Chính trị - Kinh tếTôi đọc

Nên đọc Karl Marx với thái độ đúng đắn hơn – Một cách nhìn khác về đóng góp của Karl Marx

Book Hunter Karl Marx

Phần lớn mọi người đồng ý rằng chúng ta cần cải thiện hệ thống kinh tế bằng cách nào đó. Hệ thống hiện nay đe doạ thế giới bằng sự tiêu dùng thừa thãi, làm chúng ta phân tâm bởi những quảng cáo vô bổ, bỏ mặc con người chết đói và không được chăm sóc ý tế, và châm ngòi những cuộc chiến tranh không cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta lại thường thích phủ nhận tầm quan trọng của những ý tưởng của Karl Marx, nhà phê bình và phản biện kinh tế nổi tiếng và tham vọng hơn cả. Điều này thực ra không đáng ngạc nhiên. Trên thực tế, những quan điểm chính trị và kinh tế của ông đã được sử dụng để thiết lập một nền kinh tế thảm hại và một chế độ độc tài không khoan nhượng. Thành thật mà nói, những giải pháp Marx đề xuất cho vấn nạn của thế giới nghe có vẻ điên rồ trong bối cảnh ngày nay. Ông cho rằng chúng ta nên từ bỏ tư hữu cá nhân, rằng người ta không nên được phép sở hữu cái gì. Có thể đồng cảm với suy nghĩ đó vào một số thời điểm. Nhưng như vậy thì giống như muốn cấm thói buôn chuyện hay cấm xem ti vi vậy. Nó mâu thuẫn với hành vi của con người. Và Marx tin rằng thế giới sẽ trở nên đúng đắn với sự cầm quyền tuyệt đối của giai cấp vô sản, mà điều này thì không còn có nhiều ý nghĩa. Những đảng Marxist, theo thống kê công khai, chỉ nhận được tổng cộng 1685 trong số gần 40 triệu phiếu bầu trong đợt tổng bầu cử tại Vương quốc Anh vào năm 2010.

Tuy nhiên, chúng ta không nên bác bỏ Marx quá vội vàng. Chúng ta nên nhìn nhận ông như một người chỉ dẫn mà những chẩn đoán của ông về bệnh tật của nền kinh tế tư bản có thể giúp ta điều hướng tới một tương lai hứa hẹn hơn.

Karl Marx sinh vào năm 1818 tại thành phố Trier của Đức. Ông là hậu duệ trong một gia đình có truyền thống theo đạo Do Thái, nhưng khi ông lên 6 gia đình ông đã chuyển sang theo đạo Thiên Chúa để hoà nhập với cộng đồng người Đức. Trong quãng thời gian theo học tại trường Đại học Bonn danh giá, ông nợ nần chồng chất những khoản lớn, bị vào tù vì nghiện rượu và gây quấy rối, và dính vào một cuộc ẩu đả. Ông cũng đã muốn trở thành một nhà phê bình kịch. Thất vọng vì con, cha của ông đã gửi ông tới Đại học Berlin – một nơi nghiêm khắc hơn, và chính tại đây ông đã tham gia vào nhóm các nhà triết học mang quan điểm nghi ngờ sâu sắc đối với kinh tế và chính trị hiện đại, được biết đến với cái tên Hegel Trẻ.

Marx đã sớm tham gia vào Đảng Cộng sản, một nhóm nhỏ những trí thức ủng hộ việc lật đổ hệ thống giai cấp cũng như phá bỏ sự tư hữu. Ông làm việc với vai trò một nhà báo, và đã bí mật đính hôn với một phụ nữ trẻ giàu có, Jenny von Westphalen. Vì hoạt động chính trị của ông, cặp đôi trẻ đã phải bỏ trốn khỏi Đức và cuối cùng ổn định cuộc sống tại London.

Marx viết một lượng khổng lồ sách và các bài luận, và đôi khi ông đồng tác giả với người bạn của mình Friedrich Engels. Một vài tác phẩm quan trọng nhất bao gồm “Phê phán triết học pháp quyền của Hegel” (1843), “Gia đình thần thánh” (1845), “Luận cương về Feuerbach” (1845), “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” (1848), “Phê phán cương lĩnh Gotha” (1875), và tác phẩm đồ sộ “Tư bản luận” (1867-1894).

Chủ đề chính Marx viết về là Tư bản Chủ nghĩa, loại hình kinh tế thống trị thế giới phương Tây. Vào thời của ông, kinh tế tư bản đang trên đà phát triển, và Marx là một trong những nhà phê bình sáng suốt và tinh tường nhất. Dưới đây là một vài vấn đề ông cho rằng tồn tại trong hệ thống kinh tế tư bản:

Một: Công việc hiện đại mang tính “xa lạ hoá”

Một trong những luận điểm sâu sắc nhất của Marx, được truyền tải trong một cuốn sách ông viết thời kỳ đầu được biết đến với cái tên “Bản thảo kinh tế chính trị” năm 1844, cho rằng công việc có thể là một trong những nguồn vui lớn nhất. Đó là bởi vì Marx đã đặt nhiều hy vọng vào công việc đến mức ông đã phẫn nộ trước cảnh lao động khổ sở mà phần lớn loài người phải chịu đựng.

Để được thoả mãn trọn vẹn trong công việc, Marx viết rằng những người công nhân cần phải “nhìn thấy bản thân họ trong cái mà họ tạo tác”. Trong điều kiện lý tưởng, lao động cho chúng ta cơ hội biểu lộ những gì tốt đẹp bên trong chúng ta (chẳng hạn như khả năng sáng tạo, tính tỉ mẩn, óc logic) dưới một dạng thức ổn định và lâu dài thông qua một sản phẩm hay dịch vụ mà sản phẩm hay dịch vụ đó là độc lập với ta. Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, công việc của chúng ta nên tốt hơn một chút so với những nỗ lực chúng ta bỏ ra mỗi ngày, bởi vì nó cho phép ta tập trung và chắt lọc phần tốt đẹp nhất trong ta.

Hãy thử nghĩ về người đã làm ra chiếc ghế này: thẳng thắn, mạnh mẽ, trung thực và tinh tế. Người tạo tác không phải lúc nào cũng vậy: đôi khi anh ấy hay cô ấy có thể nóng giận, tuyệt vọng và thiếu chắc chắn. Tuy nhiên chiếc ghế là thứ lưu giữ và biểu trưng những mặt tích cực trong tính cách của người tạo tác. Đó chính là một công việc hoàn hảo, theo suy nghĩ của Marx. Nhưng đồng thời ông cũng nhận thấy rằng trong thế giới hiện đại, càng ngày càng ít công việc có cái đặc tính cho phép chúng ta nhìn thấy phần tốt đẹp nhất của chính mình như thế nào.

Một vấn đề của việc làm trong xã hội hiện đại là nó được chuyên môn hoá đến mức khó tin. Ai đó có thể đọc ra thực tế trên dựa vào việc người ta có những nghề nghiệp mang những cái tên kỳ lạ: bạn có thể tìm thấy chuyên gia đóng gói công nghệ, chuyên viên phổ biến đồ uống, chuyên viên vệ sinh ẩm thực và kiến trúc sư thông tin. Những nghề nghiệp này đòi hỏi nhiều năm trời đào tạo để trở nên thành thạo. Điều đó tạo nên một nền kinh tế hiệu quả cao, nhưng cuối cùng chúng ta phải đối mặt với một tình huống mà ở đó một người hiếm khi có thể bộc lộ đúng bản chất của mình trong những gì người đó làm hàng ngày.

Dưới nhãn quan của Marx, tất cả chúng ta ở bên trong đều là những con người toàn diện. Chúng ta không được sinh ra chỉ để làm duy nhất một điều gì đó. Chính nền kinh tế và chỉ nền kinh tế mà thôi, vì mục đích tham lam của nó, đẩy chúng ta đến chỗ phải hy sinh bản thân vì một lĩnh vực cụ thể, gọt giũa chúng ta (theo lời của Marx) trở thành “một chiều và phụ thuộc” và “tuyệt vọng cả về thể chất và tinh thần theo hướng bị bó hẹp trong trạng thái của một cỗ máy”. Chính trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế chính trị” được viết vào năm 1844, Marx đã lần đầu đưa ra lập luận rằng nghề nghiệp hiện đại dẫn đến sự “xa lạ hoá” [với chính mình], hay “entfremdung” trong tiếng Đức.

Từ sâu bên trong, chúng ta còn ẩn chứa sự đa dạng phong phú lớn hơn nhiều so với những gì nền kinh tế hiện đại cho phép. Ẩn sau vẻ ngoài điềm tĩnh của một kế toán viên có thể là một người hứng thú với làm vườn. Nhiều nhà thơ có thể muốn thử làm việc trong ngành công nghiệp trong một vài năm. Marx nhận ra rất nhiều tiềm năng trong mỗi chúng ta. Chuyên môn hoá có thể quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, nhưng nó lại là sự phản bội đối với con người.

Marx luôn muốn giúp chúng ta tìm thấy những công việc ý nghĩa hơn. Theo Marx, công việc trở nên có ý nghĩa theo một hoặc hai cách sau. Hoặc nó giúp một người làm công trực tiếp giảm đi sự thống khổ ở người khác, hoặc nó giúp họ đem lại niềm vui cho người khác theo một cách hữu hình. Rất hiếm có công việc nào, chẳng hạn như là một bác sĩ hoặc một ngôi sao hát nhạc opera, có thể thực hiện được hoàn hảo chức năng trên.

Nhưng thường thì người ta bỏ việc và nói: tôi không thể thấy ý nghĩa của việc làm sales, hay thiết kế một chiến dịch quảng cáo cho ngoại thất sân vườn, hay dạy tiếng Pháp cho những đứa trẻ còn chẳng muốn học. Khi công việc có vẻ vô nghĩa, chúng ta chịu đựng – ngay cả khi với một mức lương tử tế. Marx phác thảo ra đáp án cho cách chúng ta nên cải tổ nền kinh tế; chúng ta cần một nền kinh tế cho phép nhiều người hơn trong số chúng ta giảm thiểu sự chịu đựng và mang lại nhiều hơn niềm vui. Từ trong sâu thẳm, chúng ta muốn cảm thấy rằng chúng ta đang giúp đỡ người khác. Chúng ta cần cảm thấy rằng chúng ta đang giải quyết những nhu cầu cơ bản và xác thực nhất chứ không phải chỉ đơn thuần đáp ứng những ham muốn.

Marx nhận ra có nhiều công việc mà ở đó một người tạo ra tiền nhưng lại chẳng thấy năng lượng thu hồi được ở đâu. Trí tuệ và kỹ năng của họ bị lãng phí và trở nên cùn mòn. Họ không thể chỉ vào cái gì đó và nói: “Tôi đã làm điều đó, đó chính là tôi”. Thực tế này cũng có thể ảnh hưởng tới ngay cả những người có nghề nghiệp hào nhoáng – một biên tập viên truyền hình hay một người mẫu catwalk. Nó có vẻ thú vị từng ngày, nhưng qua nhiều năm nó không dẫn đến và tạo ra cái gì có giá trị hơn. Những nỗ lực của người làm công không được cộng dồn. Không có mục tiêu dài hạn nào mà công việc của họ hướng đến. Sau một vài năm nào đó, đơn giản là họ dừng lại. Điều này trái ngược với một vị kiến trúc sư. Anh ta có thể lao động cật lực trong vòng 5 năm vì một dự án lớn, nhưng tất cả những chi tiết, dù bản thân chúng có thể gây phiền nhiễu và khó chịu, cuối cùng lại tạo nên một thành tựu hoàn chỉnh. Và tất cả những ai là một phần của quá trình này thì đều tham gia với một sự ý thức về định hướng và mục đích. Công sức của họ là cần thiết để tạo ra cái gì đó tuyệt vời. Và họ biết điều đó.
Hai: Nghề nghiệp hiện đại thiếu an toàn

Chủ nghĩa tư bản nhìn nhận con người hoàn toàn và đơn thuần như những công cụ có thể bỏ đi ngay khi hết giá trị sử dụng. Một người chỉ là một yếu tố giữa nhiều yếu tố khác trong lực lượng sản xuất, và có thể bị bỏ đi không thương tiếc ngay cái giây phút chi phí dành cho anh ta tăng lên hoặc có thể được tiết kiệm thông qua sử dụng công nghệ. Đơn giản là không có sự đảm bảo nghề nghiệp trong nền Tư bản. Và trong bối cảnh đó, như Marx đã biết, sâu trong mỗi chúng ta là nhu cầu được đảm bảo an toàn trong công việc cũng mãnh liệt như nhu cầu an toàn trong tình cảm. Chúng ta không muốn bị bỏ đi một cách nhẫn tâm và tuỳ tiện, chúng ta sợ bị bỏ rơi. Marx biết chúng ta bị lợi dụng, tất cả đều phụ thuộc vào chi phí và nhu cầu. Nhưng ông đồng cảm với những khao khát về mặt cảm xúc của những người làm công. Chủ nghĩa Cộng sản, nếu hiểu về mặt cảm xúc, là một lời hứa rằng chúng ta luôn có vị trí trong trái tim của thế giới, rằng chúng ta sẽ không bị bỏ đi. Điều này thật đầy chua xót.
Ba: Công nhân được trả rất ít trong khi nhà tư bản thì trở nên giàu có

Đây có lẽ là mối nghi ngại rõ nhất của Marx đối với Tư bản chủ nghĩa. Cụ thể hơn, ông tin rằng các nhà tư bản sẽ giảm lương tuần của công nhân xuống càng nhiều càng tốt nhằm đạt được khoản chênh lệch lợi nhuận lớn. Rất khó để tầng lớp lao động có thể phản kháng hay thay đổi tình thế của họ. Họ không những cần có việc làm đến mức tuyệt vọng, mà chủ nhà và ông chủ của họ còn âm mưu khiến họ mãi tuyệt vọng bằng cách tăng mức chi tiêu cuộc sống cứ khi nào họ được tăng lương. Đời sống hiện đại cũng mang tới những thách thức mới kìm giữ tầng lớp lao động ở thế yếu: những nơi đông đúc, bệnh tật, những thành phố đầy tội ác, và tai nạn nơi các công xưởng. Tóm lại, Marx viết, những người công nhân có thể bị bóc lột gần như vô thời hạn.
Bốn: Hệ thống Tư bản rất bất ổn

Từ lâu trước cuộc Đại Suy Thoái hay trước khi có thị trường chứng khoán giao dịch thông qua máy tính, Marx đã nhận ra rằng một loạt các khủng hoảng làm nên đặc trưng của hệ thống tư bản. Điều này một phần có nguyên do từ việc các nhà tư bản không ngừng mạo hiểm nhiều hơn để đạt lợi nhuận lớn hơn, và hoạt động đầu cơ này phá vỡ cấu trúc giá cả và tuyển dụng. Nhưng hệ thống Tư bản không chỉ bất ổn vì sự cạnh tranh và sự yếu đuối của con người. Theo Marx, bản thân hệ thống vốn đã tiềm ẩn sự bất ổn – một lực liên tục tự đánh bại chính nó, một “thầy phù thuỷ không còn kiểm soát được quyền năng của thế giới âm mà chính ông đã dùng thần chú gọi lên”.

Marx cũng chỉ ra rằng, mỉa mai thay, chúng ta gặp phải khủng hoảng trong Tư bản không phải bởi sự thiếu, mà là vì sự dư thừa. Chúng ta có quá nhiều. Các nhà máy và hệ thống của chúng ta rất năng suất. Chúng ta có thể mang đến cho bất cứ ai trên hành tinh này ô tô, nhà cửa, và trường học hay bệnh viện tử tế. Gần như không có ai cần phải làm việc. Nhưng chúng ta không giải phóng chính mình. Marx cho rằng điều này thật phi lý, [và là] kết quả của một dạng bạo dâm bệnh hoạn. Vào năm 1700, cần có lao động của gần như toàn bộ người trưởng thành để nuôi sống một đất nước. Ngày nay một quốc gia phát triển gần như chẳng cần thuê ai để làm nông. Sản xuất ô tô trên thực tế không cần nhân công. Hiện nay, tình trạng thất nghiệp trở nên nghiêm trọng và bị coi như một căn bệnh tồi tệ. Tuy nhiên, đối với Marx, đó lại là một dấu hiệu của thành công: đó chính là kết quả của năng lực hiệu quả đến khó tin của chúng ta. Công việc của hàng trăm người nay có thể được làm bởi một chiếc máy. Mặc dù vậy, thay vì đưa ra những kết luận tích cực từ thực tế trên, chúng ta lại cứ nhìn nhận sự thất nghiệp như là một lời nguyền và như một sự thất bại. Ấy vậy mà theo logic mà nói, mục tiêu của kinh tế nên là khiến càng ngày càng nhiều người trong số chúng ta thất nghiệp, và ăn mừng trước thực tế này vì coi nó là bước tiến triển chứ không phải thất bại.

Marx tin rằng vì chúng ta không phân chia của cải cho tất cả mọi người, cũng như không ăn mừng tình trạng thất nghiệp, nên chúng ta bị phiền muộn và gặp rắc rối vì sự thiếu ổn định, sự bất hạnh và bất an. “Xã hội đột nhiên nhận ra bản thân nó quay lại thời kỳ dã man trong một khoảnh khắc”, ông viết. “Và vì sao? Bởi vì có quá nhiều sự văn minh… quá nhiều công nghiệp, quá nhiều thương mại”.

Năm: Tư bản Chủ nghĩa bất lợi cho chính các nhà tư bản

Mặc dù đôi khi Marx gọi những nhà tư bản và giai cấp tư sản là “những con ma cà rồng” và “những người anh em thù địch”, ông không nghĩ rằng bản chất của họ là xấu xa. Thực ra, ông tin rằng họ cũng là nạn nhân của hệ thống tư bản. Ví dụ, ông đã tinh ý nhận ra những muộn phiền và nỗi thống khổ bí mật ẩn giấu đằng sau một cuộc hôn nhân của giới tư sản. Những người giàu có ở thời của ông nói về gia đình theo những cách tình cảm và trân trọng nhất. Nhưng Marx lập luận rằng bản thân cuộc hôn nhân thực ra là sự mở rộng của hoạt động kinh tế. Hôn nhân tập trung tiền bạc vào tay người đàn ông, người mà sử dụng tiền để kiểm soát vợ con. Một gia đình tư sản lý tưởng trên thực tế đầy sự căng thẳng, kìm kẹp, nỗi oán giận, và các thành viên ở với nhau không phải vì tình yêu mà là vì lý do tiền bạc. Marx không nghĩ rằng các nhà tư bản muốn sống như vậy. Ông đơn giản tin rằng hệ thống tư bản ép người ta đặt lợi ích kinh tế tại trung tâm đời sống, và thế là họ không còn có thể biết đến những mối quan hệ sâu sắc và chân thành. Ông gọi xu hướng tâm lý này là “sự sùng bái hàng hoá” (Warenfetischismus) bởi vì nó khiến chúng ta coi những thứ chẳng có giá trị khách quan là có giá trị, và khuyến khích chung ta nhìn nhận mối quan hệ với người khác, trước hết và về cơ bản, dưới góc độ kinh tế.

Đây là một khía cạnh quan trọng khác trong tác phẩm của Marx: ông khiến chúng ta nhận thức được cái cách vi tế và xảo quyệt mà một hệ thống kinh tế tô màu lên tất cả các ý tưởng của người ta về tất cả các loại vấn đề. Nền kinh tế làm phát sinh cái Marx gọi là hệ tư tưởng. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” được ông viết năm 1845, ông đã viết rằng “ý tưởng của tầng lớp thống trị trong mọi thời đại là những ý tưởng thống trị”. Một xã hội tư bản là một xã hội mà ở đó con người, dù giàu hay nghèo, tin vào tất cả những gì thực ra chỉ là những giá trị cảm tính được đề cao [em dịch thoát ý của cụm “value judgements” theo cách hiểu của em về từ này qua những văn bản tiếng Anh em đã đọc trước đây] mà cuối cùng lại liên quan đến hệ thống kinh tế. Ví dụ, một người mà không đi làm thì người đó là vô dụng về thực tiễn, rằng nếu chúng ta đơn giản là làm việc đủ chăm chỉ thì chúng ta sẽ thăng tiến, rằng sở hữu nhiều hơn sẽ khiến chúng ta hạnh phúc hơn, và rằng những gì hay ai đó đáng giá tất nhiên sẽ làm ra tiền.

Tóm lại, một trong những điểm xấu nhất của Chủ nghĩa Tư bản không phải ở những người đứng đầu hệ thống suy đồi – điều này là đúng trong bất cứ thể chế nào – mà là ở việc những ý tưởng tư bản khiến chúng ta trở nên lo lắng, cạnh tranh, tuân thủ và tự mãn về mặt chính trị.
***

Marx viết rất ít về một hệ thống cộng sản thì thế nào. Ông tin rằng những bài viết của ông phần lớn là các bản miêu tả, hơn là những ấn định, về những gì sẽ xảy ra. Khi bị phê phán vì những tiên đoán mù mờ này (ví dụ như, sẽ có một “nền độc tài của giai cấp vô sản”), ông đã nhạo báng rằng ông không muốn viết ra công thức “cho những cửa hàng ăn trong tương lai”. Có lẽ, một cách khôn ngoan, ông đã cảm nhận được sẽ khó thế nào để đoán ra khẩu vị của tương lai, cả về ẩm thực và chính trị.

Tuy nhiên, chúng ta biết được rất ít về xã hội không tưởng của Marx mà được ẩn giấu trong những trước tác của ông. “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” miêu tả một thế giới không có tư hữu, không có bất cứ tài sản nào được thừa kế, với mức thuế thu nhập ngày càng tăng, kiểm soát tập trung đối với ngân hàng, các ngành công nghiệp thông tin và vận chuyển, và giáo dục công miễn phí cho mọi trẻ em. Marx cũng dự đoán rằng xã hội cộng sản sẽ cho phép con người phát triển nhiều khía cạnh khác nhau trong bản chất của họ. Trong cuốn “Hệ tư tưởng Đức”, ông viết: “Trong xã hội cộng sản… tôi có thể làm một việc hôm nay và việc khác vào ngày mai, săn bắn vào buổi sáng, câu cá vào buổi chiều, chăn nuôi vào buổi tối, phê phán sau bữa ăn tối, chỉ bởi vì tôi có đầu óc, mà không bao giờ trở thành một thợ săn, một ngư dân, một mục đồng hay một nhà phê bình”. Chúng ta sẽ khám phá mọi khía cạnh khác nhau của chính chúng ta – sức sáng tạo, trí tuệ, sự dịu dàng, tính hung ác – và mọi người đều sẽ có thời gian dành cho triết học.
***

Sau khi chuyển đến London, Marx được hỗ trợ bởi người bạn và đồng môn Friedrich Engels, một người giàu có mà bố của ông sở hữu một nhà máy may cotton ở Manchester. Thật ngược đời cho một người bài tư bản! Engels trả những khoản nợ của Marx, đảm bảo những tác phẩm của ông được xuất bản, và (nhằm đánh lạc hướng mối nghi ngờ của vợ Marx) thậm chí còn khẳng định là cha của một đứa bé mà có vẻ như đó là con ngoài giá thú của Marx. Hơn nữa, hai người còn viết cho nhau những vần thơ đầy tình cảm nồng nhiệt.

Marx không phải một trí thức được trọng vọng và có tiếng trong thời của ông. Ông dành phần lớn thời gian quanh quẩn tại những phòng đọc của Bảo tàng Anh, chậm rãi viết một cuốn sách dài dòng về giới tư bản. Ông và Engels đã luôn cố gắng tránh các mật vụ (bao gồm anh rể của Marx, người thực hiện các nhiệm vụ bí mật của quân Phổ). Khi Marx qua đời vào năm 1883, ông là một người không có quốc tịch. Chưa đến một tá người tới dự đám tang ông. Những con người truyền thống và được trọng vọng ở thời Marx có lẽ sẽ cười vào ý tưởng cho rằng lý thuyết của ông sẽ tái tạo thế giới. Tuy nhiên chỉ một vài thập kỷ sau điều đó đã xảy ra: các tác phẩm của ông trở thành nền tảng của một vài trong số những chuyển biến hệ tư tưởng quan trọng nhất của thế kỷ 20. Marx có một tầm nhìn xa đến lạ thường trước những vấn đề hiện đại. Ông đã nghĩ ra những thuật ngữ nghe rất “kêu” chẳng hạn như “chủ nghĩa duy vật biện chứng”, bởi vì ông muốn thách thức chúng ta liên hệ những trải nghiệm và lựa chọn thường ngày với một phổ rộng những xung lực của quá khứ, để giúp chúng ta thấy chính mình trong một cuộc đấu tranh lớn hơn và quan trọng về mặt đạo đức. Đôi khi công trình của ông gây khó hiểu, không chỉ bởi ông thay đổi quan điểm tại trong suốt cuộc đời, mà còn bởi ông muốn phát triển thuật ngữ của riêng mình nhằm miêu tả những vấn đề hiện đại theo cách vừa không mang tính dự đoán vừa không khoa học một cách cứng nhắc.

Chúng ta nên tránh việc đọc Marx với thái độ phủ định dựa trên cơ sở những gì xảy ra với lý thuyết của ông vào thế kỷ 20, vì ông đặc biệt có ích cho chúng ta trong thời hiện tại. Giống như nhiều người trong số chúng ta, ông muốn hiểu vì sao nền kinh tế hiện đại lại có vẻ dẫn đến quá nhiều nỗi khổ bên cạnh sự giàu có vật chất. Ông đã kinh ngạc trước sức mạnh của Chủ nghĩa Tư bản, cái cách nó cho phép “sự bị động của các luật Tự nhiên trước con người… công cuộc khai khẩn các lục địa để trồng trọt canh tác, khơi thông những con sông, dân cư đông đúc khắp mặt đất. Nhưng ông cũng nhìn ra rằng Chủ nghĩa Tư bản không khiến chúng ta hạnh phúc hơn, thông thái hơn, hay nhân từ hơn – tự bản thân nó không có khả năng dẫn dắt khiến chúng ta nhân tính hơn hay phát triển toàn diện hơn.

Khi cân nhắc những thất bại của những chế độ Marxist đã qua, chúng ta không có vẻ sẽ cải thiện được tình hình bằng cách thực hiện cái hình thức cách mạng mà Marx dự đoán. Nhưng chúng ta nên suy nghĩ hết sức nghiêm túc trước những gì ông nói về những vấn đề tiềm ẩn của Chủ nghĩa Tư bản. Trong một khoảng thời gian quá dài, mang quan điểm Marxist có nghĩa là bạn đồng tình với những phần kém ấn tượng nhất của những ý tưởng của Marx: giải pháp của ông với vấn nạn của thế giới. Và bởi vì có vẻ rất kỳ quoặc, những lý thuyết của ông đã thất bại trong việc đạt được những bước tiến.

Nhưng Marx giống như một vị bác sĩ xuất sắc ở thời kỳ đầu của ngành y. Ông có thể nhận ra bản chất của căn bệnh, mặc dù ông không biết chữa trị thế nào. Ông bị ám ảnh với một số bước đi có vẻ hợp lý trong những năm 1840 nhưng không thực sự mang tới nhiều chỉ dẫn cho bối cảnh ngày nay. Tại thời điểm này trong lịch sử, chúng ta nên theo quan điểm Marxist với cái nghĩa đồng ý với những chẩn đoán của ông về vấn đề của chúng ta. Nhưng chúng ta cần đi ra ngoài và tìm phương cách giải quyết thực sự có hiệu quả.

Trêu ngươi ở chỗ giải pháp đúng là có ở ngoài kia, tản mát trong các công trình nghiên cứu đây đó và những cuốn sách về kinh tế mà bị truyền thông cho đứng bên lề. Chúng ta cần cân nhắc làm sao để xây dựng một nền kinh tế không những mang lại sự hưng thịnh mà còn một mối quan hệ tốt đẹp hơn với tự nhiên, với tiền bạc, giữa con người với nhau, và với chính bản thân chúng ta. Chúng ta không cần nền độc tài của giai cấp vô sản, nhưng chúng ta đúng là cần xem xét lại vì sao chúng ta đánh giá cao công việc và cái chúng ta muốn có được thông qua đó. Chúng ta không nên từ bỏ tư hữu, nhưng đúng là chúng ta cần một mối quan hệ sâu sắc và đáng tin cậy hơn với đồng tiền cũng như sự tiêu dùng. Và chúng ta phải cải tổ hệ thống Tư bản không phải đơn giản bằng cách phế quyền những ông chủ ngân hàng, mà bằng cách thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của chính chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới đúng là có đủ khả năng hình dung ra một nền kinh tế không những vừa năng suất vừa mang tính đột phá, mà còn nuôi dưỡng sự tự do và trọn vẹn. Như chính bản thân Marx từng tuyên bố, “các triết gia mới chỉ giải thích thế giới theo nhiều cách. Tuy nhiên, mục đích là để thay đổi nó”.

Nguồn: http://www.thebookoflife.org/the-great-philosophers-karl-marx

Người dịch: Annie Sherlock

Share
Share: