Tôi đọcTriết học - Tôn giáo

Phản đối đồng cảm (Against Empathy)

Narnia

Lời người dịch: Đến hôm nay tôi vẫn chưa hết băn khoăn về một câu hỏi trong Đề thi Tốt nghiệp Phổ thông môn Văn vừa diễn ra năm 2017. Tôi băn khoăn khoăn về hai lẽ. Thứ nhất: Vì sao những người ra đề lại chọn một đoạn văn lởm khởm, trong đó có khái niệm “thấu cảm”, một khái niệm ít thông dụng, làm đề thi cho học sinh? Thứ hai: Tại sao Bộ Giáo dục & Đào tạo lại giao một trọng trách như thế vào tay những người kém hiểu biết, thiếu thông tin khoa học thảm hại như vậy.

Mới năm ngoái đây thôi (2016), công trình nổi tiếng “Phản đối đồng cảm” (“Against Empathy”) của Paul Bloom vừa công bố liền làm dậy sóng dư luận, tạo ra một cú sốc đối với công chúng khoa học. Giá mấy ông giáo Việt Nam có được thông tin này, chắc chắn họ sẽ đắn đo nhiều khi ra một câu hỏi như vậy trong đề thi. Paul Bloom sinh năm 1963, người Canada, là Giáo sư tâm học và khoa học tri nhận Đại học Yale. Các công rình nghiên cứu của ông dồn trọng tâm vào những vấn đề ngôn ngữ, đạo đức, tôn giáo, văn học và nghệ thuật.

Từ thời xa xưa, Phật học đã nói tới “từ bi”, “hỉ xả”, Khổng học nói về “trắc ẩn”, Kito giáo nói về “đồng cảm”, xem đó là sức mạnh tạo ra cái thiện. Paul Bloom chứng minh đó là nhận thức sai lầm, vì sự đồng cảm (“empathy”) có mặt sáng và mặt tối, nó hướng tới nhỏ, cái cụ thể mà bỏ qua cái lớn, cái trừu tượng, nó gắn với người gần đồng tông, đồng tộc, mà lãnh đạm với người xa, dị chủng, nó mạnh về cảm xúc, nhưng yếu trong tri nhận. Xin nêu vài nhận xét của Paul Bloom:
– “Đa số dân chúng cho rằng sự ưu việt của tình đồng cảm là quá hiển nhiên chẳng cần phải chứng minh. Điều đó là sai lầm” (“Most people see the benefits of empathy as too obvious to require justification. This is a mistake”).
– “Khêu gợi đồng cảm không phải là sức mạnh duy nhất thúc đẩy lòng nhân hậu” (“Empathetic arousal is not the only force that motivates kindness”);
– “Làm người tốt phải có lòng trắc ẩn từ xa, biết tự kiểm soát và yêu lẽ công bằng” (“Being a good person is related to more distanced compassion, along with self-control, and a sense of justice”).
Đó chính là những kết luận gây sốc. Tôi dịch tiểu luận này như là một cách cung cấp thông tin cho những ai quan tâm tới vấn đề “đồng cảm” và thuật ngữ “Empathy”. Nguồn văn bản được tôi chọn dịch là video bằng tiếng Nga, nên không tránh khỏi “tam sao thất bản”, mong những ai thạo tiếng Anh sẽ cung cấp cho bạn đọc một bản dịch tốt hơn.

Lã Nguyên

—————
Khi ngườ i ta hỏi tôi, giờ anh đang làm gì, tôi thường trả lời, tôi viết sách về sự đồng cảm. Mọi người, ai cũng cười rất tươi, gật đầu tán thành, nhưng sau đó tôi nói thêm: “Tôi phản đối đồng cảm”. Điều đó thường khiến người ta thấy buồn cười, khó xử. Thoạt đầu, phản ứng ấy khiến tôi ngạc nhiên, nhưng sau đó thì tôi hiểu, rằng chống lại sự đồng cảm cũng tựa như tuyên bố là tôi căm thù những chú mèo con: lời tuyên bố dã man tới mức nó có thể trở thành thứ trò đùa. Rồi tôi học cách giới thuyết bằng thuật ngữ, tôi giải thích rằng tôi không chống lại đạo đức, không chống lại lòng từ bi, nhân hậu và tình yêu, không phản đối việc trở thành hàng xóm tốt bụng của mọi người, không chống lại việc thực hiện những hành vi đúng đắn và làm cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Tôi chỉ khẳng định một điểu khác: nếu các bạn muốn trở thành người tốt và muốn làm việc thiện, thì đồng cảm là một định hướng tồi.

Từ “đồng cảm” được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau, nhưng ở đây tôi chỉ sử dụng cái ý nghĩa phổ biến nhất mà chúng ta có thể chú dẫn, rằng các nhà triết học thế kỉ XVIII ví như Adam Smith gọi là “trắc ẩn”. Đó là quá trình thụ cảm thế giới bằng đôi mắt của người khác, có khả năng đặt mình vào vị trí của người khác, đau với nỗi đau của họ. Một số nhà nghiên cứu còn sử dụng thuật ngữ này để đánh giá điềm tĩnh hơn về những gì mà những người xung quanh đang nghĩ: động cơ, kế hoạch và đức tin của họ. Đôi khi nó được gọi là sự đồng cảm tri nhận đối lập với sự đồng cảm theo kiểu xúc cảm. Tôi cũng dựa vào cách hiểu thuật ngữ như thế, nhưng nên nhớ rằng hai dạng đồng cảm nói trên gắn với những quá trình khác nhau của não bộ (ở bạn, có thể phát triển dạng đồng cảm này, nhưng không phát triển dạng khác) và rằng đa số các cuộc thảo luận về tầm quan trọng của đồng cảm đối với đạo chỉ tập trung vào bình diện xúc cảm.

Bẩm sinh, chúng ta đã được trời phú cho sự đồng cảm ở một mức độ nào đó: trẻ nhỏ biết khó chịu trước vẻ mặt và tiếng kêu đau khổ của người khác, và, nếu chúng có khả năng như thế, chúng sẽ cố gắng giúp đỡ, vỗ về và an ủi một người đang bối rối thất vọng. Đó không phải là đặc điểm riêng chỉ có ở con người. Nhà linh trưởng tên là Frans de Waal lưu ý rằng tinh tinh thường ôm và vuốt ve con vật bị do bị một sự tấn công nào đó. Đồng cảm có thể xuất hiện tự động, thậm chí xuất hiện ngược với ý muốn của chúng ta. Adam Smith mô tả những người “nhạy cảm”, khi nhìn thấy vết thương hoặc vết loét của một kẻ ăn mày, họ “cũng thấy có cảm thấy một cảm giác khó chịu ngay trên phần cơ thể ấy của mình”. Khả năng đồng cảm có thể mở rộng nhờ vào sự tưởng tượng. Trong một bài diễn văn trước khi nhậm chức Tổng thống, Barack Obama nhấn mạnh tầm quan trọng lớn lao của khả năng “nhìn thế giới bằng đôi mắt của những người khác chúng ta – của một đứa bé đang đói lả, của một anh thợ luyện thép bị sa thải, của một gia đình bị trắng tay sau bão tố… Khi các bạn suy nghĩ theo cách ấy, ccs bạn sẽ mở rộng phạm vi quan tâm tới người khác, không phụ thuộc vào việc những người mà các bạn quan tâm là thân hữu hay xa lạ với mình – và ki ấy sẽ trở nên phức tạp hơn là không làm gì, không giúp đỡ gì”.

Obama đúng ở kết luận cuối cùng – trong xã hội, người ta tích cực ủng hộ cái mà nhà tâm lí học Daniel Batson gọi là giả định về nguyên tắc đồng cảm vị tha: khi bạn có sự đồng cảm với người khác, chắc chắn, bạn sẽ giúp đỡ họ. Nhìn chung, sự đồng cảm giúp xóa bỏ ranh giới giữa các bạn và tha nhân, đó là vũ khí mạnh mẽ chống lại thói ích kỉ và sự lãnh đạm. Đa số mọi người cho rằng, tính ưu việt của sự đồng cảm cũng hiển nhiên giống như tác hại của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc: tức là nhu cầu khẳng định hoàn toàn là sự hiển nhiên. Theo tôi, đó là sai lầm. Tôi cho rằng, những bình diện nào đó của đồng cảm sẽ biến nó thành định hướng tồi tệ trong chính trị xã hội. Sự đồng cảm bao giờ cũng đầy ắp định kiến: sự đồng cảm của chúng ta thường thiên về những người hấp dẫn, dành cho những người giống chúng ta, hoặc cùng chủng tộc với chúng ta. Nó rất hạn chế: nó gắn chúng ta với những cá nhân riêng lẻ có thật, hay được tưởng tượng ra, nhưng lại khiến ta dửng dưng trước những khác biệt về số lượng hoặc những số liệu thống kê

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Đúng như Mẹ Teresa từng nói: “Nếu ta chỉ nhìn vào đám đông, ta sẽ không bao giờ làm gì cả. Nếu ta nhìn vào một người, ta sẽ bắt đầu hành động”. Dưới ánh sáng của những sắc thái như thế, các giải pháp xã hội của chúng ta sẽ công bằng hơn, đạo đức hơn, nếu chúng ta thử trừu tượng hóa sự đồng cảm. Chính sách của chúng ta sẽ tốt hơn, khi chúng ta hiểu ra, 100 người chết sẽ là điều tồi tệ hơn rất nhiều so với một người chết, ngay cả khi chúng ta biết rõ tên tuổi của nạn nhân duy nhất đó. Chúng ta thừa nhận rằng, cuộc sống của một người ở đất nước xa lạ cũng đáng quý không kém gì so với đời sống của người hàng xóm của chúng ta, ngay cả khi tình cảm kéo chúng ta về phía khác. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận lí lẽ ấy, thì sẽ có những bình diện khác ngoài chính sách xã hội. Hãy hình dung về sự giao tiếp thường nhật của các bạn với cha mẹ và con cái, với đối tác và bạn bè. Cứ cho rằng sự đồng cảm không cải thiện chính sách của chúng ta, nhưng hóa ra nó vẫn mang lại lợi ích khi công việc liên quan tới các quan hệ cá nhân – sự đồng cảm càng nhiều, thì càng tốt hơn.

Trước kia tôi tin như thế, nhưng bây giờ không tin như vậy nữa

Một trong những người bảo vệ sự đồng cảm đáng nể nhất là nhà tâm lí học Simon Baron-Cohen. Trong cuốn sách xuất bản năm 2011 Khoa học tội ác, ông khẳng định, rằng tư tưởng về tội ác cần được xem là sự “hủy hoại đồng cảm”, rằng ở trình độ cao, đồng cảm sẽ biến những người riêng lẻ hoặc cả xã hội thành những người nhgiax hiệp. Người này khác với người kia chính là ở khả năng đồng cảm, và Baron-Cohen đã đề xuất thước đo từ 0 (hoàn toàn không có khả năng đồng cảm) đến 6, khi còn người lúc nào cũng tập trung vào cảm xúc của người khác – một kiểu hưng phấn thái quá. Học giả này mô tả nhân cách của loại thứ sáu này như sau: “Hannah là nhà trị liệu tâm lí, bà ấy có tài điều chỉnh cảm xúc của người khác.“Khi bạn đến chơi nhà bà ấy đọc được cảm xúc của bạn qua vẻ mặt, dáng đi, qua tư thế. Câu hỏi đầu tiên bà ấy thường đưa ra là “Công thế nàoviệc của anh/chị thế nào?”, và đó không phải là câu hỏi hình thức nhàm chán. Giọng bà ấy vang lên như lời mời mọc tin tưởng, thổ lộ, chia sẻ. Ngay cả khi bạn chỉ trả lời bằng một câu ngắn, giọng nói của bạn vẫn để lộ ra trạng thái tình cảm nội tâm, và bà ấy tiếp tục ngay: “Anh/chị đang có chuyện buồn phải không? Cái gì khiến anh/chị phiền lòng như vậy?”.

Chưa kịp biết cái gì đang xẩy ra, bạn đã thổ lộ trước vị thính giả xuất sắc này, người làm bạn gián đoạn chỉ để an ủi hoặc thể hiện sự quan tâm, phản ánh cảm xúc của bạn, thỉnh thoảng mới dịu dàng đỡ lời để bạn cảm thấy tầm quan trọng của mình. Hannah hành xử như thế không phải vì đó là công việc của bà ấy. Bà giữ mình như thế với khách hàng, với bạn bè và cả với những người không quen biết. Bà thấy có nhu cầu vô hạn về sự đồng cảm”.

Thật dễ hiểu vì sao bà gây được ấn tượng cho Baron-Cohen. Hannah hiện lên như một nhà trị liệu tâm lí tốt, lại vừa như một người mẹ tuyệt vời. Nhưng thử tưởng tượng xem bà ấy thuộc loại gì. Mối quan tâm của bà với những người xung quanh chẳng phải vì được khêu gợi bởi một quan hệ đặc biệt nào đó với; với bà ấy, thì mọi người hệt như nhau: cả bạn bè, lẫn những người không quen biết, ai cũng vậy thôi. Hoạt động của bà không thể kiểm soát hoặc ngăn chặn. Kinh nghiệm của bà đối lập với thói ích kỉ, nhưng cũng không kém phần cực đoan. Để có được khả năng đồng cảm mạnh mẽ như thế buộc phải trả giá. Những người có hội chứng như thế thường rơi vào quan hệ phi đối xứng, khi họ ủng hộ người khác, thì bản thân họ không nhận được sự ủng hộ thích đáng. Họ cũng có nhiều khả năng rơi vào trạng thái rối loạn trầm cảm hoặc lo âu. Khả năng cảm nhận nỗi đau của người khác sẽ dẫn tới kết quả mà các nhà tâm lí gọi là “căng thẳng đồng cảm” (stress empathiques). Có thể đối lập trạng thái đó với sự cảm thông phi đồng cảm – biểu hiện tình yêu, lòng nhân từ và sự quan tâm theo kiểu gián cách nhiều hơn. Cần phân tích sâu sắc hơn sự khác biệt này, vì ở chỗ này, những người ái mộ cuồng nhiệt sự đồng cảm thường bắt đầu rối tung rối mù do nghĩ rằng sức mạnh duy nhất có thể trở thành động lực để con người làm việc thiện là xung động đồng cảm. Nhưng đó là sự sai lầm. hãy hình dung đứa con trai một người bạn của bạn bị chết đuối. Phản ứng đồng cảm cao nhất trong tình huống này là trải nghiệm những gì mà bạn của bạn đã trải nghiệm, tức là trải nghiệm niềm thống khổ và nỗi đau lớn lao. Điều đó chẳng giúp được gì đực biệt, bạn chỉ có thể cảm nhận được sự cạn kiệt của cảm xúc. Trái ngược với điều đó, sự cảm thông chứa đựng trong bản thân nó sự quan tâm và tình yêu đối với bạn của mình, chứa đựng cả sự mong muốn được giúp đỡ, nhưng nó không đòi hỏi phải chia sẻ tất cả sự đau khổ. Các bác sĩ quan tâm tới bệnh nhân không cần phải trải nghiệm sự đồng cảm trong cảm xúc, ngược lại, chính sự sự điềm tĩnh của họ là sự nâng đỡ quý báu nhất. Khi chúng ta nghĩ tới những người được đặt ở một đầu khác trong bảng xếp hạng của Baron-Cohen – chỗ số 0, chúng ta thường nghĩ tới những kẻ tâm thần (hoặc những kẻ thù ghét xã hội, hoặc hội chứng rối loạn phản xã hội – thường những thuạt ngữ được sử dụng như những tử đồng nghĩa). Trong văn hóa đại chúng (Pop-culture) những người tâm thần là hiện thân của sự độc ác – thuật ngữ ấy mô tả các đầu lĩnh dã man, các chính trị gia tàn bạo, những kẻ giết người hàng loạt kiểu như nhân vật Hannibal Lecter trong tiểu thuyết của Thomas Harris.

Có một câu hỏi được sử dụng làm “test” rất đúng qui cách được sử dụng để kiểm tra bệnh tâm thần do nhà tâm lí học Robert Hare đề xướng. Với nhiều người, điểm chính yếu của “test” là “tàn nhẫn/thiếu sự đồng cảm”. Ở đây ranh giới giữa đồng cảm của cảm xúc và đồng cảm tinh thần được vạch, bởi vì những kẻ tâm thân ở dạng xa lánh xã hội vẫn hiểu rất rõ những gì đang diễn ra trong đầu người khác, cái gì cho phép những người ấy thành nhuengx kẻ thao túng xuất sắc. Nhưng họ không có khả năng nhận ra nỗi đau của người khác, vì thế những kẻ tâm thần là những người cực kì xấu xa.

“Những người mắc hội chứng hoang tưởng và tự kỉ, có cả đồng cảm tri nhận, lẫn đồng cảm xúc cảm ở mức độ thấp. Dù thế, họ vẫn chưa có xu hướng sử dụng bạo lực và khống chế người khác”.

Bức tranh phổ biến nhìn chung là như vậy, tuy thực tế có phức tạp hơn nhiều. Thứ nhất, những người tâm thần đau khổ không chỉ vì thiếu sự đồng cảm, mà còn vì tthuwcj tế không có bất kì phản ứng tình cảm gì, và, có thể, nguyên nhân tạo nên hành vi tồi tệ của họ nằm ở vấn đề thuộc về tình cảm chung nào đó. Nghiên cứu tài liệu khoa học về đề tài này, nhà tâm lí học Jennifer Skim và cộng sự của bà đã rút ra kết luận: sự lãnh đạm và sự thiếu đồng cảm có mối liên hệ mờ nhạt với sự tàn nhẫn và xu hướng tội phạm. Test kiểm tra của Hare cho phép chẩn đoán bệnh tâm thần vì rằng nó ghi nhận hành vi tàn bạo và phản xã hội trong quá khứ, lối sống kí sinh ăn bám, kiểm soát xung động kém cỏi và không biết kiềm chế bản thân. Xóa bỏ nhược điểm của sự đồng cảm vừa được liệt kê, tính chính xác trong việc dự báo vẫn không thay đổi.

Còn hành vi hung hăng nói chung thì sao? Nhưng người hung hăng, thích gây hấn thì ít có khả năng đồng cảm chăng. Thâm chí như tôi, một kẻ hoài nghi, có thể nói rằng có một mối liên hệ mỏng manh nào đấy giữa sự đồng cảm với thói gây hấn bằng cách giả định một người có khả năng trắc ẩn lớn sẽ khó chịu khi làm tổn thương người khác. Nhưng những số liệu được cung cấp gần đây, trong đó người ta đã cộng gộp kết quả nghiên cứu về mối liên hệ giữa sự đồng cảm với thói gây hấn, lại dẫn tới một kết luận khác. Theo những số liệu này, thì mối liên hệ kia là hết sức mờ nhạt.
Test kiểm tra có ý nghĩa quyết định đối với lí thuyết cho rằng mức độ đồng cảm thấp sẽ khiến con người trở nên xấu xa dường như là công trình nghiên cứu của nhóm người thiếu hụt sự cả sự đồng cảm, lẫn những phẩm chất khác có liên quan tới bệnh tâm thần. Những người như thế sờ sờ ra đấy. Baron-Cohen quan tâm tới mức độ thấp của đồng cảm tri nhận và đồng cảm xúc cảm ở những người mắc hội chứng hoang tưởng và tự kỉ. Dù thế, họ không thể hiện chút nào xu hướng bạo lực và ý đồ khống chế người khác. Ngoài ra, họ thường tuân thủ các qui tắc đạo đức nghiêm ngặt và thường trở thành vật hi sinh của bạo lực hơn là trở thành người khởi xướng bạo lực.

Có đúng là tôi cho rằng sự đồng cảm chẳng quan trọng gì hoặc gây tổn hại tới quan hệ giữa chúng ta với mọi người? Đó là kết luận quá khe khắt. Hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu đã tìm thấy mối tương quan giữa mức độ đồng cảm và tinh thần sẵn sàng giúp đỡ người khác. Trong số đó có nhiều công trình được kiểm chứng chưa tốt. Chúng thường đo sự đồng cảm qua sự tự quan sát của những người tham gia, bởi vậy, ta không rõ các học giả đã làm việc với những ai: với mức độ đồng cảm thực tế hay với những quan niệm của mọi người về bản thân mình. Hơn nữa, có một số kết luận khoa học khẳng định điều này: lòng trắc ẩn lớn sẽ làm tăng xác suất của hành vi vị tha, cho nên sẽ sai lầm nếu phủ nhận vai trò của đồng cảm trong đạo đức của con người.

Nhưng chúng ta biết rằng khả năng đồng cảm cao không làm cho con người trở thành tốt đẹp, cũng như khả năng đồng cảm kém không khiến con người trở thành tồi tệ. Đức hạnh chủ yếu gắn với gắn với sự nhân hậu và lòng trắc ẩn gián cách, với lí trí, với sự tự kiểm soát và tình yêu lẽ công bằng. Và trở thành người xấu trước hết là do không quan tâm tới người khác và thiếu khả năng kiểm soát ham muốn của bản thân.

Nguồn: Пол Блум – Против эмпатии

Share
Share: