Tôi đọcTriết học - Tôn giáo

Nguyên tắc khoái cảm – Sigmund Freud

salvador-font-b-dali-b-font-surrealism-abstract-painting-font-b-art-b-font-vintage-posters

Trích từ bộ sách Phân tâm học căn bản.

Mua trọn bộ trên Hang Cáo tại ĐÂY.


 

Thuyết Phân tâm học chấp nhận một cách không ngần ngại rằng sự vận động của quá trình tâm trí bị chi phối bởi nguyên tắc khoái cảm. Hay nói cách khác, với vai trò là nhà phân tâm học, chúng tôi tin rằng sự vận động ấy luôn được phát động bằng một sự căng thẳng gây khó chịu hoặc nặng nề và rằng nó (sự vận động) được thực hiện sao cho để đạt đến sự giảm sự căng thẳng ấy, tức là đạt đến sự thay thế trạng thái nặng nề bằng một trạng thái dễ chịu. Điều này đồng nghĩa với việc chúng tôi đưa ra/dẫn nhập quan điểm kinh tế trong phân tích các tiến trình tâm trí mà chúng tôi nghiên cứu, và chúng tôi nghĩ rằng sự mô tả có tính đến khía cạnh kinh tế bên cạnh khía cạnh định khu và năng động của các quá trình tâm trí sẽ là mô tả đầy đủ nhất mà chúng tôi có thể đạt tới hiện nay và đáng được gọi là siêu tâm lí.

Khi thiết lập nguyên tắc khoái cảm, chúng tôi không gắn bất kì tầm quan trọng nào cho việc biết được chúng tôi đang tiến gần đến một hệ thống triết học nào đó, đã được xác định rõ ràng và được lịch sử thừa nhận.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Chính bằng việc tìm cách mô tả và giải thích các hiện tượng chúng ta quan sát thấy hằng ngày mà chúng ta có thể đi đến việc trình bày các giả thuyết tư biện như vậy. Trong công việc phân tích tâm lí của mình, chúng tôi không nhằm vào thứ tự ưu tiên hay tính độc đáo và, thêm nữa, những lí do thúc đẩy chúng tôi trình bày nguyên tắc nói trên (nguyên tắc khoái cảm) là quá rõ ràng, đến mức ít ai không nhìn ra. Tuy nhiên, chúng tôi nói rằng chúng tôi sẽ không tiếc lòng biết ơn đối với bất kì lí thuyết triết học hay tâm lí học có thể nói chính xác thế nào là cảm giác thích thú và khó chịu, những cảm giác có tác động cấp bách đến chúng ta biết nhường nào. Đây chính là vùng tối/thâm sâu nhất và khó tiếp cận nhất của đời sống tâm trí và, bởi vì chúng tôi không thể thoát khỏi sự vẫy gọi của vùng này, chúng tôi cho rằng điều chúng tôi có thể làm tốt nhất , đó là đưa ra một gải thuyết mơ hồ nhất và chúng chung nhất có thể cho chủ đề này. Chính vì vậy, chúng tôi đã quyết định thiết lập nên giữa sự thích thú và sự khó chịu một mặt là khối lượng năng lượng (không liên kết) mà đời sống tâm trí chứa đựng và mặt khác là các quan hệ có liên quan đến khối lượng năng lượng này, bằng cách thừa nhận rằng cái khó chịu tương ứng với sự tăng và sự thích thú tương ứng với sự giảm của khối lượng năng lượng đó. Chúng tôi không nhìn nhận các mối quan hệ này dưới hình thức một mối tương quan quá giản đơn giữa cường độ các cảm giác và những thay đổi mà người ta cho là đi cùng với các cảm giác đó, và chúng tôi nghĩ là càng ít hơn ở tính tỉ lệ trực tiếp bởi vì tất cả kinh nghiệm về tâm – sinh lí học của chúng tôi đều đi ngược với điều này; hẳn là mức độ giảm hay tăng khối lượng năng lượng trong một khoảng thời gian xác định chính là nhân tố quyết định của cảm giác. Trong giả thuyết này, kinh nghiệm hẳn có thể cho chúng ta những dữ kiện hữu ích, nhưng nhà phân tâm học buộc phải tránh phiêu lưu trong các vấn đề này chừng nào họ chưa có được những quan sát chắc chắn và mang tính quyết định, có khả năng định hướng cho họ.

Tuy vậy, chúng tôi không thể thờ ơ trước việc một nhà bác học cũng sắc sảo như G. Th. Fechner đã quan niệm cái thích thú và cái khó chịu một cách giống, ít nhất là ở các đặc điểm cốt lỗi, với quan niệm thu được từ các nghiên cứu phân tâm học của chúng tôi. Trong cuốn sách nhỏ Einige Ideen zur Schopfungs – und Entwicklungsgeschichte der Organismen (1873, Phần XI, phụ lục, tr. 94), ông đã trình bày quan niệm của mình như sau: “Vì các xung động mang tính ý thức luôn được đồng hành bởi sự thích thú hoặc sự khó chịu, chúng tôi hoàn toàn có thể chấp nhận rằng cũng tồn tại các quan hệ tâm – vật lí học giữa một mặt là sự thích thú và sự khó chịu và mặt khác là giữa các trạng thái ổn định và trạng thái bất ổn định. Chúng tôi cũng có thể dựa vào các quan hệ này để có thể làm lợi cho giả thuyết mà chúng tôi sẽ phát triển ở phần sau, tức là mọi vận động về tâm – vật lí học mà vượt quá ngưỡng của ý thức đều đi kèm với sự thích thú với điều kiện vận động đó tiến gần đến sự ổn định trọn vẹn và phải vượt quá một giới hạn xác định , bởi có tồn tại một vùng trung tính về cảm giác nào đó giữa hai giới hạn, những giới hạn có thể được coi là ngưỡng xác định sự thích thú hoặc sự khó chịu…”.

Những lí do khiến chúng ta phải gắn cho nguyên tắc khoái cảm một vai trò nổi trội trong đời sống tâm trí được thể hiện trong giả thuyết theo đó bộ máy tâm trí có vẻ như có xu hướng duy trì ở mức càng thấp càng tốt, hay ít nhất là ở một mức độ càng ổn định càng tốt khối lượng kích thước mà nó chứa đựng. Đó chính là nguyên tắc khoái cảm được trình bày bằng các thuật ngữ hơi khác một chút, bởi, nếu như bộ máy tâm trí tìm cách duy trì khối lượng kích thích ở mức càng thấp càng tốt, thì hệ quả là tất cả những gì sẽ làm tăng số lượng này (số lượng kích thích) chỉ có thể được cảm nhận là phản chức năng, nghĩa là như một cảm giác khó chịu. Từ đó, nguyên tắc khoái cảm có thể được coi là được sinh ra từ nguyên tắc không đổi; nhưng trong thực tế, bản thân nguyên tắc không đổi được hé mở với chúng tôi bằng chính các tình huống đã đưa chúng tôi đến với  việc khám phá ra nguyên tắc khoái cảm. Sự khảo cứu sau này sẽ cho chúng ta thấy rằng xu hướng của bộ máy tâm trí mà chúng ta đang nói ở đây biểu trưng cho một trường hợp đặc biệt của nguyên tắc của Fechner, tức là của xu hướng duy trì sự ổn định mà ông gắn vào đó các cảm giác thích thú và khó chịu.

Nhưng liệu chúng ta có hoàn toàn đúng khi nói đến vài trò vượt trội của nguyên tắc khoái cảm trong sự vận động của các quá trình tâm trí? Nếu đúng là như vậy thì đại đa số các quá trình tâm trí của chúng ta hẳn là sẽ được đồng hành bởi sự thích thú hoặc dẫn đến thích thú, trong khi đó, phần lớn kinh nghiệm của chúng ta lại mâu thuẫn rõ ràng với kết luận này. Từ đó, chúng ta buộc phải chấp nhận rằng xu hướng mạnh mẽ thuận theo /vâng theo nguyên tắc khoái cảm là cái cố hữu của tâm hồn, nhưng cũng buộc phải chấp nhận rằng có một số lực lượng và tình tiết đối lập với xu hướng ấy, đến nỗi kết quả cuối cùng rất có thể không phải lúc nào cũng hợp với nguyên tắc khoái cảm. Về điểm này, Fechner33 đã nói :” Nhưng xu hướng hướng đến mục đích không phải lúc nào cũng dẫn đến thực hiện mục đích , nhìn chung chúng ta chỉ tiến gần đến việc thực hiện này chứ không phải là đạt được nó. “. Khi suy ngẫm về câu hỏi đâu là những tình huống có khả năng ngăn cản việc thực hiện nguyên tắc khoái cảm, chúng tôi đứng trên một “mảnh đất” không có gì nguy hại và đã biết rõ, và chúng tôi có thể trông cậy hoàn toàn vào kinh nghiệm phân tâm của mình.

Từ lâu chúng tôi đã biết đến trở ngại đầu tiên mà nguyên tắc khoái cảm vấp phải bởi đó là một trở ngại có thể nói là thông thường và quen thuộc. Đặc biệt, chúng ta biết rằng bộ máy tâm trí của chúng ta, một cách tự nhiên và cũng do cấu tạo của chính nó, tìm cách thuận theo nguyên tắc khoái cảm , nhưng dó những khó khăn đến từ thế giới bên ngoài, nguyên tắc khoái cảm không thể thường xuyên liên tục tự khẳng định mình; sự khẳng định này thậm chí có thể trở nên nguy hiểm đối với việc bảo tồn sự hoạt động của cơ thể. Dưới ảnh hưởng của xung năng bảo tồn của cái Tôi, nguyên tắc khoái cảm xóa nhòa bản thân và nhường chỗ cho nguyên tắc thực tiễn. Bằng cách này, chúng ta không từ bỏ mục đích cuối cùng, tức là đạt được sự thích thú/ khoái cảm mà chúng ta chấp nhận hoàn việc nhận được sự thích thú/ khoái cảm lại, không tận dụng một số cơ hội cho chúng ta khả năng đẩy nhanh việc đạt được sự thích thú/khoái cảm, và thậm chí là chịu đựng một sự khó chịu nhất thời, bằng việc đi một đoạn đường vòng dài để đạt đến sụ thích thú/ khoái cảm . Tuy vậy, những xung đột tính dục, khó có thể “ giáo dục” hơn, vẫn tiếp tục thuận theo chỉ mỗi nguyên tắc khoái cảm trong một thời gian dài nữa, và thường có hiện tượng là cái nguyên tắc khoái cảm này, vì nó thể hiện mong muốn của mình một cách độc quyền trong đời sống tính dục hoặc trong chính cái Tôi, sẽ kết thúc bằng việc thắng hoàn toàn nguyên tắc thực tiễn, và nếu như vậy thì đây là tổn hại lớn nhất đối với hoạt động con người trong nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, có một điều không thể phản bác, đó là việc nguyên tắc thực tiễn thay thế nguyên tắc khoái cảm chỉ giải thích được một phần nhỏ trong số các cảm giác khó chịu của chúng ta mà thôi, và cũng chỉ là các cảm giác ít dữ dội nhất. Một nguồn cảm giác khó chịu và nặng nề khác, không kém phần quen thuộc, được đại diện bởi các xung đột và những chia rẽ diễn ra trong đời sống tâm trí vào thời điểm cái Tôi thực hiện quá trình tiến hóa đến những tổ chức hoàn thiện hơn và chặt chẽ hơn của nó. Ta có thể nói rằng gần như toàn bộ năng lượng mà bộ máy tâm trí của chúng ta sở hữu đều đến từ các xung động ấy không có cơ hội đạt đến cùng một mức độ phát triển. Người ta nhận thấy rằng trong quá trình phát triển ấy, một số xung động hoặc một số khía cạnh của một số xung động, do mục đích và xu hướng của chúng tỏ ra không tương thích với các xung động khác, tức là các xung động mà sự liên kết, sự tổng hợp phải hình thànhn nên nhân cách đầy đủ, hoàn thiện. Cùng với sự dồn nén, các xu hướng này bị loại khỏi với cái tổng thể, không được chấp nhận là một phân trong cái tổng hợp, bị giữ ở một số mức độ thấp hơn quá trình phát triển tâm trí, và mọi khả năng thỏa mãn đều bị từ chối lúc đầu. Mặc dù vậy, đôi lúc chúng có thể (và thường là trường hợp các xung động tính dục dục bị dồn nén) nhận được một sự thỏa mãn nào đó, hoặc là trực tiêp hoặc là thay thế: khi điều này xảy ra, điều mà ở trong các tình huống khác sẽ là một nguồn thích thú/ khoải cảm, sẽ biến thành nguồn khó chịu trong trường hợp này. Tiếp theo cái xung đột cũ, xung đột đã dẫn đến sự dồn nén, nguyên tắc khoái cảm lại một lần nữa tìm cách khẳng định bản thân thông qua các con đường khác, những con đường đã bị đổi hướng, cùng lúc đó một số xung đột cũng cố gắng giúp cho nguyên tắc khoái cảm thành công vì lợi ích của các xung đột đó bằng cách thu hút về phía nó nhiều sự thích thú nhất có thể. Chúng ta cẫn còn chưa hiểu ngọn ngành hoặc chưa thể mô tả một cách đủ rõ ràng các chi tiết về quá trình thông qua nó sự dồn nén làm biến đổi một khả năng thích thú thành một nguồn gây khó chịu, ngược lại, điều chúng ta có thể khẳng định chắc chắn là mọi sự thích thú không được cảm nhận như là chính nó (sự thích thú).

Chúng ta còn lâu mới biết hết mọi nguyên nhân của phần lớn các kinh nghiệm tâm trí khó chịu hay nặng nề , nhưng nếu có tồn tại các kinh nghiệm khác, chúng ta có thể, và hẳn là chúng ta có lí, chấp nhận rằng sự tồn tại của chúng chẳng bác bỏ điều gì ở ưu thế của nguyên tắc khoái cảm. Thật vậy, phần lớn các cảm giác nặng nề mà chúng ta trải nghiệm đều bị gây nên hoặc bị áp lực do các xung động không thỏa mãn tạo ra, hoặc bởi các tác nhân bên ngoài, những tác nhận khi thì đánh thức trong chúng ta các cảm giác mang bản chất khó chịu, khi thì làm xuất hiện trong bộ máy tâm trí những mong đợi nặng nề, một cảm giác “ nguy hiểm”. Phản ứng lại áp lực của các xung động không được thỏa mãn và các mối đe dọa nguy hiểm, kiểu phản ứng thông qua đó hoạt động riêng có của bộ máy tâm trí được thể hiện, rất có thể sẽ được thực hiện dưới sự ảnh hưởng của nguyên tắc khoái cảm, hoặc là nguyên bản, hoặc là bị biến đổi bởi nguyên tắc thực tiễn. Do đó, chúng tôi cho rằng không cần thiết phải hạn chế nguyên tắc khoái cảm một lần nữa, và mặc dù vậy việc xem xét / thăm khám các phản ứng tâm trí đối với mối nguy hiểm bên ngoài có khả năng cũng cấp cho chúng ta các vật liệu mới và gợi mở cho chúng ta các cách thức mới trong việc đặt ra các câu hỏi có liên quan đến vấn đề chúng ta đang quan tâm.

Bộ sách Phân tâm học căn bản hiện đã có trên Hang Cáo.

Mời bạn mua sách tại ĐÂY.

Share
Share: