Tôi đọcVăn chương - Cái đẹp

Nói về tiểu thuyết võ hiệp tôi từng đọc (1) – Cổ Long

Lang 43

Trích “Ai cùng tôi cạn chén” của Cổ Long.

Mời bạn mua sách tại ĐÂY.


 

Nghe nói bằng hữu của tôi chuẩn bị viết Lịch sử tiểu thuyết võ hiệp Trung Quốc. Đây thật là một chuyện hết sức đáng mừng đối với một người viết tiểu thuyết võ hiệp.

Tiểu thuyết võ hiệp tồn tại đã lâu, tiểu thuyết võ hiệp không được coi trọng cũng đã lâu. Bây giờ cuối cùng cũng có người đứng ra để làm một quyển xếp loại thống kê dạng tiểu thuyết này, giúp nó về sau cũng có thể chiếm một địa vị trong lịch sử tiểu thuyết. Bản thân của việc làm ấy, không còn nghi ngờ gì nữa, là một việc to tát trong lịch sử tiểu thuyết võ hiệp. Hễ ai là người viết tiểu thuyết võ hiệp đều nên tề tâm hiệp lực giúp hoàn thành nhiệm vụ trọng yếu này.

Cho nên tôi cũng không tránh khỏi thấy mà khát khao, chỉ đáng tiếc tôi đâu có như những bằng hữu kia, đã không có sự can đảm ghê gớm dường ấy, cũng không có cái tài cao đến thế, tôi bất quá chỉ như một tên nhà quê thô lậu nhưng chân thành, muốn đem chút tâm đắc và cảm tưởng của mình đối với tiểu thuyết võ hiệp viết ra đây, không thể coi là ghi chú biên bản chính thức, càng không thể coi là lời bình luận nghiêm túc.

Giả như nó vẫn có thể gây được chút hứng thú cho quý vị độc giả, tôi đã mãn nguyện lắm rồi.

 

o0o

 

Luôn có rất nhiều quan điểm khi bàn đến gốc gác của tiểu thuyết võ hiệp.

-Trung Quốc có tiểu thuyết võ hiệp bắt đầu từ Du hiệp liệt truyện của Thái Sử Công, quan điểm này         đương nhiên là một trong những quan điểm đường hoàng nhất, nhưng đâu có nhiều người chấp nhận nó.

Bời tiểu thuyết võ hiệp là truyện truyền kì, khó tránh khỏi có vẻ vừa dối người mà cũng tự dối mình nếu nhất định đánh đồng nó với thứ truyện ký nghiêm túc của Thái Sử Công.

Trong ký sự tiểu thuyết thời Đường, ta mới tìm thấy những cố sự gần gũi với tiểu thuyết võ hiệp.

Quyển 5 của Đường nhân thuyết oáiNhĩ mục ký của Trương Khiên có những đoạn cố sự đậm tính truyền kỳ “võ hiệp” .

“ Cuối thời Tùy, Gia Cát Ngang xuất thân ở Thâm Châu, tính tình hào sảng. Cao Toản ở Bột Hải nghe tiếng đến chào, chỉ được đãi mề gà tạp nhạp mà thôi. Toản khinh, hôm sau bày tiệc lớn, mời mấy chục khách bao gồm Ngang, mổ heo mổ dê treo dài tám thước, lăn bánh mỏng rộng cả trượng, gói cuộn lại to như cái trụ đình, mâm mâm bày chén đĩa rượu theo tuần, tự đặt ra điệu múa Kim Cương tiễn khách.

Quan bữa sau Ngang mời Toản cùng mấy trăm khách, lại đãi lớn, bánh xe mang rượu đến rót, cưỡi ngựa mang thịt đến cắt cho khách, hát khúc Dạ Xoa múa điệu Sư Tử.

Toản chờ ngày mai làm thịt hai đứa con mới mười mấy tuổi, bưng đầu lâu tay chân lên, khách mời ai nấy cũng mửa.

Ngang lại báo tiệc hôm sau, trước cho nàng thiếp xinh đẹp bầu rượu. Nàng ta vô tình cười một tiếng, Ngang quát đuổi xuống, chốc sau hun hấp nàng thiếp dựng ngồi trêm mâm bạc, mặt mày vẫn còn son phấn, y phục vẫn đúng gấm thêu, xẻ thịt đùi mà ăn. Toản và quan khách đều bịt mắt, Ngang còn cắt thịt mỡ ở ngực ăn tiếp, ăn tới no mới thôi.

Toản thẹn, đêm bỏ trốn về.”

Đoạn cố sự ấy miêu tả sự hào phóng đến tàn khốc của Gia Cát Ngang và Cao Toản, làm cho người đọc không thể tưởng tượng nổi. Thủ pháp miêu tả cũng gần gũi với lối miêu tả tàn khốc trong tiểu thuyết võ hiệp hiện đại.

Nhưng cố sự ấy lại rời rạc từng đoạn, hình thức của nó cách một khoảng khá xa với tiểu thuyết.

Thời đó cũng có rất nhiều sự cố trong tiểu thuyết truyền kỳ, lời bình, ngân tự nhân(1) rất có tình “võ hiệp”. Ví như các nhân vật Hồng Tuyến trộm hộp, Côn Lôn nô, Diệu thủ Không Không Nhi, Cầu Nhiêm Khách cơ hồ đâu khác biệt gì với nhân vật trong tiểu thuyết võ hiệp hiện đại.

Vũ khí chủ yếu nhất trong tiểu thuyết võ hiệp là kiếm. Từ thời Đường trở đi, đã có rất nhiều truyện miêu tả kiếm thuật còn thần kì hơn trong tiểu thuyết võ hiệp hiện đại.

Kiếm thuật của Hồng Tuyến và Đại Lý tướng quân được khoa trương đến gần như thần thoại. Còn truyền thuyết dính tới Công Tôn đại nương rõ ràng là có căn cứ, đâu phải xây lâu đài giữa không trung.

Quan công tôn đại nương đệ tử vũ kiếm khí hành của Đỗ Phủ có miêu tả kiếm thuật của Công Tôn đại nương và đệ tử của bà ta, Lý thập nhị nương, sinh động và truyền thần vô cùng.

Giai nhân hồi xửa họ Công tôn

Múa kiếm mỗi phen dậy bốn phương

Người xem chen lấn tim thình thịch

Trời đất xoay vần cũng bởi Nương

Ngời tựa vầng dương chàng Nghệ bắn

Dẻo như rồng lượn thánh thần dong

Tuốt giống sét giăng người nín thở

Tra y biển lặng ánh mơn dòng.(2)

Đỗ Phủ là một thi nhân, lối miêu tả của thi nhân tuy không tránh khỏi có chút khoa trương, nhưng xem tính cách của Đỗ Phủ và thói quen sáng tác của ông, cho dù ông có khoa trương cũng đâu cường điệu thái quá.

Huống chi đại thư pháp gia Thảo Thánh Trương Húc thời Đường cũng từng nói: “ Hồi trước nhờ tôi nghe chuyện công chúa và người khuân vác giành đường mà ngộ được cái ý của bút pháp, sau lại thấy hiếm khí của họ Công Tôn mà ngộ được cái thần.”

Từ đó có thể thấy Công Tôn đại nương không những là người thật mà kiếm thuật của bà nhất định cũng gây ấn tượng vô cùng.

-Kiếm khí tuy không phải là kiếm, mà là múa, nhưng múa kiếm tất cũng có thể coi là một thứ

kiếm thuật, chỉ đáng tiếc hậu nhân như tôi không được chứng kiến mà thôi.Suy ra từ đó, lối miêu tả võ công trong tiểu thuyết võ hiệp cũng đâu phải hoàn toàn vô căn cứ, ít ra nó đâu có hoang đường như đám “vệ đạo” trong giới văn nghệ nói.

Những truyền thuyết và truyện ký cổ xưa ấy, từng chút từng chút đi tiếp, đều là điểm bắt nguồn của tiểu thuyết võ hiệp, lại trải qua lời bình phẩm của dân gian, qua sự sửa đổi thêm bớt của lối hát khúc và kể chuyện, mới dần dần biến thành cái hình thức hiện nay.

Bành công án, Thi công án, Thất hiệp ngũ nghĩa, Tiểu ngũ nghĩa và Tâm hiệp kiếm đều là sách sáng tác căn cứ vào những câu chuyện được kể thu thập lại, có thể coi đó là nhóm tiểu thuyết võ hiệp ra đời trước nhất mà chúng ta tiếp xúc được.

Bộ Thất hiệp ngũ nghĩa vốn đâu có bảy hiệp khách, mà chỉ có “tứ hiệp ngũ nghĩa”, về sau trải qua sự bổ sung thêm thắt của đại giáo sư văn học một thời là Dư Khúc Viên tiên sinh, cộng thêm vào Hắc Yêu Hồ Trí Hóa, Tiểu Gia Cát Thẩm Trọng Nguyên, Tiểu hiệp Ngải Hổ mới trở thành bản ngày nay, nổi tiếng tới bây giờ. Cho nên, nghiêm khắc mà nói, Du Khúc Viên cùng là một trong những vị tiền bối “viết tiểu thuyết võ hiệp” của chúng ta.

Tam hiệp kiếm của Trương Kiệt Hâm là tác phẩm thời kì sau, cho nên hình thức của nó gần gũi nhất với tiểu thuyết võ hiệp thời nay.

Nhân vật chủ yếu nhất trong bộ tiểu thuyết ấy vốn nên là Kim tiêu Thắng Anh. Nghênh Môn Tam Bất Quá, Sủy Đầu Nhất Chích và Ngư Lân Tử Kim đao đều là vũ khí “ dương danh thiên hạ” của y, nhưng y lại đâu có phải nhân vật anh hùng làm cho người ta nhiệt huyết đằng đằng.

Y quá cẩn thận, quá sợ có chuyện, hơn nữa còn hơi gian hoạt, tính cách của y cũng giống như đệ tử Hoàng Tam Thái của y. Nếu so bì, hào khí của cả hai thua xua Đậu Nhĩ Đôn, kẻ từng bị câu tiêu của Hoàng Tam Thái đả thương, về sau lại khơi khơi con trai của Hoàng Tam Thái là Hoàng Thiên Bá đánh bại.

Thắng Anh, Hoàng Tam Thái, Hoàng Thiên Bá vốn là một dòng anh hùng nối tiếp nhau, nhưng lại rõ ràng không phải nhân vật anh hùng điển hình chân chính.

Thắng Anh là đồ đề thứ tư của Kiếm khách Ngải Liên Trì, song võ công kém sư huynh đệ của y rất nhiều. Chẳng những y đương nhiên không bì được với đại sư huynh “Trấn tam sơn, hạt ngũ nhạc, cản lãng vô ti quỷ kiến sầu, đại đầu quỷ vương” Hạ Hầu Thương Nguyên, mà so với ngũ sư đệ “Phi thiên ngọc hổ” Tưởng Bá Phương và lục sư đệ” Hải để lao nguyệt” Diệp Tiềm Long y cũng còn kém xa.

Cho nên hồi trước tôi vẫn không hiểu tại sao Trương Kiệt Hâm lại cho một người như vậy làm anh hùng trong sách của ông. Mãi cho tới bây giờ tôi mới hiểu: ông ta viết như vậy là có nỗi khổ của ông ta.

Cái hoàn cảnh xã hội cuối thời Thanh vốn đâu có cổ vũ ai làm anh hùng, đám quân tử lão luyện già đời mới là kẻ người ta cho rằng đáng được biểu dương.

Tiểu thuyết võ hiệp cũng giống như các loại tiểu thuyết khác, phải chịu ảnh hưởng của lề thói trong xã hội, vì vậy không khó nhìn ra bối cảnh thời đại đương thời của tác giả từ một bộ của tiểu thuyết võ hiệp.

Bộ Tam hiệp kiếm của Trương Kiệt Hâm không những kết cấu lan man, nhân vật cũng quá nhiều, đâu thể coi là bộ tiểu thuyết thành công, vì bộ đó vốn đâu phải tác giả có khung dàn để viết, mà là người khác căn cứ theo những ghi chép của ông ta về “truyện kể”, những “truyện kể” ăn khách, ứng theo yêu cầu của chủ quán và thính giả, muốn ngưng cũng không được, chỉ đành thuận dòng trôi tiếp chẳng có hạn chế, về sau đương nhiên khó tránh khỏi đầu voi đuôi chuột, thậm chí không có cách nào kết thúc.

Tôi đặc biệt nhắc tới bộ đó là vì tiểu thuyết võ hiệp sau này hầu hết cơ hồ phạm phải căn bệnh ấy, sự phát triển câu chuyện và nhân vật thường thoát ly khỏi ý chính quá xa, hai thí dụ rõ rệt là Giang hồ kỳ hiệp truyện của Bình Giang Bất Tiếu Sinh và Thục Sơn kiếm hiệp truyện của Hoàn Châu Lâu Chủ.

 

o0o

 

Bình Giang Bất Tiếu Sinh và Hoàn Châu Lâu Phủ đều là những tác giả thiên tài, tài hoa tung hoành, văn từ uyên bác. Tác phẩm của họ bộ nào cũng bao la bát ngát, mặc ý vẫy vùng, hùng tráng mỹ miều, biến hóa khôn lường.

Bình Giang Bất Tiếu Sinh Hướng Khải Nhiên cùng một thời với Tam Tương Kỳ Hiệp Liễu Sâm Nghiêm. Giang hồ kỳ hiệp truyện của ông nghe nói căn cứ theo truyền thuyết của Liễu Sâm Nghiêm rồi thêm thắt để viết thành. Nhân vật chính Liễu Trì, đệ tử của “Kim la hán” Lữ Tuyên Lương, chính là hóa thân của Liễu Sâm Nghiêm.

Nhưng sự phát triển của câu chuyện về sau đã hoàn toàn thoát ly khỏi ý chính. Cao thủ tuyệt đỉnh mô tả ở phần trước, sau này lại biến thành nhân vật không đón đỡ nổi một chiêu. Rất nhiều người đọc được tới nửa bộ là hết hứng bỏ xó, cũng giống như người ta đọc Hồng lâu mộng chỉ đọc 80 hồi đầu, xem Tam quốc chí tới đoạn Gia Cát đã chết mà hù được Tư Mã chạy cuống cuồng là buông tay thôi.

Cho dù đoạn sau có lắm chỗ làm người đọc tức khí, đoạn trước lại hay vô cùng, thậm chí có thể nói đọc cả trăm lần cũng không thấy ngán, vì vậy Giang hồ kỳ hiệp truyện không những lững lầy đương thời, mà còn có thể coi là một danh tác bất hủ trong các tiểu thuyết võ hiệp.

Những danh tác bất hủ chỉ hay được phân nửa đâu có thiếu, ví như Gulliver du kýKính hoa duyên cũng vậy. Cái khéo là bản thân hai bộ đó cũng có rất nhiều chỗ giông giống, nửa phần đầu đều tả những vương quốc trong ảo tưởng, châm biếm bệnh trạng và mặt đáng cười đáng xót trong nhân tính của xã hội đương thời.

Gulliver du ký có đất nước của người khổng lồ Brobdingnag và đất nước của người tí hon Lilliput. Kính hoa duyên cũng có Quân tử quốc và Nữ nhân quốc, ngẫu nhiên lạ thường, mà thật cũng lý thú vô cùng. Từ đó có thể thấy tư tưởng triết học của người phương Đông và phương Tây trên cơ bản đâu có khác biệt quá lắm. Chỉ đáng tiếc độc giả đời sau thường chỉ tiếp nhận những gì hấp dẫn thú vị trong sách mà bỏ qua hết ngụ ý bao hàm bên trong.

Kết cấu của Thục sơn kiếm hiệp truyện tuy cũng rất lan man nhưng phải nhất trí là thú vị. Tính cách của từng nhân vật tuyệt đối chặt chẽ tiền hô hậu ứng. Lai lịch và võ công của mỗi nhân vật đều liền lạc rõ rệt vô cùng, hơn nữa thứ bậc phân mình, nếu chỉ đơn thuần luận về tiểu thuyết võ hiệp, bộ sách này rõ ràng thành công hơn Giang hồ kỳ hiệp truyện.

Ngoại trừ nhân vật hết sức sinh động, lối tả cảnh trong sách cũng phải gọi là nhất tuyệt, tả cái đẹp của nhà cửa, cái tinh túy của y phục và đồ gia dụng, cái cầu kì của nghệ thuật ẩm thực thời cổ đại, chẳng có bất cứ bộ tiểu thuyết võ hiệp nào có thể bì được. Sau khi đọc bộ này, độc giả nào cũng đồng ý rằng mình vừa thưởng thức được cả một cuốn du ký và một cuốn ghi chép ẩm thực lý thú hết sức.

Tôi một mực cho rằng cái thú vị của tiểu thuyết võ hiệp vốn ở chỗ đa phương diện. Cái thú vị của đa phương diện, chỉ có trong tiểu thuyết võ hiệp, mới có thể cùng lúc tồn tại.

Tiểu thuyết trinh thám không có võ hiệp, tiểu thuyết võ hiệp lại có thể bao gồm trinh thám; tiểu          thuyết văn chương tình cảm không có võ hiệp, tiểu thuyết võ hiệp lại có thể bao gồm văn chương tình cảm.

Đó chính là một đặc tính quái lạ vô cùng của tiểu thuyết võ hiệp, như cách viết Thục Sơn kiếm hiệp truyện vừa hay có thể phát huy hoàn toàn cái đặc tính này.

Cho nên phương thức viết ấy luôn luôn chiếm một địa vị trọng yếu vô cùng trong tiểu thuyết võ hiệp. Hoàn Châu Lâu Chủ Lý Thọ Dân cũng vì vậy mà trở thành bậc đại sư phụ kế thừa cái cũ, sáng tạo cái mới, khai tông lập phái.

Trừ Thục Sơn ra, các tác phẩm của Hoàn Châu Lâu Chủ bao gồm Liễu hầu hiệp ẩn, Trường Mi chân nhân truyện, Nga Mi thất ải, Vân hải tranh kỳ ký, Binh thư hạp, Thanh môn thập tứ hiệp, Thanh Thành thập cửu hiệp, Man hoan hiệp ẩn, Hắc sâm lâm, Hắc mã nghĩ, Lực, trong đó đại đa số đều có quan hệ rất mật thiết với Thục Sơn.

Những bộ sách ấy cơ hồ không có bộ nào thật sự có kết thúc hoàn chỉnh, bởi cục diện ông tả quá lớn,vì vậy khó thu thập tàn cục. Mãi cho đến giờ, vẫn có rất nhiều tiểu thuyết võ hiệp phạm vào căn bệnh này.

Nhưng trong số các tác giả cùng thời đại với Hoàn Châu Lâu Chủ lại có một người không chịu ảnh hưởng từ ông ta. Người đó là Vương Độ Lư.

 

o0o

 

Tác phẩm của Vương Độ Lư không những phong cách tân kỳ mà còn tự tạo nên một trường phái riêng, hơn nữa tình tiết rất tinh tế, kết cấu chặt chẽ, mỗi bộ đều vô cùng hoàn chỉnh.

Các bộ nổi danh Hạc kinh Côn Lôn, Bảo kiếm kim thoa, Kiếm khí châu quang, Ngọa hổ tàng long,    Thiết kỵ ngân bình của ông tuy là cùng một hệ thống, nhưng đều có chỗ độc lập, đều kết thúc xảo diệu phi thường.

Ông cũng là người đầu tiên áp dụng bút pháp tiểu thuyết văn chương vào tiểu thuyết kiếm hiệp.

Danh gia cùng thời với ông còn có Trịnh Chứng Nhân, Chu Trinh Mộc, Bạch Vũ, ngoài ra Hoàn Tố Lâu Chủ người viết Thắng tự kỳ, Từ Xuân Vũ người viết Bích huyết uyên ương, tuy cũng thu hút được rất nhiều độc giả, nhưng so với bọn họ vẫn phải chịu kém một bậc.

Trịnh Chứng Nhân là tác giả tiểu thuyết võ hiệp mà tôi sùng bái trước nhất. Văn từ của ông giản dị, tả chuyện võ lâm mà khiến người đọc không khác gì đang dấn thân vào cảnh tượng, tả chiêu thức tuyệt kỹ lại càng là chuyên gia, có hồ có thể đem từng thức từng chiêu mô tả hết sức sinh động như thật, cho nên có rất nhiều người cho rằng bản thân ông nhất định phải tinh thông võ nghệ.

Ông là một tác giả viết rất nhiều, sách thường rất ngắn, vì vậy rất gọn gàng tinh xảo, trong đó bộ dài nhất là Ưng trảo vương, mà bộ nổi tiếng nhất cũng là Ưng trảo vương. Lối viết của ông tuy không mấy ai bắt chước, nhưng chiêu thức võ nghệ và quy mô bang hội trong sách ông suốt cho tới nay vẫn luôn có người chọn dùng, cho nên ông rõ ràng cũng mang thân phận bậc tông chủ một phái.

Nếu đem tiểu thuyết võ hiệp thời đó chia làm năm phái lớn thì Hoàn Châu Lâu Chủ, Vương Độ Lư, Trịnh Chứng Nhân, Chu Trinh Mộc và Bạch Vũ phải là chưởng môn nhân của ngũ đại môn phái.

Thất sát bi, La sát phu nhân, Diễm ma đảo, Long cương ân cừu ký của Chu Trinh Mộc …

Thập nhị kim tiền tiêu, Độc sa chưởng, Sư lâm tam điểu của Bạch Vũ…

Mỗi một bộ đều đã từng lừng lẫy một thời, đều đã từng làm cho tôi quên ăn bỏ ngủ, hễ đọc là thâu đêm suốt sáng.

Ngoại trừ mấy bộ đó ra, còn có vài bộ tuy không mấy ai biết nhưng lại là những bộ tôi thiên vị nhất.

Đó là Thần đạn càn khôn thủTứ kiếm chấn giang hồ do Bạch Vũ và Vu Phương hợp tác viết.

Tôi trước sau không biết Vu Phương là người ra sao, tại sao chỉ viết hai bộ ngắn ngủi rồi không xuất bản tác phẩm nào nữa.

Trên thực tế, tác phẩm của các danh gia đâu có bao nhiêu, hơn nữa cách đây hai chục năm cơ hồ không còn tác phẩm mới, cho nên cái giai đoạn giữa thập niên 40 và 50 có thể coi là giai đoạn suy vi nhất của tiểu thuyết võ hiệp.Trong giai đoạn đó, chỉ có một bộ tiểu thuyết võ hiệp bán rất chạy do một vị danh gia đem sao chép nhân vật “Hắc ma lặc” và “Nữ hiệp Dạ Minh Châu”  trong sách của Hoàn Châu Lâu Chủ.

Mãi cho đến đầu thập kỉ 50 mới có người xuất hiện “ phục hưng” tiểu thuyết võ hiệp, khai sáng một cục diện mới cho tiểu thuyết võ hiệp, khiến cho tiểu thuyết võ hiệp phát triển hừng hực hai chục năm liền.

Số lượng danh gia xuất hiện, sự phong phú của tác phẩm, và sự biến hóa trong kỹ xảo viết truyện trong hai chục năm ấy đều đã đạt đến một đỉnh cao mới, vượt hẳn thời đại của bọn Hoàn Châu Lâu Chủ.

Người khai sáng cái cục diện ấy là Kim Dung.

 

o0o

 

Tôi vốn không muốn thảo luận tác giả tiểu thuyết võ hiệp thời nay, nhưng Kim Dung lại là ngoại lệ.

Bởi sức ảnh hưởng của ông đối với tiểu thuyết võ hiệp thời nay là cái không ai có thể bì được. Tiểu thuyết võ hiệp suốt gần mười tám năm nay, bất kể là tác phẩm của ai, ít nhiều gì cũng khó tránh khỏi chịu ảnh hưởng của ông.

Ông dung hợp các trường phái, chẳng những gồm tiểu thuyết võ hiệp mà còn dung hòa văn học phương Tây hiện đại và văn học Trung Quốc cổ điển, mới hình thành được cái phong cách đặc thù độc đáo của riêng mình, chọn lọc cô đọng, trong sạch gọn ghẽ, sống động tự nhiên!

Tiểu thuyết của ông kết cấu chặt chẽ, cục diện tuy lớn nhưng đầu đuôi hợp nhất, nhân vật bên trong càng hừng hực sức sống, sinh động như thật.

Đặc biệt là Dương Quá.

Dương Quá, không còn nghi ngờ gì nữa, là một trong số ít những nhân vật khả ái nhất trong tất cả các tiểu thuyết võ hiệp.

Tình cảm giữa Dương Quá, Tiểu Long Nữ và Quách Tương, cũng không còn nghi ngờ gì nữa, có thể coi là chuyện tình động lòng người nhất trong tiểu thuyết võ hiệp.

Điểm trọng yếu nhất là phong cách ông ta sáng tạo ra bộ tiểu thuyết võ hiệp ấy, cơ hồ rất ít ai có thể đột phá.

Nhưng trong các tác phẩm thời kỳ đầu của ông ta vẫn có hình bóng của người khác.

Thư kiếm ân cừu lục miêu tả “Bôn lôi thủ” Văn Thái Lai chạy đến nhà đại hiệp Chu Trọng Anh, núp dưới giếng khô, bị đứa con trai bé nhỏ ngô nghê của Chu Trọng Anh vì một cái kình viễn vọng mà bán đứng. Chu Trọng Anh không ngờ đã nén đau mà giết đứa con trai duy nhất đó sau khi biết chuyện.

Câu chuyện này cơ hồ là hóa thân của một truyện ngắn nổi tiếng của văn hào người Pháp Mérimée, bất quá là đem cái đồng hồ vàng đổi thành kính viễn vọng mà thôi.

Nhưng điều đó đâu có ảnh hưởng gì tới sức sáng tạo của Dung tiên sinh, bởi ông ta đem cố sự ấy kết thành một thể với sự sáng tạo của riêng mình, khác gì ra từ một hơi. Đọc câu chuyện trong Thư kiếm ân cừu lục cơ hồ còn cảm động lòng người hơn là bản nguyên tác trong tập truyện La Venus d’Ille(3).

Xem câu chuyện tả cha mẹ Trương Vô Kỵ và Kim Mao sư vương trên đảo băng xa xăm trong Ỷ thiên đồ long ký , tôi cũng nhìn thấy bóng dáng của một tác gia vĩ đại, Jack London.

Tính cách của Kim Mao sư vương cơ hồ giống như Wolf Larsen trong The Sea- Wolf.

Nhưng loại mô phỏng đó lại không thể chê trách.

Bởi ông ta đã hoàn toàn hấp thụ dung hóa The Sea-Wolf , làm cho người đọc chỉ có thể thấy Kim Mao sự vương, không còn thấy Wolf Larsen nữa.

Ưu điểm lớn nhất của tiểu thuyết võ hiệp là có thể bao la vạn tượng, thâu tóm hết vào một chỗ – có thể viết văn chương tình ái trong tiểu thuyết võ hiệp, nhưng lại không thể đem viết võ hiệp trong tiểu thuyết văn chương tình ái.

Bất cứ ai đang viết đều khó tránh khỏi chịu ảnh hưởng của người khác. Câu “Văn chương của thế giới đa phần là bản sao” tuy có hơi cường điệu, cũng đâu phải hoàn toàn vô lý.

Sức sáng tạo của một tác giả cố nhiên đáng quý, nhưng sức liên tưởng và sức mô phỏng cũng quan trọng như thế.

Bản thân tôi lúc bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp cơ hồ là cắm cổ mô phỏng Kim Dung tiên sinh, viết hơn mười năm, tới lúc viết Danh kiếm phong lưuTuyệt đại song kiêu vẫn còn đang mô phỏng Kim Dung tiên sinh.

Tôi tin người cùng tình cảnh với tôi trong số các tác giả tiểu thuyết võ hiệp đâu có ít.

Cái điểm này chắc chắn cũng đáng để Kim Dung tiên sinh kiêu ngạo lắm.

Phong cách tiểu thuyết võ hiệp do Kim Dung tiên sinh sáng tạo tuy đến nay vẫn đủ để hấp dẫn ngàn ngàn vạn vạn độc giả, nhưng tiểu thuyết võ hiệp đã đến lúc phải tìm hướng mới, đã đến lúc phải tìm cách biến chuyển.

Bởi tiểu thuyết võ hiệp đã viết quá nhiều, độc giả cũng đã đọc quá nhiều.

Có rất nhiều độc giả xem hai cuốn đầu của một bộ sách liền có thể dự đoán kết cục.

Cái kỳ diệu nhất là: câu chuyện càng kỳ quái quỷ bí, độc giả càng dễ dàng phán đoán kết cục.

Bởi câu chuyện “kỳ quái quỷ bí” đã được viết vô số lần, cải trang, độc dược, giả chết, nữa nhân lương thiện nhất chính là nữ ma đầu – mấy cái sáo ấy rất khó khiến cho độc giả cắn câu mắc bẫy.

Cho nên biến hóa quỷ bí trong tình tiết không thể coi là sức hấp dẫn lớn nhất trong tiểu thuyết võ hiệp nữa.

Sự xung đột trong nhân tính mới vĩnh viễn là cái có sức hấp dẫn.

Tiểu thuyết võ hiệp không nên tả thần, tả ma đầu nữa mà nên bắt đầu tả người, người sống sờ sờ! Người có máu có thịt!

Chủ đề trong tiểu thuyết võ hiệp nên có ưu điểm của con người, cũng nên có khuyết điểm của con người, càng nên có tình cảm của con người.

Đại văn hào Flaubert, tác giả của cuốn Madame Bovary từng khoác lác một câu: “Sau thế kỉ 19 sẽ không còn tiểu thuyết nữa.”

Bởi ông ta nhận thấy tất cả những tình tiết chuyện, tất cả những biến hóa tình cảm đều đã được các tác giả vĩ đại của thế kỉ 19 viết hết rồi.

Nhưng ông ta đã lầm.

Ông ta đã bỏ sót một điểm: cho dù tình tiết chuyện có giống, nếu nhìn từ góc độ khác, tiểu thuyết viết ra sẽ hoàn toàn khác biệt.

Quan niệm và lối nhìn của nhân loại vốn là cái vĩnh viễn biến đổi không ngừng, tùy theo thời đại mà cải biến.

Cái tiểu thuyết võ hiệp tả tuy là chuyện cổ xưa, cũng vị tất không thể rót quan niệm mới của bản thân tác giả vào.

Bởi tiểu thuyết vốn là cái hư cấu.

Viết tiểu thuyết không phải là viết truyện ký lịch sử. Mục đích lớn nhất của viết tiểu thuyết là muốn thu hút độc giả, làm độc giả cảm động.

Tình tiết của tiểu thuyết võ hiệp nếu không có cách nào biến hóa nữa, tại sao không thể sửa đổi, viết về tình cảm của nhân loại, sự xung đột của nhân tính, từ trong xung đột tình cảm sáng tạo ra cao trào và động tác.

(còn tiếp)

*

Bài được lấy từ cuốn
Ai cùng tôi cạn chén” của Cổ Long.

Mời bạn mua sách tại ĐÂY.

14470480_909674965803923_1846404621509755131_n

Chú thích:

1.Một trong bốn loại truyện kể thời Nam Tống, nội dung của nó bao gồm thần linh quỷ quái, truyền kì, công án.

2.Nguyên văn: “Tích hữu giai nhân Công Tôn thị, nhất vũ kiếm khí động tứ phương, quan giả như sơn sắc tự tang, thiên địa vi chi cửu đê ngang. Hoắc như nghệ xạ cửu nhật lạc, kiều như quần đế tham long tường, lai như lôi đình thu chấn nộ, bãi như giang hải ngưng thanh quang.”

3.Ý nói truyện ngắn Mateo Falcone trong tập truyện La Venus d’Ille.

 

Share
Share: