóa chính trị của Tăng Quốc Phan khai sáng năm đó, quay về lại Bắc tiến làm loạn của phương thức Hồng Tú Toàn cộng thêm bạo động chủ nghĩa Lênin.

Làm rõ sự chuyển hướng này của lịch sử, như vậy cũng có thể hiểu rõ tại sao Vương Quốc Duy ngang nhiên tự vận sau khi bắt đầu cuộc chiến tranh này. Từ trong cuộc chiến này, Vương Quốc Duy đã thấy trước tai họa lịch sử đang đến, với cách nói của ông  gọi là : “Trước Cộng hòa, sau Cộng sản”. Tiến trình lịch sử về sau đã chứng thực hoàn toàn dự cảm của vị học giả tiên tri này, gọi là : Tôn Trung Sơn trước, Mao Trạch Đông sau. Tôn Trung Sơn cũng thế thôi, Mao Trạch Đông cũng thế thôi, bất cứ ai khi đã ngồi lên giang sơn, người văn hóa và dân chúng TQ đều sẽ không có một ngày sống tốt. Thử so sánh, dùng mô tả trứ danh gọi là, một đằng tự do có bao nhiêu vấn đề, một đằng tự do có vấn đề hay không, của Chử An Bình người văn hóa về sau. Vương Quốc Duy vẫn kéo tóc đuôi sam, tựa như đã nhìn thấy hết sức rõ ràng cái đuôi sam đằng sau gáy Tôn Trung Sơn thân mặc bộ Trung Sơn, giả bộ tư văn, thậm chí Vương Quốc Duy còn như đã nhìn thấy rõ cái gốc rễ cái đuôi sam đó đằng sau gáy Mao Trạch Đông sau này trên thành lầu Thiên An Môn cao giọng hô vang “Nhân dân TQ đã đứng dậy rồi”. Cái gọi là tiên tri tiên giác, ở TQ là chỉ một số người có thể nhìn thấy đằng sau gáy những nhân vật lãnh tụ này có đuôi sam vẫn còn gốc cắt không đứt, có nhân vật đuôi sam bị cắt rối loạn. Nhân vật kiểu tiên tri tiên giác này, sau Vương Quốc Duy có Trần Dần Khác, trước Vương Quốc Duy lại có Tào Tuyết Cần tác giả của  “Hồng Lâu Mộng”.

Năng lực soi xét lịch sử của Vương Quốc Duy không phải từ số không mà có, mà là trên cơ sở nôi văn hóa thâm kham (chiều sâu kham dư =chiều sâu khoa địa lý, phong thủy). Nói đến cội rễ văn hóa này của Vương Quốc Duy, không thể không đề cập đến phục hưng văn nghệ TQ từ Thiền Tông đến “Hồng Lâu mộng”.

Diễn biến nhân tình thế thái và văn hóa giữa Tống, Minh có thể là đáng nghiền ngẫm nhất. Một mặt đã xuất hiện Lý học Tống, Minh, nhất là Chủ nghĩa Nguyên Giáo chỉ Nho gia (Tâm học Vương Dương Minh sẽ bàn luận riêng) hết sức cực đoan và cứng nhắc như Chu Hy, đồng thời với thiên lệch về mặt đạo đức luân lý này là biểu hiện mặt ngang ngược và bá đạo của cái gọi là chủ nghĩa yêu nước; mặt khác, thứ cường hóa chưa từng có của quyền lực tiếng nói, đồng thời lại ép nặn ra thứ triết học lưu manh và văn hóa côn đồ trong tiểu thuyết diễn nghĩa, đây là diễn biến một thứ tâm lý văn hóa kỳ lạ tương phản tương thành với  Lý học Tống Minh. Thế nhưng, với tình hình văn hóa suy sụp như thế, tựa như bông sen nở ra từ bùn lầy, văn hóa TQ đã xuất hiện một sợi sinh cơ từ trong một đống bùn nhơ, đó là phục hưng văn nghệ từ Thiền Tông đến “Hồng Lâu Mộng”.

Sự xuất hiện Thiền Tông, đã đem lại tự do tâm linh và sáng tạo, có thể nói trước nay chưa hề có cho văn hóa TQ. Vô luận là khuynh hướng thi học trong “Thương lãng thi thoại” (Lời thơ sóng nước), là buông thả thoái mái trong văn thơ Tô Đông Pha, là tình tính và không linh trong tản văn cuối Minh, hoặc là mùi vị nhân tình trong các tiểu thuyết đại loại như “3 lời 2 nhịp”, thậm chí bao gồm Tâm học của Vương Dương Minh và thuyết tâm lý trẻ nhỏ của Lý Chí, nhất là cuối cùng xuất thế từ không của “Hồng Lâu mộng”, đều bắt nguồn từ Thiền Tông đem lại thứ giải phóng tâm linh và giác ngộ ý thức nhân văn cho con người. Sự xuất hiện của Thiền Tông làm cho tinh thần văn hóa nguyên thủy nhất của TQ bắt nguồn từ “Sơn Hải Kinh” được làm sống lại, hơn nữa đã làm lộ toác ra một thứ cảnh quan nhân văn khác.

Giả như có thể dùng hai thứ tinh thần bi kịch trong bi kịch Cổ Hy Lạp để tham chiếu, tinh thần văn hóa TQ bắt nguồn từ “Sơn Hải Kinh”, khởi đầu lấy hình thức kiểu “Ai-xư-khu-luo-x” (? Theo âm đọc) để thể hiện, để biết đặc trưng của nó là không thể làm mà vẫn làm. Chuyện Khoa Phụ đuổi Mặt trời (chuyện thần thoại trong “Sơn Hải kinh”) và cướp lửa của Tu sĩ Pôlômi, hầu như tuy khác nhạc điệu nhưng diễn xuất lại như nhau. Về lịch sử mà nói, từ đảng Cố cuối Hán đến Từ Tích Lân, Thu Cận Nãi cho đến người đảng CSTQ thời kỳ ban đầu vì “Ngũ tứ” mà cảm hóa, thứ tinh thần văn hóa biết nó không thể làm mà vẫn làm này có thể gọi là nối tiếp không dứt. Đây là một thứ cảnh ngộ bi kịch của văn hóa TQ, hoặc là nói, một thứ cảnh ngộ nhân văn kiểu “Ai-xư-khu-luo-x”, rất lãng mãn, rất chủ nghĩa anh hùng.

Một cảnh ngộ khác, có thể gọi là tinh thần bi kịch kiểu “Olibits” (?) so với thứ anh hùng và kiêu căng của biết không thể làm mà vẫn làm, điều mà tinh thần bi kịch của kiểu Olibits chú trọng là quyền lợi của kẻ yếu và tiếng lòng của kẻ yếu. Cướp lửa kiểu Tu sĩ Polômi đến “người đàn bà Troy” của Olibits hoặc trong “Me-di-a” đã trở thành sự chú ý chưa từng có đối với phụ nữ và trẻ em và số phận của họ, đã trở thành lập trường chủ nghĩa nhân đạo tuyệt đối khi đối mặt với chiến tranh, đối mặt với lịch sử, đã trở thành sự nghi ngờ sâu sắc đối với mọi vinh quang trên chiến trường của người con trai, đối với bất kỳ sự tự hào nào kiểu chủ nghĩa lịch sử của kẻ chiến thắng. Cảnh ngộ như thế này, trong một truyền thống văn hóa chuyên trị, chưa hề xuất hiện xưa nay, cho đến khi thứ tinh thần tự do bắt đầu tỉnh ngộ do Thiền Tông kích phát, cho đến khi sự tỉnh ngộ này trải qua nung nấu tinh thần của một khoảng thời kỳ lịch sử, mới dần thai nghén ra “Hồng Lâu mộng”, bộ tiểu thuyết vĩ đại đã dung hợp thứ tinh thần bi kịch kiểu Olibits của thứ quan nỉệm vận mệnh “Xu-phuk-ley-x”. Một bộ “Hồng Lâu mộng”, cũng giống với toàn bộ vở kịch của Shakespeare.

Phần mở đầu “Hồng Lâu mộng” được khởi bút từ Nữ Oa vá trời trong “Sơn Hai kinh”, với cảnh mênh mang hùng vĩ chưa từng thấy, với tác giả bình thường không thể tinh tế như thế để viết nên cảnh ngộ văn hóa hoàn toàn khác với truyền thống Chu Khổng, đã thể hiện ra quang cảnh mỹ học khác hẳn với tiểu thuyết diễn nghĩa. Từ trong không gian văn hóa chuyên chế đen tối, đã xuất hiện một luồng ánh sáng từ “Sơn Hải kinh” cội nguồn nhất (cho đến “Đạo Đức kinh” của Lão Tử và tản văn Trang Tử, v.v…) đến Thiền Tông, lại từ Thiền Tông đến “Hồng Lâu Mộng”, hoặc là nói, một mạch nguồn lửa thơm văn hóa hiện rõ có thể thấy, mãi tỏa hương thơm, một thứ tầm cao tinh thần của văn hóa Hán ngữ trong toàn bộ bối cảnh văn hóa lịch sử nhân loại. Chỉ lấy truyền thống thi ca làm ví dụ, vô luận là khoáng đạt của Tào Tháo hay là thanh cao của Đào Uyên Minh, hoặc là phóng đãng của Lý Bạch và tinh tế của Lý Thương Ẩn trong “Táng Hoa từ”, “Đào hoa hành”, “Ngũ mỹ ngâm” của Lâm Đại Ngọc, hoặc ngâm sử thi trước đây của Tiết Bảo Cầm, toàn bộ đều một vẻ u buồn. Cho dù “Ly Tao” một danh tác thiên cổ này của Khuất Nguyên đều bị Giả Bảo Ngọc viết sửa lại là “phù dung nữ nhi lỗi” (bài điếu cô gái phù dung) khiến mọi người động lòng. Cũng như truyền thống nhân văn Anh ngữ là bắt đầu từ Sếch-Pia, tinh thần nhân văn hiện đại của TQ trực tiếp bắt đầu từ “Hồng Lâu mộng” của Tào Tuyết Cần.

Đó là bối cảnh nhân văn của Vương Quốc Duy. Định vị văn hóa của Vương Quốc Duy không ở chí sĩ nhân nhân kiểu Khoa Phụ, cũng không ở tu tề trị bình (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) của kiểu Tăng Quốc Phan, mà là ở kế thừa thứ tinh thần nhân văn đối với “Hồng Lâu mộng”. Tính hiện đại của “Hồng Lâu mộng” với tính hiện đại của Tăng Quốc Phan là khác nhau, nó không ở tiến thủ lịch sử về hướng độ thời gian, không ở làm thế nào cấu trúc một quốc gia hiện đại, mà là ở xác lập cho đưọc một thứ tinh thần nhân văn hiện đại, một thứ tầm cao văn hóa không thay đổi bởi ý chí lịch sử, càng không bởi bất kỳ quyền lực đế vương nào. Người Anh nói rằng, họ thà không có thêm một nước như Ấn Độ để làm lớn hơn đất thực dân của đế quốc Anh, nhưng không thể không có Sếch-Pia. Cũng đạo lý như vậy, người TQ nên nói rằng, Mao Trạch Đông tuy là người mà trong các triều đại đế vương trước đây không có về sau cũng không có, nhưng cho dù có xuất hiện 100 Mao Trạch Đông cũng không địch nổi sự ra đời của một bộ “Hồng Lâu Mộng”. Cái gọi là vĩ nhân lịch sử, để thực hiện dã tâm và dục vọng, vì giang sơn mà ôm lưng, bên cạnh tầm cao tinh thần của văn hóa, dù vĩ đại đến mấy cũng là nhỏ nhoi, cũng chẳng là gì cả. Mao Trạch Đông so với Tăng Quốc Phan còn thấp hơn một đoạn lớn, càng không cần nói đứng bên cạnh “Hồng Lâu mộng”. Điều duy nhất của ông ta có thể lấy làm tự hào là, rốt cuộc khi còn trẻ đã từng chép nhật ký của Tăng Quốc Phan, đã từng chăm chú đọc “Hồng Lâu mộng”, cho dù ông ta đọc có hiểu hay không. Cho đến Tôn Trung Sơn xuất thân từ bang hội giang hồ đó, càng không biết từ đâu để nói.

Sở dĩ tầm nhìn lịch sử của Vương Quốc Duy có được sức xuyên thấu sâu xa như vậy, nguyên nhân căn bản là ở chỗ ông ta có được tầm cao văn hóa này. Vương Quốc Duy là từ sau khi “Hồng Lâu Mộng” ra đời, là một trong mấy độc giả sớm nhất thực sự đọc hiểu, hơn nữa còn là người đọc hiểu sớm nhất. Ông ta không chỉ với góc độ tinh thần bi kịch đã bình luận “Hồng Lâu mộng”, mà còn hiện rõ lập trường mỹ học và tầm cao nhân văn hết sức gần gủi với “Hồng Lâu mộng” trong “Nhân gian từ thọai” của ông. Càng không phải nói bài “Bàn về chế độ Ân Chu” của ông, còn là luận văn kinh điển mở khai cái kỳ bí của văn hóa lịch sử TQ (Tham kiến các luận thuật liên quan trong tác phẩm dài tiểu thuyết lịch sử “Thương Chu xuân thu” và cả “tựa đầu” và “thay lời kết” của tác phẩm.) Vương Quốc Duy và trước tác một đời của ông, cuối cùng lấy sinh mệnh của ông đã tiếp nối ngọn lửa thơm văn hóa của “Hồng Lâu Mộng” đã được đốt lên. Hơn nữa, khi ông đem đoạn lịch sử ngày càng chìm đắm mà ông đã nhìn thấy đó, đã gãy ngang trong sinh mạng của ông tựa như khi Giả Bảo Ngọc xuôi tay trước dốc đứng, Trần Dần Khác đứng sau lưng ông đột nhiên giác ngộ triệt để, nghiễm nhiên đã đón nhận nén hương tinh thần đó của Vương Quốc Duy để lại (Xem tác phẩm “Lịch sử cuối cận đại TQ từ Tăng Quốc Phan đến Mao Trạch Đông” và bài văn “Bi điếu Trần Dần Khác“Liễu Như Thị biệt truyện””). Trên cơ sở này, và cũng chỉ trên cơ sở tầm cao tinh thần này, con người mới có thể nhìn rõ cục diện văn hóa cơ bản trong lịch sự cuối cận đại TQ, và vị trí lịch sử của các nhân vật lịch sử trong cục diện này.

Trong cục diện lịch sử văn hóa cuối cận đại TQ bộn bề phức tạp, sợi dây lịch sử chủ yếu của nó là ở 3 nhóm văn hóa khác nhau, hoặc là nói 3 loại cảnh ngộ văn hóa khác nhau. Một là tầm cao tinh thần nhân văn từ “Hồng Lâu mộng” đến Vương Quốc Duy lại đến Trần Dần Khác; một nữa là từ Tăng Quốc Phan đến đổi luật duy tân, đến chí sĩ cách mạng cuối Thanh đầu Dân Quốc, lại đến lãnh tụ văn hóa “Ngũ tứ” và người sau nối tiếp người trước, hoặc là những người xông pha khói lửa của người Cộng sản thời kỳ đầu; còn một nữa là vòng tuần hoàn lịch sử của những giặc cỏ giang hồ vì người đẹp giang sơn mà ôm lưng từ Hồng Tú Toàn đến Tôn Trung Sơn, cuối cùng đến Mao Trạch Đông. Ba loại văn hóa này đều có nhân vật tượng trưng và dấu ấn lịch sử của mình. Không chỉ sợi dây mạch khí văn hóa của tính tinh thần ẩn ẩn có thể thấy đó, cho dù những tinh anh văn hóa có công lao đời này qua đời khác từ Tăng Quốc Phan đến “Ngũ tứ”, quĩ tích lịch sử nỗ lực từng bước một của họ cũng có thể nhận biết rạch ròi : Trước là dẫn nhập về kỹ thuật, chấn hưng về kinh tế (Sự nỗ lực của Tăng Quốc Phan, Lý Hồng Chương), sau đó nâng lên đòi hỏi về chính trị, cho dù hy vọng Lập hiến hay yêu cầu Dân chủ (100 ngày duy tân hoặc là luận bàn Dân chủ như Tống Giáo Nhân), cuối cùng lại nâng lên từ đổi mới ngôn ngữ mà dẫn đến cách mạng văn hóa (Phong trào Văn hóa mới “Ngũ tứ”). Điều này nếu nói lên từng bước một của tiến trình lịch sử, không bằng nói là khai triển từng tầng từng tầng lôgích.

Đáng tiếc là, tất cả những điều này, tất tần tật bị cuộc chiến tranh Bắc phạt mà Tôn Trung Sơn ấp ủ phát động nhằm mưu cầu đại nhất thống họ Tôn đánh gãy. Lịch sử sau khi đi quanh một vòng lớn, lại quay về dưới chân Hồng Tú Toàn này trước khi Tăng Quốc Phan xuất quân, chỉ có điều là chia ra Hồng Tú Toàn lúc đó, trước do Tôn Trung Sơn xuất diễn, về sau lại thay do Mao Trạch Đông sắm vai. Điều làm mọi người không thể nghĩ tới là, Mao Trạch Đông chẳng nói đã nhìn thấy, ít nhất là đã cảm nhận thấy sự chuyển hướng lịch sử này. Bởi vì ông ta không thể không biết xu hướng chính trị của ông hoàn toàn đi ngược với phong trào nông dân Hồ Nam với Tăng Quốc Phan mà rất sớm ông đã đi theo, ông ta không phải không biết lấy bạo lực trị bạo lực là đạo kinh bang tế thế khớp với nguyên tắc Tu, Tề, Trị, Bình của Tăng Quốc Phan, ông không thể không biết giữa Tăng Quốc Phan với Hồng Tú Toàn có một khác biệt căn bản, một là thư sinh, một là lưu manh. Nhưng ông ta ngang nhiên đã vứt bỏ cái ý khí, ông ta đã ngang nhiên lựa chọn con đường sinh nhai lưu manh. Ông ta không còn “chỉ điểm giang sơn, kích dương văn tự”, mà là chuẩn bị cần lấy phương thức “vì giang sơn mà khom lưng” để làm chúa tể nổi chìm của lịch sử TQ . Điều này cũng có thể là do chấn thương tinh thần trong hạ ý thức của ông tác động, cũng có thể là ông ta cảm thấy ngoài đó ra không có lựa chọn nào khác, trừ phi ông cam nguyện thầm lặng để đi qua cuộc đời này. Nhưng bất kể nói như thế nào, ông ta đã đưa ra lựa chọn như thế, từ phong trào nông dân Hồ Nam, đi tới cái gọi là bạo động thu hoạch vụ thu, cuối cùng đi tới giặc cỏ Tỉnh Cương sơn. Nói ra, làm mọi người than thở, chuyển ngoặt của lịch sử , có lúc là ở sự lựa chọn nhân sinh của một nhân vật lịch sử nào đó.

Đoạn luận bàn về lịch sử nói đến đây, vẫn còn phải đề cập đến một sự hoán vị lịch sử rất giàu kịch tính : khi Mao Trạch Đông từ thư sinh đi tới lưu manh, Tưởng Giới Thạch nối gót Tôn Trung Sơn mà nổi lên lại hết sức thú vị là muốn từ lưu mạnh biến thành thư sinh. Khi Tưởng Giới Thạch ở sau lưng Tôn Trung Sơn ngồi lên ngôi báu Ủy viên trưởng của Quốc Dân đảng, mượn danh Tôn Trung Sơn hiệu lệnh thiên hạ, ông ta lặng lẽ với hình mẫu và tinh thần của người thầy không phải là Tôn Trung Sơn mà là Tăng Quốc Phan. Cũng là nói, khi Mao Trạch Đông đem tất tần tật mọi thứ trong tủ sách nhật ký Tăng Quốc Phan vứt xuống đất, thì người khom lưng nhặt từ dưới đất lên những sách này không phải là đồng đảng đồng chí của ông mà lại là Tưởng Giới Thạch, oan gia đối đầu đã giết hại tanh máu đồng đảng đồng chí của ông. Một khúc cài xen lịch sử đầy ý vị sâu xa như vậy, đúng là có thể nói điều then chốt để đọc hiểu toàn bộ lịch sử hiện đại TQ là ở đây.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                       

Tưởng Giới Thạch xuất đạo trong bang Thanh Hồng, trong cốt tủy lại hết sức hướng võng làm một thư sinh “kích dương văn tự”. Bang hội giang hồ của TQ diễn biến đến khi Tưởng Giới Thạch xuất đạo, đã từ nông thôn tiến vào thành phố. Chớ coi thường sự biến đổi này, trong đó ảo diệu vô cùng. Cùng bối cảnh bang hội giang hồ như nhau, Tưởng Giới Thạch từ bãi Thượng Hải lăn lóc ra với Tôn Trung Sơn từ phố Đường Nhân đi ra (theo cách nói của Giáo sư Viên Vĩ Thời, Tôn trước 13 tuổi, lớn lên ở trong nông thôn Quảng Đông “tiền hiện đại”) là khác hẳn. Đường phố Đường Nhân xuất hiện trong thành phố phương tây, tuy bề ngoài cũng coi là một cảnh thành phố, nhưng trong xương tủy không có chút nào ý thức thành phố và ý thức văn minh hiện đại, hoàn toàn là kết quả di dân của nông dân TQ vào trong thành phố phương tây, chỉ có ý vị sinh tồn, không có ý hướng tồn tại. Vì vậy, Tôn Trung Sơn lớn lên trong môi trường như thế, bất kể sự thúc ép nào, cũng không muốn nghiên cứu học tập Tăng Quốc Phan. Tuy rằng lúc đó ông ta từng viết thư cho Lý Hồng Chương, nhưng thư của ông nặng như đá chìm nghỉm xuống biển (không biết Lý Hồng Chương vất vào đâu). Sau đó, Tôn Trung Sơn xuất thân từ bang hội giang hồ không còn dám hy vọng tiếp xúc với loại tinh anh chính trị văn hóa xuất thân Lý học Tống Minh, bởi vì tố chất văn hóa và khuynh hướng văn hóa của hai bên quả là quá khác nhau, Tôn Trung Sơn có một thứ tự bi vốn có trước mặt họ.

Nhưng Tưởng Giới Thạch cũng từ trong bang hội bãi Thượng Hải lăn ra lại đúng là ngược lại. Tuy rằng gốc rễ văn hóa của Tưởng Giới Thạch không thể so với Tôn Trung Sơn hơn chỗ nào, như trong tác giả truyện ký của ông đã viết, “thời kỳ trẻ thơ của ông được giáo dục rất ít”, nhưng ông lại có một thứ ngưỡng mộ và hướng võng âm thầm đối với văn hóa tinh anh. Điều này mà nói, đúng là ông ta đã phản bội Tôn Trung Sơn. Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, ông ta không những tỏ rõ tốt với Chương Thái Viêm, hơn nữa đối với Trần Độc Tú sau một độ bị bắt lại được thả, cũng tỏ lòng khá kính trọng, tuy rằng sự bày tỏ hữu hảo của ông không ngoài đại loại phương thức giang hồ âm thầm cử người đưa tiền. Hai nhân vật mà ông tỏ ý tốt, cho dù một là ngôi sao bắc đẩu học giới truyền thống, một là lãnh tụ đứng đầu văn hóa mới; một là đã từng hợp tác với Tôn Trung Sơn, một là không bao giờ muốn hợp tác với Tôn Trung Sơn, nhưng họ có cùng một đặc trưng chung, tức là trong cốt tủy của họ đều không chấp nhận Tôn Trung Sơn. Đương nhiên, phản bội lớn nhất của Tưởng Giới Thạch  đối với Tôn Trung Sơn, tức là không lấy Hồng Tú Toàn, mà là đổi thành lấy Tăng Quốc Phan làm thầy. Phản Xô thanh Cộng sau này của Tưởng Giới Thạch, ngoài nhu cầu lợi ích về chính trị, kinh tế ra, khuynh hướng văn hóa này của ông cũng là một nguyên nhân quan trọng không thể bỏ qua.

Kỳ thực khuynh hướng văn hóa này của Tưởng Giới Thạch cũng là sự tự phản bội của ông. Tự mình phản bội thế này, có thể là điểm mấu chốt để đọc hiểu Tưởng Giới Thạch ở đây. Tưởng Giới Thạch tuy là muốn học Tăng Quốc Phan, nhưng trong xương tủy ông không phải là Tăng Quốc Phan, tuy rằng ông nhiều lần bày tỏ một ít kính trọng với lãnh tụ văn hóa như Chương Thái Viêm hoặc Trần Độc Tú, nhưng trong cốt tủy ông lại không thật sự coi người văn hóa là một chuyện. Tính hài kịch ở đây là ở chỗ, Mao Trạch Đông lưu manh đến mấy, trong xương tủy vẫn như còn tồn tại văn hóa; còn Tưởng Giới Thạch dù có văn hóa đến mấy, trong xương tủy không cải mất được chất lưu manh của ông. Điều này tựa như Đỗ Nguyệt Sinh của đám Thượng Hải kính trọng có thừa đối với Chương Thái Viêm, nhưng Đỗ Nguyệt Sinh mãi mãi cũng không làm được người học trò của Chương Thái Viêm, ngay cả là học trò của học trò cũng không làm được. Tưởng Giới Thạch và Đỗ Nguyệt Sinh hoặc là với Tôn Trung Sơn có thể là sự khác nhau giữa 100 bước và 50 bước hoặc là 50 bước và 100 bước, còn sự khác nhau giữa Tưởng Giới Thạch với Tăng Quốc Phan là hoàng thổ ở núi cao. Lấy thêm một ví dụ khác, anh hùng thời loạn trong lịch sử TQ, Tào tháo là một độ cao. Ngoài Tăng Quốc Phan ra, trong lịch sử không có ai vượt qua Tào Tháo. Cái phông khí chất văn hóa, không phải cứ muốn học là học được.

Cái trớ trêu này của Tưởng Giới Thạch, đã dẫn ông đến thời khắc then chốt của lịch sử, đều là vén tay áo thấy khuỷu tay. Hơn nữa không nói đến cái gọi là “phong trào nếp sống mới” sau này của ông lấy “Lam y xã” nửa phát xít và “đảng Thanh niên cơ đốc giáo” kiểu Thanh giáo làm căn gốc và thúc đẩy, bị tác giả truyện ký của ông chế nhạo là “một thứ vật chất hỗn hợp kỳ quái được tạo thành bởi tư tưởng Nho gia với tư tưởng Cơ đốc giáo” (Xem Truyện Tưởng Giới Thạch); còn không nói đến, ông ta không biết giải thích như thế nào với dân chúng TQ về quyết tâm kháng chiến và khó khăn của lấy yếu thắng mạnh của ông khi đối mặt với phát xít Nhật xâm lược, cuối cùng dẫn đến bị người khổng chế trong “sự biến Tây An”; chỉ lấy thủ đoạn tách đảng thanh Cộng tanh máu khi ông lên nắm quyền là một ví dụ, là có thể nhìn thấy dù ông có hướng võng Tăng Quốc Phan đến mấy cũng khó cải nhân cách văn hóa bản tính lưu manh của ông.

Lấy vụ tách đảng thanh Cộng đẫm máu “412” Thượng Hải của Tưởng Giới Thạch làm điểm mốc, có một điểm khác căn bản với việc bình định Thái bình Thiên quốc của Tăng Quốc Phan : năm đó Tăng Quốc Phan là dựa vào lập trường văn hóa của sĩ đại phu để dẹp bạo động giặc cỏ Hồng Tú Toàn, điều này được diễn đạt không gì rõ ràng hơn trong “Thảo Việt phỉ hịch văn” của ông (Bài hịch dẹp phỉ Việt=Quảng Đông), còn Tưởng Giới Thạch lại mượn thế lực bang hội đồng thời với dập tắt bạo động thành phố kiểu cách mạng tháng mười Liên Xô, đã giết hại rất nhiều thanh niên nhiệt huyết chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” mà chạy theo đảng CS. Trong sự biến lịch sử này, trên con người Tưởng Giới Thạch ngoài hiện rõ thứ bá khí kiểu bang Thanh Hồng và tinh ranh của người con buôn Ninh Ba ra (Tựa như khí chất hổ và khí chất khỉ mà Mao Trạch Đông thích nói tới), không có một chút nào lòng dạ văn hóa và khí chất văn hóa kiểu Tăng Quốc Phan. Tưởng Giới Thạch một lòng muốn học Tăng Quốc Phan, nhưng khi đối mặt đại sự, bản năng lại làm theo Tôn Trung Sơn.

Khi Tống Giáo Nhân gian khổ nỗ lực về chính trị dân chủ ở Quốc hội, Tôn Trung Sơn vẩy tay bỏ đi. Đợi đến sau khi Tống Giáo Nhân bị Viên Thế Khải sát hại, Tôn Trung Sơn không những không đón nhận ngọn cờ dân chủ của Tống Giáo Nhân đã giương cao, nắm thời cơ thúc đẩy chính trị dân chủ, để dân chúng TQ có được cơ hội tốt nhất một lần học tập làm chính trị dân chủ là như thế nào, ngược lại ngang ngược cưỡng ép lăn dấu tay, giở giọng bang chủ trước cùng thành viên đảng cách mạng, đồng thời lại lấy cái gọi là phương thức bạo lực của “cách mạng lần hai”, để biểu thị với thiên hạ là ông ta Tôn Trung Sơn với Tống Giáo Nhân không phải là đứng cùng một lập trường. Tôn Trung Sơn với Tống Giáo Nhân tuy là cùng đảng cách mạng, nhưng lập trường văn hóa và khuynh hướng lịch sử của Tôn Trung Sơn lại là kiểu Viên Thế Khải, chứ không phải kiểu Tống Giáo Nhân.

Đúng lúc bước ngoặt lịch sử quan trọng, Tưởng Giới Thạch với Tôn Trung Sơn không có văn hóa như nhau, đầy khí chất bang hội như nhau, tuy rằng ông ta phủ định đường lối liên Nga liên Cộng của Tôn Trung Sơn. Tưởng Giới Thạch kết thúc đường lối chủ nghĩa Lênin của Tôn Trung Sơn là ở bản năng của ông ta là không thích bạo động kiểu Hồng Tú Toàn, hướng võng về Tu, Tề, Trị, Bình kiểu Tăng Quốc Phan một cách chân thành. Nhưng ông ta bất phân loại nào đã giết hại vô số trai gái thanh niên đã cuốn hút vào cuộc đại cách mạng đó, lại liên quan đến sự mù tịt không hay biết gì của ông ta đối với phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ”. Những người đảng CS trẻ này đến vạn lần không phải, cũng không nên bị sát hại như thế, huống hồ về mặt tinh thần và ý thức lịch sử, phần lớn họ đều là sản phẩm lịch sử của phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ”. Tôn Trung Sơn vốn là dựa vào thân phận giang hồ và ý thức bang hội đã là ngăn cách tự nhiên, vô tri tự nhiên đối với “Ngũ tứ”, còn trong cuộc đại thảm sát này của Tưởng Giới Thạch càng là đã đem Quốc Dân đảng mãi mãi xa rời với “Ngũ tứ” về chính trị và văn hóa. “Ngũ tứ” với là một nguồn lực văn hóa hoàn toàn mới, tràn đầy sức sống sáng tạo lịch sử. Từ một ý nghĩa nào đó, thậm chí có thể nói, ai chiếm được nguồn lực văn hóa của “Ngũ tứ”, người đó sẽ trở thành người thắng trong giành giật Trung nguyên. Trong cuộc nội chiến thập kỷ 40 sau này đó, tại sao Mao Trạch Đông đã giành được thắng lợi chứ không phải Tưởng Giới Thạch giành được thành công, nguyên nhân văn hóa lịch sử căn bản của nó là ở chỗ Mao Trạch Đông dùng lời văn bạch thoại viết lên hình ảnh sinh động đã chiếm được nguồn lực “Ngũ tứ”. Tưởng Giới Thạch vô tri khi chia tay với cố vấn Liên Xô năm 1927, lại không hiểu tý gì tầm quan trọng của nguồn lực “Ngũ tứ”. Năm đó Trần Quýnh Minh khi làm lãnh tụ Quảng Đông, đã từng mời Trần Độc Tú ra đảm nhiệm Bí thư trưởng Ủy ban Giáo dục Quảng Đông. Chỉ riêng sự khác biệt này, là có thể nhìn thấy sự chênh lệch về tố chất văn hóa của Tưởng Giới Thạch, cũng có thể nhìn thấy Tôn Trung Sơn khi lựa chọn người để đi theo, hàm lượng văn hóa trong tầm nhìn của ông ta nghèo nàn mức độ nào. Đương nhiên, cũng từ đó có thể thấy, thất bại của Tưởng Giới Thạch là đã được định ngay từ thời khắc mà ông ta bước lên vũ đài lịch sử.

Vì thế, người thứ hai mà Mao Trạch Đông nên cảm ơn chính là Tưởng Giới Thạch. Bắc phạt của Tôn Trung Sơn, chỉ là cung cấp cho Mao Trạch Đông tạo điều kiện lịch sử để đi tới cách mạng bạo lực, đại thảm sát của Tưởng Giới Thạch mới mang lại tính hợp lý hơn nữa cho cách mạng bạo lực của Mao Trạch Đông. Điều ngu muội của đại thảm sát Tưởng Giới Thạch ở chỗ, vốn trong tay không có mấy nguồn lực văn hóa, kết quả còn muốn lấy máu rửa đảng CSTQ kiểu “Ngũ tứ” của Trần Độc Tú để thanh toán tội lỗi lịch sử phạm phải do Tôn Trung Sơn cấu kết với chuyên gia bạo động Liên Xô. Bởi vì không có đầu óc văn hóa, Tưởng Giới Thạch không hiểu khi đối mặt với bạo động kiểu chủ nghĩa Lênin Liên Xô, nên phân biệt phạm tội bạo lực với quần chúng manh động chủ nghĩa lý tưởng. Cứ coi không có đầu óc văn hóa, giả như Tưởng Giới Thạch hiểu chút ít mưu lược Mặt trận thống nhất của Mao Trạch Đông, ông ta sẽ không điên cuồng đến mức “thà có thể giết sai một ngàn, không thể bó sót một”. Ngoài mang cái tính khí bang hội Thanh Hồng Thượng Hải ra cộng thêm cái tinh ranh con buôn Ninh Ba để làm chính trị tất phải chật hẹp, không cần nói đến việc không hiểu đồng thời với cắt đứt nanh vuốt người Liên Xô, loại trừ chủ nghĩa Lê nin, cần tranh thủ nguồn lực văn hóa “Ngũ tứ”, ngày cả việc phân hóa làm tan rã đảng CSTQ lúc đó nội bộ đang chia 5 xẻ 7, cũng không biết làm; thậm chí cũng không biết dùng ngón chính trị để tranh thủ đa số, cô lập số rất ít, cũng không biết.

Thành quả Bắc phạt đã đến tay Tưởng Giới Thạch, nhưng lại phải trả giá rất lớn, đem nguồn lực văn hóa vung tay đưa cho đảng CSTQ, hơn nữa còn từ tay Trần Độc Tú chuyển đưa vào tay Mao Trạch Đông sau này. Người Liên Xô còn không chỉ tước đoạt quyền lãnh đạo của Trần Độc Tú trong đảng CSTQ, còn thảm sát của Tưởng Giới Thạch đồng thời với việc đưa tính hợp lý lịch sử tặng cho kẻ cách mạng bạo lực như Mao Trạch Đông, đưa lãnh tụ văn hóa như Trần Độc Tú cuối cùng phải ra khỏi vũ đài chính trị và vũ đài lịch sử. Toàn bộ quá trình tựa như một cuộc biểu diễn xiếc, một bên mặc nhiên rút lui sân khấu là Trần Độc Tú, một bên ngang nhiên nhảy lên sân khấu là Mao Trạch Đông; đồng thời với đó, con dao của Tưởng Giới Thạch không biết như thế nào mà lại đưa vòng nguyệt quế văn hóa mới “Ngũ tứ” trên đầu Trần Độc Tú rơi lên đầu Mao Trạch Đông, dẫn đến cuối cùng tiếng nói “Ngũ tứ” hoàn toàn trở thành tiếng nói Mao Trạch Đông. Hơn nữa lúc đó, văn hóa mới “Ngũ tứ” là qua cúng thờ bằng máu, đã trở thành Thần Thánh chung như Cơ Đốc, khiến mọi người cười chê ở chỗ, Thần thánh này, về sau lại nghiễm nhiên ngồi sai chỗ thành tiền đề lịch sử sản sinh ra thần thoại Mao Trạch Đông. Lịch sử đã âm lệch dương sai như thế ! Nếu như Tăng Quốc Phan dưới Suối vàng biết được, không biết những giọt nước mắt già tung hoành sẽ như thế nào. Cần biết rằng, bất kể Tưởng Giới Thạch ra sức học tập Tăng Quốc Phan như thế nào, bất kể Mao Trạch Đông đã quên hẳn Tăng Quốc Phan như thế nào, Tăng Quốc Phan vẫn rất khó được mời quay lại lên vũ đài lịch sử TQ. Nền móng văn hóa của Tưởng Giới Thạch đúng là rất cạn, văn Văn ngôn của ông ta viết ra còn tạm được, nhưng cũng không viết hơn được văn Bạch thoại của Mao Trạch Đông. Không nói các thứ khác, chỉ so một chút “Vận mệnh TQ” mà Tưởng Giới Thạch dốc sức miệt mài viết ra với “Luận chủ nghĩa dân chủ mới” của Mao Trạch Đông chỉ vung bút một chốc viết ra, là có thể hiểu rõ, lưu manh có tiếp tục văn hóa đến mấy vẫn là lưu manh, người văn hóa tiếp tục lưu manh cũng vẫn là văn hóa.

Tường Giới Thạch không có văn hóa, Tôn Trung Sơn cũng không thoát khỏi không văn hóa như thế đã thiết định bóng đen lịch sử cho ông ta. Tưởng Giới Thạch tuy là đã lật đổ liên Nga liên Cộng của Tôn Trung Sơn định ra lúc đó, nhưng mọi thứ về chính trị của ông ta đều đến từ Tôn Trung Sơn. Sau khi ông ta bước lên đỉnh cao quyền lực, không thể không tôn Tôn Trung Sơn lên là Quốc Phụ, lấy đó để giữ được tính hợp pháp kế thừa quyền lực; không thể không tiếp tục giương cờ hiệu Tôn Trung Sơn, khiến quốc dân suốt ngày ngâm đọc như có thật cái gọi là “Di huấn Tổng lý”, lấy đó làm nguồn vốn tiếng nói ít ỏi đáng thương của ông ta. Không có Mao Trạch Đông không có nút thắt lịch sử đảng CSTQ, ở Tưởng Giới Thạch lại là không có Tôn Trung Sơn tức là không có Tưởng Giới Thạch ông ta. Về mặt đầu óc văn hóa và tâm hồn lịch sử mà nói, Tưởng Giới Thạch so với Trần Quýnh Minh cách quá xa quá xa; về trị quốc mà nói, Tưởng Giới Thạch lại không thể bì với Diêm Tích Sơn; việc hành quân đánh giặc của ông ta không bằng bọn Lý Tôn Nhân, Bạch Sùng Hỷ, về cái nền văn hóa của ông ta lại khó mà so với lớp Ngô Bội Phù, Đoạn Kỳ Thụy, coi như so về khí chất phỉ, về ngang ngược, ông ta cũng không bằng Trương Tác Lâm Đông Bắc dám làm dám quậy, vừa kiên quyết chống Cộng chống Liên Xô, lại quyết không cúi đầu trước người Nhật. Bóng mờ lịch sử của Tôn Trung Sơn đối với Tưởng Giới Thạch mà nói, đó là tiên thiên bất túc của ông ta.

Vị Ủy viên trưởng này một lòng muốn học Tăng Quốc Phan,. nguồn vốn chính trị và tính hợp lý lịch sử, v.v… của ông ta đều toàn là đến từ nơi Tôn Trung Sơn bậc tiền bối kiểu Hồng Tú Toàn của ông ta. Sở dĩ Tôn Trung Sơn ban cho chức Hiệu trưởng Trường quân sự Hoàng Phố, trở thành toàn bộ nguồn vốn để thành sự và là đệm lót cơ bản của con đường đi lên vũ đài lịch sử sau này của Tưởng Giới Thạch. Cho dù lịch sử đã bị Tôn Trung Sơn từ quĩ đạo Tăng Quốc Phan vạch ra quay về lại dưới chân Hồng Tú Toàn, đương nhiên Tưởng Giới Thạch ngoài dựa vào “chính quyền xuất ra từ trong họng súng” ra, không có lựa chọn nào khác. Mà thất bại cuối cùng của ông ta rút sang Đài Loan, cũng là một lựa chọn không thể nào khác. Hoặc nói là, đó là kết quả tất yếu của nhân cách văn hóa và phẩm tính chính trị như thế của ông ta. Tác giả Truyện ký Tưởng Giới Thạch tổng kết một cách hết sức làm trò cười cả cuộc đời Tưởng Giới Thạch rằng : “Từ ý nghĩa bi kịch Hy Lạp mà nói, ông ta cũng là một nhân vật của tính bi kịch”. Thật không hiểu rõ vị tác giả Truyện ký này cuối cùng đã xem qua bị kịch Hy Lạp hay chưa, hay là không hiểu bản thân con người Tưởng Giới Thạch, nghiễm nhiên rút ra kết luận trời ơi như vậy. Bởi vì những tiên thiên bất túc này của Tưởng Giới Thạch, tất nhiên Mao Trạch Đông hết sức coi thường đối thủ như thế này. Bất kể thân mình đang ở vào cảnh ngộ khó khăn như thế nào, Mao Trạch Đông trước sau vẫn tràn đầy niềm tin tất thắng, coi thắng lợi là một vừng trời hồng đang nhô lên, một thai nhi đang cựa quậy trong bụng mẹ. Cũng như thế, vì tôn thờ bạo lực là giải quyết được mọi sự, tôn thờ “chính quyền xuất ra từ trong họng súng”, đây là luật bất thành văn của Tưởng Giới Thạch, còn ở Mao Trạch Đông lại là hệ thống tự thành. Cũng tức là nói, bạo lực của Tưởng Giới Thạch là không có ngôn từ bạo lực tương ứng, còn bạo lực của Mao Trạch Đông lại có toàn bộ ngôn từ của cách mạng bạo lực làm cơ sở. Còn chưa nói cải cách của Tăng Quốc Phan không sùng bái bạo lực, cho dù trong bài “Thảo Việt phỉ” đó của ông, Tưởng Giới Thạch cũng không có năng lực chỉnh hợp thành ngôn từ kiểu vỏ bọc hoàn chỉnh như thế như Mao Trạch Đông. Hết sức hiếm khi thấy Mao Trạch Đông đem bản Hán ngữ hiện đại về chủ nghĩa Mác Lê với ý thức bạo dân trong tiểu thuyết diễn nghĩa TQ hòa trộn tự nhiên với nhau thành một hệ thống ngôn từ cách mạng. Trong đó không chỉ có phương châm cơ bản của “Từ nông thôn bao vây thành thị”, mà còn có “tam đại pháp bảo” để làm thế nào giành thắng lợi, còn có thêm một hệ thống thuật nô dịch tinh thần làm thế nào cải tạo và khổng chế tư tưởng con người, gắn với chủ nghĩa lý tưởng đẹp đẽ hùng vĩ bao gói, từ giải phóng một thôn đến giải phóng một thành phố, tiếp đến giải phóng một quốc gia, cuối cùng còn giải phóng toàn nhân loại. Đúng là phong thái, tinh tế của ông quá cao đẹp. Hành vi dã man nhất, tâm địa đen tối nhất, phương thức xấu xa nhất, chém gió khoác lác nhất, kết hợp lại với nhau thật kỳ diệu, đã cấu thành một tòa mê cung ngôn từ tinh tế mà lại giản đơn sáng tỏ. Không cần nói đến người TQ biết nói Hán ngữ hiện đại bị lừa cho điên đầu xoay hướng, còn với người phương tây không hiểu Hán ngữ hiện đại, bất luận là phóng viên Mỹ hay chính khách Pháp, cũng đều bị hù cho đôi mắt hôn hoa lên, không nói đến ngũ thể rụng rời, ít nhất cảm thấy thần bí khó lường.

Đây đúng là một kỳ tích trong lịch sử TQ, nhưng tuyệt đối không phải là niềm tự hào của người TQ. Bởi vì Mao Trạch Đông dựa vào năng lực ngôn từ của ông, tạo nên những thuật đế vương đó để ông giở ra đủ trò, nói toạc ra thì cũng rất giản đơn. Ví như, sở trường đặc biệt của ông là ở, đối với người văn hóa cần lưu manh, sau đó ngược lại đối với kẻ vạm vỡ vũ phu giả bộ là người văn hóa. Khi phần tử tri thức yêu cầu tự do yêu cầu dân chủ, Mao Trạch Đông dùng cách “không cho ăn”, hoặc xua đến nhà máy, nông thôn làm lao động chân tay nặng nhọc, là giải quyết ổn thỏa một cách nhẹ nhàng; còn ông ta xoay người một cái, đối với lục lâm vũ phu chân tay to tợn, đầu não giản đơn, lại khuyên bảo họ một cách thật lòng hãy đọc “Hồng Lâu Mộng” đi, lại còn như có chuyện ấy thật luôn hỏi họ đã đọc chưa ? đọc mấy lần ? hai lần ? không đủ, ít nhất 5 lần ? Cứ như vậy, v.v… Người đã đọc qua “Tam quốc diễn nghĩa” đều nên biết thủ pháp này.

Mao Trạch Đông đúng là nên cám ơn nhiều Tưởng Giới Thạch. Giả sử không có vụ thảm sát đó của Tưởng Giới Thạch, nguồn vốn lịch sử của văn hóa mới “Ngũ tứ” không qua một lần cúng tế máu như thế, vậy thì Mao Trạch Đông có năng lực ăn nói đến mấy cũng rất khó mà đem ngôn từ bạo lực và ngôn từ đế vương của ông ta với “Ngũ tứ” kết nối thành văn một cách thuận lý. Khi Tôn Trung Sơn đang làm trường Quân sự Hoàng phố, Trần Độc Tú lại không vì điều đó đem lời lẽ “Ngũ tứ” để trình bày kiểu trường quân sự Hoàng Phố, cho đến sau khi Tưởng Giới Thạch sát hại rất nhiều nam nữ thanh niên chịu ảnh hưởng văn hóa mới “Ngũ tứ” mà tin thờ chủ nghĩa Cộng sản vào đảng CSTQ, cách mạng bạo lực mới nâng lên vị trí lịch sử có thể trở thành một thứ ngôn từ lịch sử mới. Hơn nữa, không nói các thứ khác, cho dù là tâm lý phục thù truyền thống, mà cổ xưa, là đủ để khiến cái gọi là “đấu tranh vũ trang” trở thành nhận thức chung của người đảng CSTQ, đủ để khiến Trần Độc Tú kiên trì lập trường phi bạo lực đành phải rút khỏi vũ đài lịch sử. Người TQ vốn  là tin vào cái gọi là “lấy độc trị độc”, đã biết Tưởng Giới Thạch có thể tàn độc như thế, vậy thì Mao Trạch Đông có tàn ác đến mấy đi nữa cũng là hợp tình hợp lý. Nếu không, dân chúng TQ làm sao yêu thích Võ Tòng đã giết người từng nhà từng nhà lớn nhỏ như thế, phun máu trên tường mà viết “kẻ giết người, Võ Tòng đánh hổ vậy” ? Đây chẳng phải là bắt nguồn từ một thứ lôgích bạo lực của cách mạng có lý, giết người vô tội ? Lấy một ca từ trong kịch “Thủy hử truyện” trên màn hình TV, gọi là “khi cần ra tay là ra tay”, với ý là, khi cần giết người là giết người. Bộ phim kịch TV đó có thể là được quay 20 năm sau cách mạng văn hóa, nhưng sùng bái bạo lực và tâm lý bạo dân không thấy có chút thay đổi nào. Từ đó có thể thấy, tính hợp lý lịch sử của Mao Trạch Đông, gần mà nói, là đại thảm sát của Tưởng Giới Thạch đưa cho; còn lâu dài mà nói, lại do toàn thể dân chúng TQ cùng tạo thành. Sự thực thì, thành công của Mao Trạch Đông, ngoài tài năng cá nhân về ăn nói ra, một nguyên nhân lịch sử quan trọng cũng là ở, khi ông ta hoàn thành ngôn từ bạo lực hiện đại của ông ta, toàn bộ giới tri thức và giới văn hóa TQ còn chưa kịp hoàn thành ngôn từ cải lương hiện đại hệ thống, còn chưa hoàn thành một hệ thống ngôn từ chính trị liên bang dân chủ hiện đại có tính thao tác, thiết thực khả thi; còn ngôn từ tinh thần nhân văn hiện đại từ “Hồng Lâu Mộng” đến Vương Quốc Duy tiếp đến Trần Dần Khác, lại do lịch sử bạo ngược và bạo ngược lịch sử mà bị treo lên thời gian dài, cho đến ngôn từ Mao Trạch Đông ngang ngược thô bỉ chẳng phải đã dễ dàng lan tỏa khắp nơi.

Khai sáng văn hóa “Ngũ tứ” đã bị cuộc chiến tranh Bắc phạt của Tôn Trung Sơn cắt đứt giữa chừng, sau này đến tận thập kỷ 80, lại mới được khơi dậy lại, thế nhưng chưa đến 10 năm, lại bị một vụ án đổ máu cắt đứt. Cái bi ai của lịch sử TQ, đều là cứ vừa mới bước lên quĩ đạo cải lương chính trị hoặc xây dựng văn hóa, đùng một cái lại bị một cuộc bạo lực đẩy vào vòng tuần hoàn lịch sử đen tối.

Có người nói, sở dĩ “Ngũ tứ” khó kế tiếp, đó là vì cứu vong áp đảo khai sáng dẫn đến. Đâu biết, khai sáng “Ngũ tứ” lấy Bắc Đại làm dấu mốc, rất sớm từ trước khi kẻ xâm lược Nhật Bản vào, là đã bị chủ nghĩa bạo động Lênin lấy trường quân sự Hoàng Phố làm dấu mốc cắt đứt một cách thô bạo. Bất luận là Tôn Trung Sơn hay là người Liên Xô và Cộng sản quốc tế, đều không coi khai sáng “Ngũ tứ” là gì cả.

Còn bản thân phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ”, cũng có tính hạn chế lịch sử hết sức chí mệnh. Phong trào khai sáng “Ngũ tứ” vừa chưa xây dựng được tiếng nói tinh thần hiện đại, cũng chưa tìm được tiếng nói cải lương hiện đại, càng không có ý thức được sự chấn thương vô ý thức tập thể trong tiểu thuyết diễn nghĩa giữa Tống Minh đã gây nên bẻ cong tâm lý văn hóa cả dân tộc, càng đen tối hơn văn hóa Khổng Nho lúc mặt trời đã xế núi tây.

Các lãnh tụ văn hóa mới “Ngũ tứ” lấy khoa học và dân chủ làm ngọn cờ, chỉ biết cần lật đổ “Khổng gia điếm”, không biết tâm lý văn hóa tập tục trong “Tam quốc diễn nghĩa” và “Thủy hử truyện” càng phản khoa học phản dân chủ hơn Khổng học Nho giáo. Có lẽ chỉ có Lỗ Tấn ý thức được bẻ cong tâm lý như thế, đã đề ra phê phán có tính quốc dân. Nhưng Lỗ Tấn lại không tiếp tục đưa nó nâng lên thành một thứ ý thức văn hóa có tính xây dựng rõ ràng. So sánh như vậy, sự nỗ lực của Chu Tác Nhân đối với sự coi trọng của bi kịch Olipits và đưa “Ngũ tứ” với tiểu phẩm cuối Minh làm sự gắn kết tinh thần, có thể càng có thêm tính xây dựng về tinh thần nhân văn. Nhưng bởi vì sự nổi lên của ngôn từ Mao Trạch Đông, sự quan sát rõ ràng và nỗ lực này của anh em họ Chu, cuối cùng đều đã thành mây khói thoáng qua bay đi. Mao Trạch Đông với một thứ ngôn từ đế vương hiện đại đã cưỡng hiếp tinh thần “Ngũ tứ” cực kỳ tùy ý, đồng thời lại đem lời nói Lỗ Tấn nói liều thành “anh hùng dân tộc”, nghe thấy tựa như đại loại các nhân vật Nhạc Phi, Văn Thiên Tường. Mao Trạch Đông lấy đó chèn mất ngọn dáo lịch sử của phê phán có tính quốc dân của Lỗ Tấn, đã bóp chết tính khả năng của phần tử tri thức dựa vào tinh thần “Ngũ tứ” nghi ngờ sự chấn thương thứ tâm lý dân tộc đó trong tiểu thuyết diễn nghĩa. Đương nhiên, phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” điều làm người ta tiếc nuối nhất là ở chỗ không có được từ ngôn từ văn hóa cải lương văn học nâng lên thành ngôn từ lịch sử của cải lương chính trị cải lương xã hội. Lịch sử trước khi được làm ra, thường đòi hỏi trước tiên được nói ra. Nhất là tiến trình lịch sử từ chuyên chế đại nhất thống chuyển sang chế độ liên bang dân chủ, là tuyệt đối không thể nhập nhằng với từ “mò đá qua sông”. Giả như Chu Công lúc đó không ban bố cáo lệnh nhiều như thế, hệ thống tập quyền chuyên chế của ông lại làm thế nào từng bước xác lập được ? Cũng tựa như Mao Trạch Đông giả như không xây dựng được cả hệ thống ngôn từ của ông, dựa vào cái gì để chinh phục đảng của ông và chinh phục thiên hạ ? Ý thức của lịch sử chung là thông qua ngôn từ có tính lịch sử, cuối cùng trở thành sự thực lịch sử.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        Đáng tiếc lịch sử lớn nhất của Tăng Quốc Phan để lại là ở chỗ chưa xây dựng được lý luận văn hóa và ngôn từ chính trị tương ứng với công lao sự việc của ông (Xem chương III trước tác”Bàn về lịch sử muộn cận đại TQ”, “ý vị không lời của công lao Tăng Quốc Phan”). Tăng Quốc Phan xuất thân của học tập nghiên cứu Lý học Tống Minh, không cách gì đưa Lý học Tống Minh làm nguồn vốn ngôn từ cải cách xã hội của ông, vì vậy nguồn vốn này đúng là đã giết chết về mặt tinh thần.

Tuy rằng Tăng Quốc Phan đã để lại rất nhiều thư tín và bản sớ, nhưng ông không viết ra được ngôn từ cải cách hệ thống. Thậm chí, tuy ông đã dập tắt bạo loạn Hồng Tú Toàn, nhưng đều không cách gì hình thành được lý luận “dẹp phỉ” hoàn chỉnh. So với Mao Trạch Đông sau này biết nói biết năng như thế, Tăng Quốc Phan thực là quá nhậy bén với hành mà lại vụng về với nói. Sự đáng tiếc lịch sử này đã dẫn đến một đáng tiếc khác, đó là đợi đến sau này khi Khang Hữu Vi có ý định xây dựng một hệ thống ngôn từ cách mạng, lại hết sức sai lầm quay về lại ngôn từ Khổng Nho, với ý đồ tìm được lý tưởng không tưởng (Utopia) “thế giới đại đồng” trong luân lý Nho giáo. Utopia của Khang Hữu Vi là ảo tưởng, nhưng dã tâm của Khang Hữu Vi lại là thực tại. Đại ngôn trống rổng chung là với khát vọng quyền lực ngôn từ bổ sung cho nhau, tựa như hai mặt của một đồng tiền vậy, lật bên này là lý tưởng, lật bên kia là dã tâm. Đẻ non của biến pháp Mậu Tuất, với mức độ rất lớn là có quan hệ với dẫn dắt sai lầm của dã tâm Khang Hữu Vi. Một cuộc cải cách lịch sử trọng đại vạch thời đại là tuyệt đối không thể dựa vào những đại ngôn trống rổng. Lịch sử không dễ dàng mà đã đi tới phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ”, lúc đó ngôn từ cải cách xã hội, Tăng Quốc Phan chưa thể xây dựng được, không dễ dàng chờ đợi thời cơ để xây dựng lại, nhưng lại bị ảnh hưởng của bạo loạn tháng Mười Liên Xô. Bạo loạn tháng Mười Liên Xô không chỉ ảnh hưởng đến khí chất tinh thần và chỉ hướng văn hóa của ngôn từ “Ngũ tứ”, hơn nữa thông qua Tôn Trung Sơn đã trực tiếp xoay hướng tiến trình lịch sử của xã hội TQ. Cách mạng bạo lực của Liên xô đã kích phát trên đại địa TQ không phải là thứ tinh thần sáng tạo lịch sử biết không thể làm được mà vẫn làm từ trước của người TQ, mà là ý thức sùng bái bạo lực, khoái cảm bạo động và dân bạo trong tiểu thuyết diễn nghĩa lan tỏa rộng khắp sau này. Từ đó, ba nhân vật lịch sử trước sau được hun đúc lên, Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, người sau so người trước càng lưu manh, càng nham hiểm hơn. Cuối cùng, kẻ lưu manh nhất, nham hiểm nhất đó đã thắng và xuất hiện. Hoặc là nói, kẻ “Thủy hử truyện” nhất, “Tam quốc diễn nghĩa” nhất, trở thành kẻ đại thắng.

Ngôn từ cải lương hiện đại, bao gồm ngôn từ liên bang dân chủ về chính trị, ở TQ hiện nay vẫn là khoảng trắng, vẫn là đang dừng lại ở tìm tòi bàn thảo đối với văn hóa phương tây và chính trị phương tây, còn chưa trở thành Hán ngữ hiện đại của người TQ, nhất là Hán ngữ hiện đại của bản chữ giản thể. Điều này ngoài nguyên nhân lịch sử của việc làm ồn ào lên của Tôn Trung Sơn và sự nổi lên của Mao Trạch Đông ra, lãnh tụ của phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” cũng không thể thoái thác trách nhiệm. Ví như Hồ Thích vô tri đối với Thiền Tông, hiểu lờ mờ đối với “Hồng Lâu Mộng”, 3 cái “đánh đổ” khi Trần Độc Tú đề ra chủ trương “cách mạng văn học”, bất phân xanh đỏ trắng đen đồng loạt phủ định “văn học quí tộc, văn học miếu đường, văn học sơn lâm” truyền thống, cực đoan của nó giống như Tưởng Giới Thạch sau này cũng bất phân xanh đỏ trắng đen sát hại tất cả người Cộng sản.

Hồ Thích, Trần Độc Tú, v.v… thứ phương thức tư duy thể hiện ra trong khai sáng “Ngũ tứ”, có lúc cũng khá là “Thủy hử”, tựa như Lý Quì ấy, “sắp đầu mà chặt”. Cái hay của Hồ Thích là khi đối mặt với chuyên chế không có văn hóa Tưởng Giới Thạch trước sau kiên trì lập trường văn hóa sùng thượng chính trị dân chủ và tư tưởng tự do của mình. Còn cái thông minh hơn người của Trần Độc Tú lại ở chỗ, đã tỉnh ngộ nhanh chóng, sau khi ông đã trải qua hiện thực tàn khốc của bạo động chủ nghĩa Lenin Liên Xô, đã trải qua đấu tranh trong đảng của đảng CSTQ, hoặc nói là tranh quyền đoạt lợi tàn sát nhau giữa các đồng chí, đồng bọn với nhau. Cuối đời, Trần Độc Tú không những từ chối đi Diên An, mà còn kiên quyết phê phán chuyên chế của Stalin và phản tỉnh nguyên tắc bạo lực của cách mạng chủ nghĩa Cộng sản. Giả như phủi sạch trùng trùng lớp lớp bụi lịch sử và bụi ngôn từ do con người gây ra, mọi người có thể phát hiện, khi Mao Trạch Đông vứt bỏ lập trường văn hóa “Ngũ tứ” chuyển sang ngôn từ bạo lực hiện đại và ngôn từ đế vương hiện đại kiểu giặc cỏ, vừa khéo lúc đó Trần Độc Tú lại quay về lập trường văn hóa “Ngũ tứ” trước đây của ông, hơn nữa đã tiến hành phê phán triệt để đối với chủ nghĩa Lenin và chuyên chế Stalin của Liên Xô. Trần Độc Tú đội lên đầu cái mũ chính trị “Trần nâng đỡ phái thủ tiêu” (Trần Độc Tú nâng đỡ phái thủ tiêu), kiên trì lập trường văn hóa “Ngũ tứ” của ông đến phút cuối cùng của cuộc đời.

Cái tuyệt vời nhất của cuộc đời Trần Độc tú là, những năm ban đầu không chấp nhận Tôn Trung Sơn, về sau không chấp nhận Tưởng Giới Thach, cuối cùng lại không chấp nhận Mao Trạch Đông. 3 đại lưu manh trong lịch sử muộn cận đại TQ, ông không chấp nhân một ai. Từ rất sớm ông đã cự tuyệt đồng tình dã tâm đại Tổng thống và chiến tranh đại nhất thống của Tôn Trung Sơn, sau khi Trần Quýnh Minh gây chuyện lật Tôn Trung Sơn, hết sức chân tình mời Trần Quýnh Minh  tham gia đảng CS, lãnh đạo cách mạng Địa khu Hoa Nam (xem bài “Trần Quýnh Minh đoạn tuyệt với Tôn Trung Sơn như thế nào”). Về sau ông ta thân trong tù, Tưởng Giới Thạch mấy lần tỏ ra hữu hảo với ông ta, ông ta đều lạnh lùng từ chối. Lý do bề mặt là Tưởng Giới Thạch đã giết hại hai đứa con của ông, và tín ngưỡng hai bên khác nhau, nhưng trong xương tủy lại là một lãnh tụ văn hóa coi thường đối với kiêu hùng chính trị xuất thân từ bang Thanh Hồng và không thể đồng tình với “đạo khác nhau, không cùng chung mưu”. Trần Độc Tú sau này sau khi ra tù, lại từng gặp những lời đồn giữa ông với Diên An, nhưng ông vẫn từ chối đi Diên An, càng từ chối yêu cầu của Mao Trạch Đông bằng phương thức viết kiểm thảo để nhập bọn lại. Hồi đó, Tôn Trung Sơn đã từng yêu cầu Trần Quýnh Minh viết viết đơn sám hối, Trần Quýnh Minh đều cự tuyệt, Trần Độc Tú với vai trò là lãnh tụ văn hóa, càng không thể chịu sự ép buộc ông viết kiểm thảo theo yêu cầu của Mao Trạch Đông. Nói thêm, Mao Trạch Đông đã xưng vương ở Diên An, cứ từ qui tắc giang hồ để nói, một ngọn núi làm sao dung hai hổ ? Người ta có thể cố tìm mọi thứ lý do của Trần Độc Tú không đồng tình ba con người này, nhưng qui cho cùng nguyên nhân là ở, bất kể thời đầu Trần Độc Tú cấp tiến như thế nào, nhưng về khuynh hướng văn hóa của ông lại gần gủi với những người như Tăng Quốc Phan, tất nhiên tương khắc với những người như Hồng Tú Toàn.

Đương nhiên, hoang đường của lịch sử lại ở chỗ, cho dù Mao Trạch Đông đã nhồi nhét ngôn từ bạo lực hiện đại và ngôn từ đế vương hiện đại của ông vào đảng CSTQ như thế nào, nhưng vòng nguyệt quế văn hóa mới “Ngũ tứ”, lại bị ông ta mãi mãi ngoắc vào đầu “đảng Sơn” của ông, từ đó làm cho phong trào văn hóa mới “Ngũ tứ” với là một thứ nguồn lực lịch sử sâu đậm mãi mãi do ông chiếm hữu. Đây là một nguyên nhân lịch sử văn hóa có tính quyết định cuối cùng giang sơn vào tay Mao Trạch Đông và đảng CSTQ của ông.

Đảng CSTQ thoát thai từ phong trào “Ngũ tứ”, bất luận đi tới đâu, đều mang theo tính tượng trưng của “Ngũ tứ” đi theo tới đó. Lúc đó rất nhiều thanh niên nhiệt huyết đến với Diên An, nói là đến với Mao Trtạch Đông, đến với đảng CSTQ, không bằng nói là đến với văn hóa “Ngũ tứ” thiêng liêng trong con mắt của họ. Có thể nói, đến với Diên An của thanh niên nhiệt huyết lúc đó, trong đó chẳng có mấy người đã đọc các bài Mao Trạch Đông viết, phần lớn là đã đọc tác phẩm văn học bạch thoại hiện đại “Ngũ tứ”, như của Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, cho đến Ba Kim, Lão Xá, v.v… Cho đến có một số thanh niên như Vương Thực Vị, v.v… về sau thất vọng đối với Diên An, cũng chính là thất vọng ở chỗ, họ phát hiện Diên An với lý niệm khoa học dân chủ của “Ngũ tứ” căn bản không phải là một chuyện. Trên thực tế, không cần nói đến những người lúc đó, mà về sau, cũng rất khó phân biệt rõ đảng “Ngũ tứ” của Trần Độc Tú với “đảng Sơn” của Mao Trạch Đông, nói cho cùng là có bao nhiêu điều khác nhau về thực chất. Có lẽ lúc đó chỉ có Trần Độc Tú thấy rõ, ông ta nhìn rõ sự khác nhau, cho nên ông ta thà cùng đường mà chết cũng không đi Diên An nhập bọn.

Nhưng từ một mặt khác để nói, bất kể Mao Trạch Đông cải tạo đảng CSTQ thành một đảng giặc cỏ, đảng bang hội giang hồ như thế nào, nhưng nghiễm nhiên còn có rất nhiều người đảng CSTQ, khó quên được tinh thần “Ngũ tứ”. Đây không chỉ ở thời kỳ Diên An đã xuất hiện những người như Vương Thực Vị nghi ngờ và phê bình đối với tác phong “đảng Sơn” Diên An, mà còn cho dù sau khi Mao Trạch Đông đã yên vị giang sơn, sau khi Mao Trạch Đông lần này đến lần khác gây khó đối với phần tử tri thức, vẫn có người đảng CSTQ kiên trì lập trường “Ngũ tứ” tỏ ra nghi ngờ đối với ngôn từ Mao Trạch Đông, những người như Cố Chuẩn. Càng không cần nói, đến thập kỷ 80, đối với hoài niệm tinh thần “Ngũ tứ” không chỉ đã thúc đẩy tất cả giới tri thức quay về lại thời đại khai sáng, mà còn đã hình thành một phái dân chủ trong đảng hoặc là nói phái cải cách trong đảng hết sức kiên định trong đảng CSTQ. Chính là bởi thứ sức mạnh tinh thần và ảnh hưởng lịch sử của văn hóa khai sáng “Ngũ tứ”, nói là người đảng CSTQ  và đảng CSTQ chỉ rõ hai cái vừa là giống nhau vừa khác nhau, không phải là nói không cho vui, mà là có ý vị sâu xa. Nhân sĩ phái dân chủ trong đảng CSTQ, tuy không có quá nhiều nguồn lực ngôn từ, nhưng những điều họ biểu đạt ra với những cụm từ có hạn lại là những trải nghiệm của sinh mệnh và kinh nghiệm lịch sử bể dâu. những trải nghiệm và kinh nghiệm này, là rất nhiều lưu học sinh TQ của thập kỷ 80, dù cho đã đạt tới trình độ học đủ mọi thứ Trung Tây đều không nhìn theo sau lưng họ.

Nhân thể nói một câu, rất nhiều lưu học sinh thập kỷ 80, lập trường văn hóa của họ vật vờ bất định, cái khôn khéo tròn trịa trong đối nhân xử thế của họ, nhân cách con buôn thấy lợi quên nghĩa của họ là chưa từng có trong lịch sử lưu học sinh TQ. Đây có thể cũng là một thứ hiệu ứng lịch sử sau thời đại Mao Trạch Đông. Văn hóa lưu manh đã bồi dục ra nhân cách lưu manh của thế hệ này đến thế hệ khác. Trong bối cảnh lịch sử của suy đồi văn hóa chưa từng có thế này, phái dân chủ trong đảng phản tỉnh và phê phán ngôn từ quyền lực và quyền lực ngôn từ của Mao Trạch Đông, và dũng khí và tinh thần không thỏa hiệp kiên trì lập trường thúc đẩy cải cách chính trị, hiện rõ rất đáng quí, nhất là làm cho mọi người kính nể. Bất kể kết quả phong trào khai sáng “Ngũ tứ” bi kịch như thế nào, nhưng tuyệt đối không có lỗi thời, chỉ có điều là cần xây dựng lại về phương thức ngôn từ và nội hàm tinh thần mà thôi.  

Dưới chuyên chế của Mao Trạch Đông, không bị ngôn từ Mao Trạch Đông phủ kín càng không dễ bị chuyên chế Mao Trạch Đông áp đảo. Chọi lại chuyên chế Mao Trạch Đông không ở số ít, đến như tướng quân Bành Đức Hòai đều đã từng diễn ra. Nhưng rất ít có người không vì ngôn từ của Mao Trạch Đông mà lay động, có thể nêu ví dụ, có lẽ chỉ có người giữ linh hồn văn hóa như Trần Dần Khác.

Từ bối cảnh gia thế và gia học uyên sâu của Trần Dần Khác mà nói, điều mà ông kế thừa là truyền thống văn hóa của Tăng Quốc Phan. Đây không chỉ là với ý Tổ phụ của ông Trần Bảo Châm thời đó đã cùng thời với các nhà cải cách Tăng Quốc Phan, Lý Hồng Chương, Trương Chi Động, hơn nữa chí hướng văn hóa rất sớm của bản thân Trần Dần Khác, cũng không phải là giữ gìn tinh thần kiểu Vương Quốc Duy, mà là với “Hà Phần chi chí” kiểu dạy học như Vương Thông học sĩ Tùy Đường lúc đó. Ông ta hy vọng bản thân có thể được như Vương Thông bồi dục nên một loạt nhân vật tinh anh có thể đảm đương nhiệm vụ lớn thiên hạ. Thế nhưng, tự vận của Vương Quốc Duy, khiến ông ta đột nhiên tỉnh ngộ, vị trí của ông không ở chỗ dạy bảo mọi người Tu Tề Trị Bình như thế nào, mà ở chỗ  đảm đương nổi nhiệm vụ nặng nề giữ gìn tinh thần của thời đại văn hóa đen tối nhất, đen tối đến mức sắp tắt ngấm. Đây là điểm then chốt nhất để đọc hiểu của nghiên cứu Trần Dần Khác. Rất nhiều những người nghiên cứu Trần Dần Khác, chỉ say sưa vào chuyện ông ta làm thế nào thông hiểu lịch sử TQ, thậm chí say sưa vào tìm hiểu xem ông ta nắm được bao nhiêu thứ ngôn ngữ, mà lại mù tịt không hay biết gì về thứ văn hóa đảm đương lịch sử về ý nghĩa nối tiếp kế thừa của Trần Dần Khác.

Khi toàn bộ lịch sử TQ từ thời đại Tăng Quốc Phan quay về lại dưới chân Hồng Tú Toàn, những người khác có lẽ cũng hồ đồ trong đó, nhưng sự biến đổi này không che được con mắt học giả tiên tri như Vương Quốc Duy, cũng không lừa được nhà sử học như Trần Dần Khác. Hai con người này là kẻ kế thừa trực tiếp tinh thần nhân văn hiện đại TQ mà “Hồng Lâu Mộng” thể hiện, bởi nhìn rõ mồn một tiến trình lịch sử. Nếu như nói, khi Vương Quốc Duy nói “Trước cộng hòa, sau cộng sản” còn chỉ là một thứ dự cảm, vậy Trần Dần Khác viết “Liễu Như Thị biệt truyện” là hoàn toàn phóng tên có đích.

Lịch sử có lúc đúng là thật kinh ngạc. Khi Mao Trạch Đông với Tưởng Giới Thạch tranh đoạt giang sơn, người có chút nhãn quang lịch sử, là không khó nhìn thấy cục diện lịch sử lúc đó với cuối Minh đầu Thanh sao mà gần giống nhau thế. Mao Trạch Đông bằng phương thức ngôn từ hoàn toàn mới đóng vai diễn Lý Tự Thành năm đó, Tưởng Giới Thạch vừa đúng ở vị trí Sùng Trinh; xâm nhập của phát xít Nhật diễn lại quân Thanh nhập quan năm đó, còn Ngô Tam Quế ấy do Uông Tinh Vệ đóng vai. Toàn bộ lịch sử với nó đã nói lên thời khắc nguy cấp nhất. Trong tay Mao Trạch Đông nắm nguồn lực “Ngũ tứ” và ngôn từ kháng Nhật, Tưởng Giới Thạch chủ cái, Uông Tinh Vệ không làm được vai Nhạc Phi chỉ còn chọn vai Tần Cối (tên gian thần đời Nam Tống), kẻ xâm lược Nhật chuẩn bị vào cướp; tình hình chung như vậy đó. Các bên ngồi  trên chỉếu bạc, chẳng qua sự khác nhau là bên  thua và bên thắng, rủi ro nhất lại là người văn hóa ngồi bên lề chiếu bạc. Theo cách nói của Lỗ Tấn, cứ mỗi lần gặp cường địch xâm lược, văn nhân và nữ nhân đều không địch nổi với vũ phu của người ta và nam nhi phải gánh chịu sự chỉ trích tội đánh bại trận. Bởi thế, có một số văn nhân sáng suốt, dứt khoát đóng vai trò anh hùng ngôn từ, ở nơi cách xa kẻ xâm lược trên ngàn cây số thành lập đại loại tổ chức “văn kháng’, cổ vũ người khác đi đánh giặc.

Đợi đến kết thúc một chặng, bụi bặm đã rơi xuống, có người để nịnh hót Mao Trạch Đông mà cao giọng ca tụng “Lý Tự Thành”, có người sưu tầm lượng lớn tư liệu lịch sử để chứng minh Tưởng Giới Thạch là một anh hùng dân tộc như thế nào, có người lại vì con đường quanh co cứu nước của Ngô Tam Quế hoặc để thể nghiệm cái đau khổ của ông ta, hoặc để tìm kiếm lý do của ông, càng nhiều lại là bàn thảo phần tử tri thức cuối Minh đã chọn lựa như thế nào, định vị như thế nào, đến đại loại như chuyện “Cánh quạt Đào hoa” cũng trở nên khoái khẩu. Loại chuyện gắn kết tình sự trai gái với gia quốc hưng vong lại với nhau này, tuy không mấy sâu sắc, nhưng ít ra còn có ý nghĩa hơn nhiều so với các loại kịch hè phố như “Khuất Nguyên” hoặc “Buông đuôi sam của anh ra” của Quách Mạt Nhược. Bởi vì những loại chuyện này đã viết ra hai loại nhân vật văn nhân và nữ nhân trớ trêu nhất. Chỉ là tác giả của “Cánh quạt Đào hoa”, bất kể là khí chất văn hóa hay con mắt thẩm mỹ đều hiện rõ non kém và nông cạn, như Vương Quốc Duy nói, chỉ dừng lại ở gia quốc hưng vong, chứ không có sẵn khí độ bi kịch có tính nhân loại, thậm chí tính vũ trụ như “Hồng Lâu Mộng”.

Với cục diện lịch sử như từ cuối Minh đầu Thanh, viết về văn nhân và nữ nhân, hơn nữa đã viết ra tác phẩm có thứ khí độ bi kịch như “Hồng Lâu Mộng”, đó là “Biệt truyện Liễu Như Thị” của Trần Dần Khác. Khi Trần Dần Khác hạ bút về đoạn lịch sử này, con mắt nhìn nhận của ông vừa không rơi vào chiếu bạc lịch sử, cũng không rơi vào đám xung quanh chiếu bạc, mà là dốc hết bút mực và tâm tình dồn vào điểm quan thiết của số phận một kỹ nữ. Tựa như “Người đàn bà Troy” của Olipits, căn bản không coi ý chí và vinh quang của kẻ thắng lợi là gì cả, mà là lấy những người phụ nữ mất cha và mất chồng làm trung tâm. Cuộc chiến giữa những người con trai, cuộc cờ bạc giữa những người con trai, cuộc giành giật giang sơn giữa những người con trai với những người phụ nữ cuối cùng là có quan hệ gì ? Trong toàn bộ lịch sử, cái tuyệt vời nhất không phải là ở chỗ các chàng trai đánh vã hết mồ hôi trên chiếu bạc, mà là ở một người con gái của tình yêu đang thầm lặng trung thực với mình ở nơi cách chiếu bạc xa xôi. Dù cho lấy gia quốc hưng vong mà nói, lòng dạ người con gái này cũng tuyệt không thấp hơn bất kỳ chàng trai nào, không thấp hơn danh sĩ văn hào mà cô ta yêu đắm đuối nào. Bộ chuyện “Liễu Như Thị biệt truyện” 800.000 chữ này của Trần Dần Khác, từ đó làm cho hình ảnh Liễu Như Thị cũng tài hoa hút hồn như Lâm Đại Ngọc trong “Hồng Lâu Mộng”.

So với “Lý Tự Thành” tiểu thuyết lịch sử cùng thời đại, Trần Dần Khác lấy “Biệt truyện Liễu Như Thị” bất kể đối với đại thắng gia hay đại thua gia trên chiếu bạc lịch sử  đó, toàn bộ đã tỏ rõ coi thường trước nay chưa hề có. Trần Dần Khác hành sự vì người hết sức thấp giọng, thường ngày thầm lặng kiệm lời, thông thường hoặc là không nói, đã nói là khiến kẻ chuyên chế cảm thấy khó chịu. Đọc hết “Liễu Như Thị biệt truyện” của ông, người đần độn đến máy cũng nên sáng tỏ, tại sao năm đó ông ta chọn định cư ở Quảng Đông, vừa không muốn đi Bắc Kinh cao sang, cũng không muốn đi Đài Loan lệ thuộc Quốc Dân đảng (Xem bài viết “bi điều “Liễu Như Thị biệt truyện” và “Tiêu mới lập dị của Bắc Đại và khư khư bảo hủ của Thanh Hoa”). Trần Dần Khác cuối đời hai con mắt hầu như bị mờ, nhưng lại có nhãn quang lịch sử rất tinh tường và sức mạnh chiếu rọi nhân văn nhất không vì ngôn từ chuyên chế mà lay động.

Từ Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông nối nhau bước lên vũ đài lịch sử, không biết có bao nhiêu tiếng nói của chí sĩ nhân nhân bị ngôn từ chuyên chế  che lấp. Những người dị kiến của Tôn Trung Sơn cùng thời với Tôn Trung Sơn, bất luận là Đào Thành Chương, là Tống Giáo Nhân hay là Trần Quýnh Minh, hoặc là Chương Thái Viêm, đồng loạt vì nguyên do Tôn Trung Sơn mà bị nhốt vào lạnh cung. Cho đến Mao Trạch Đông bước lên điện vàng, lịch sử càng trở thành một bộ hoang ngôn chưa từng có. Không cần nói các ngu phu ngu phụ, tất tần tật đều khom lưng quì gối trước ngôn từ Mao Trạch Đông, dù là những nhà sử học đó cũng theo nhau cúi đầu bái lạy trước đế vương chuyên chế hiện đại. Duy chỉ có Trần Dần Khác nghiễm nhiên vẫn giữ vững tinh thần nhân văn “nhân cách của độc lập, tư tưởng của tự do”, không chịu lùi nhường nửa bước.

Chẳng phải là tất cả học giả văn nhân, đều có thể có đủ sức mạnh nhân cách này. Không cần nói người khác, chỉ lấy Hùng Thập Lực, tân Nho gia hàng đầu nổi danh nghiên cứu duy thức để nói, cái bi ai của hiện tượng này, là có thể thấy mọi nơi. Đại cách mạng văn hóa trong đó, Hùng Thập Lực bởi vì sau khi bị kéo lên sàn cùng phê đấu với một kỹ nữ, cảm thấy rất nhục, đau đớn muốn chết muốn sống. Từ trong cái đau khổ này của Hùng Thập Lực, nhìn ngược lại anh ta thực sự hoảng sợ đối với Mao Trạch Đông, cũng là rõ ràng.

Văn nhân xấu với việc đưa kỹ nữ vào đội ngũ, thông thường mừng là được làm bạn cùng với bạo quân. Duy chỉ có Trần Dần Khác dám coi thường bất cứ bạo quân nào (bất luận đối phương khoác cái áo ngoài nào, như người đi trước của cách mạng, hoặc như lãnh tụ vĩ đại, v.v…), cũng như thế mới dám lựa chọn một kỹ nữ, làm chủ nhân ông của chuyện truyền kỳ 80 vạn chữ. Trần Dần Khác cao hơn các học giả TQ khác ở chỗ, trước tiên không ở chỗ biết nói nhiều thứ ngôn ngữ mà người khác không biết, mà là ở chỗ nhìn rõ mồn một mà mọi người chung là không có, còn ở chỗ lập trường nhân văn không lay chuyển trước bất kỳ ngôn từ chuyên chế thần thoại nào. Từ đó Trần Dần Khác đã vỉết ra một bộ tác phẩm vĩ đại tương ứng với “Hồng Lâu Mộng”, từ đó đã tiếp nối ngọn lửa văn hóa của Vương Quốc Duy để lại, làm cho tinh thần nhân văn TQ kiểu Olipits mãi mãi không phai mờ.

Chuyên chế bạo ngược như Mao Trạch Đông, đối phó lại, là những người văn hóa như Hùng Thập Lực, Lương Thấu Minh, thực là đùa dỡn giữa tiếng vỗ tay, vẩy vẩy là đến, xua xua là đi. Nhưng ông ta hễ khi gặp trực tiếp  học giả nhân văn như Trần Dần Khác, lại chỉ có thể mãi mãi tự bi, mãi mãi không ngẩng cái đầu ngang ngạnh đó lên được. Đương nhiên, đây cũng là điểm khác hẳn với Mao Trạch Đông với Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch. Mao Trạch Đông ít ra còn biết “Hồng Lâu Mộng” là một bộ tiểu thuyết vĩ đại. Giả như Mao Trạch Đông đã đọc “Liễu Như Thị biệt truyện” của Trần Dần Khác, ông cũng sẽ biết, tác giả như thế là mãi mãi không thể chinh phục.

Nhìn ngược lại lịch sử, Mao Trạch Đông đã trở thành chuyện đã qua, nhưng hiện tượng Mao Trạch Đông vẫn chưa kết thúc, âm ảnh Mao Trạch Đông vẫn bao trùm cả đại địa TQ, trở thành một nút thắt tâm lý của dân chúng TQ. Đây không phải là Mao Trạch Đông quá vĩ đại, mà là cái dân tộc này quá thấp hèn. Cái dân tộc này chung là sống trong quên lãng và dối lừa, lấy hoang ngôn thay thế chân thực, lấy diễn nghĩa thay thế lịch sử. Họ thích được cứu vãn, họ chung là cứ mong chờ được cứu vãn.

Cái thấp hèn này, dẫn đến họ một thoáng đưa Hồng Tú Toàn hạ lưu xấu xa tôn lên anh hùng, thoáng cái coi Tôn Trung Sơn người đã đẩy Trung Quốc vào vòng tuần hoàn lịch sử có tính tai họa là thánh nhân, thoáng cái lại đưa Mao Trạch Đông phạm tội tầy trời đối với tỷ mấy dân chúng TQ là thần minh tôn kính. Tâm lý văn hóa dân tộc bị bẻ cong quá mức, làm cho hồn phách của dân tộc này mãi mãi không có được tự tỉnh ngộ và tự làm sạch, mãi mãi không có được chẩn trị và cứu vãn cần có. Phục hưng thực sự của một dân tộc, không phải ở chỗ làm được bao nhiêu con đường cao tốc, cất lên được bao nhiêu tòa lầu chọc trời, mà là ở chỗ tâm lý biến dạng có được chữa trị hay không, hồn phách của nó bị bẻ cong có được cứu vãn hay không. Chỉ cần cái dân tộc này vẫn tiếp tục sùng bái đế vương lưu manh đại loại như Tôn Trung Sơn, Mao Trạch Đông, như vậy chỉ có thể mãi mãi ngoắc ngoải dưới địa ngục, vạn kiếp không vực dậy được.

Muốn để tương lai TQ có được hy vọng, là phải phản tỉnh lịch sử, ví như đưa tất cả lãnh tụ cách mạng và chí sĩ cách mạng bị Tôn Trung Sơn đưa vào lãnh cung lịch sử, mời họ ra, khôi phục bộ mặt chân thực lịch sử. Muốn làm cho tương lại TQ có được hy vọng, người TQ cần phải sám hối cái nghiệp kiếp trước; cho đến mọi nhân tính bị chuyên chế Mao Trạch Đông bóp méo, cũng nên có phản tỉnh; chỉ có như vậy, tâm hồn của dân tộc mới có được chẩn trị, từ đó làm cho hồn phách của cả dân tộc cuối cùng thoát ra khỏi âm ảnh lịch sử của hiện tượng Mao Trạch Đông do chuyên chế Mao Trạch Đông và ngôn từ Mao Trạch Đông cấu thành./.

 

Lý Cật viết tại New-York, ngày 08/3/2004. Khắc Trung chuyển ngữ 20/2/2018.

Nguồn dịch: Tạp chí Văn Hóa Nghệ An

Share
Share: