Khái niệmTôi tìm hiểu

Plato quan niệm về trừu tượng

800px-Vincent_van_Gogh_(1853-1890)_-_Wheat_Field_with_Crows_(1890)

Khái niệm trừu tượng theo đúng nghĩa được coi là có khởi nguồn trong triết học Platon

Chữ Form viết hoa trong thuyết Platon, đồng nghĩa với từ Idea của ông, được coi là hình dung triết học hoàn chỉnh quan trọng nhất về một abstract object, tức là vật thể trừu tượng. Có thể gọi đầy đủ đây là Abstract Form. Vì thế, chỉ cần xét các đặc điểm của Form này là ta sẽ hiểu thế nào là một vật thể trừu tượng tuyệt đối:


a.    Phi vật thể – nonmaterial, phi thời gian atemporal, phi không gian – aspatial,…

Đây có lẽ là đặc điểm hay được dùng nhất, hay liên tưởng nhất của khái niệm trừu tượng. Sau này, những gì không có tính vật chất thường hay được gọi là trừu tượng. Đặc điểm này chủ yếu dùng để phân biệt nó với cái tượng thông thường, tức là hình ảnh của vật cụ thể. Trong một số khái niệm trừu tượng đương đại, những đặc điểm khác sau đây của Form Platon sẽ có thể không còn được công nhận, mà chỉ còn lại tính phi vật thể, phi thời gian, không gian này. Vì những đặc điểm này là đặc điểm phủ định, âm bản, tức là vật thể trừu tượng “không là” cái gì, chứ không phải nó “là cái gì”, nên việc xác định tính trừu tượng này còn được gọi là “the way of negation”, là một trong những cách xác định.


b.    … nhưng vẫn là tượng, là Form

“Trừu” nghĩa là “rút ra”. “Trừu tượng” tức là hình ảnh được rút ra, (tương tự như “ấn tượng” là hình ảnh được in vào, “biểu tượng” là hình ảnh tiêu biểu, “tưởng tượng” là hình ảnh được tưởng ra.) Một hình ảnh được rút ra thì vẫn là hình ảnh,trừu tượng vẫn là tượng. Vì thế Platon vẫn dùng chữ Form, cho thấy nó có liên quan về mặt bản chất với chữ form thông thường. Như vậy, chữ trừu tượng có nội dung tự nó, positive là form, chứ không phải chỉ là khái niệm negative là nonmaterial.

Người ta có thể nhận ra tính positive, tính “tượng” này ở khả năng chuyển hóa thành tượng cụ thể. Chẳng hạn khái niệm “tam giác” là trừu tượng, nonmaterial, nhưng có thể được cụ thể hóa thành các hình tam giác khác nhau, bằng gỗ, vẽ trên bảng v.v… Tuy những hình cụ thể này không phải cái tam giác trừu tượng nữa, nhưng rõ ràng vẫn là tam giác.

Trong lý thuyết Platon, ngoài những Form trừu tượng này, không tồn tại khách quan những thứ gì khác không phải Form mà vẫn phi vật thể. Vì thế, Picasso nói người ta không thể hình dung ra cái gì ngoài form, bởi vì cái trừu tượng nhất, phi vật thể nhất, tức là các ý tưởng thì về bản chất vẫn là Form.

Wassily Kandinsky – Không đề

 


c.    Tính cốt yếu, substantial

Cái abstract Form là khuôn mẫu lý tưởng, là cái cốt yếu trong mọi sự vật. Nhờ có nó mà ngựa được gọi là ngựa, tròn được gọi là tròn. Nếu không có tính khuôn mẫu, tinh túy này thì abstract form sẽ là vô nghĩa, vì không liên quan.

Chữ “trừu” tiếng Hán tương ứng với gốc từ abstract tiếng Anh, có nghĩa là rút lấy cái tinh chất, tinh túy. Từ này khác với khái niệm “chiết xuất” hay extract, cũng có thể coi là một loại rút ra, nhưng theo nghĩa là tách một thành phần ra khỏi một hỗn hợp.

Khi ta làm tóm tắt nội dung chính của một cuốn sách dày, ta gọi đó là abstract.Nhưng nếu ta trích từ cuốn sách đó ra một ý mà ta cần, thì gọi là extract. Khi ta lấy bơ ra khỏi sữa thì gọi là abstract, vì bơ được coi là tinh chất của sữa. Trong khi đó tách dầu khỏi nước thì là extract. Nếu ta tạo ra một tinh chất thực vật theo nghĩa một sản phẩm cô đặc, cao toàn tính hay tinh bột của loài thực vật đó, với đầy đủ sự phức tạp đặc trưng của nó, nhưng khối lượng tinh giản, nồng độ cao hơn thì sản phẩm đó được gọi là abstractum. Còn nếu ta tách một chất, chẳng hạn riêng tinh dầu, ra khỏi một loài thực vật, thì gọi là extract.

Trừu tượng do vậy bao giờ cũng phải là một loại tượng tinh chế, nồng độ cao, có tính mẫu mực. Nếu chỉ là phi hình thể không thôi thì chưa thể được coi là trừu tượng.

Vì đặc tính cốt yếu này, người ta có thể tinh chế ra cái trừu tượng từ cái cụ thể, như đã nói ở chương về vai trò nghệ thuật. Sau này, triết học đương đại gọi đó là “the way of abstraction”, cũng là một phương pháp để tạo ra hay xác định vật thể trừu tượng. Trong lĩnh vực nghệ thuật, nói “trừu tượng hóa” có nghĩa là một thủ pháp lược bỏ những hình ảnh riêng, cụ thể của nhiều cá thể cùng tên để tạo ra một hình ảnh tinh chất cho cả họ đó, gọi là Archetyp.


d.    Tính chân – truth

Platon phân biệt hai thế giới tồn tại khách quan, có nghĩa là không phải do cảm nhận hay tưởng tượng của đầu óc con người. Đó là thế giới lý tưởng của các Form trừu tượng và thế giới vật lý của các object, vật thể tự nhiên, được coi là bản copy hay mimic từ các form đó. Trong hai thế giới đó, thế giới của các abstract form được coi là chân, còn thế giới các object là giả, theo nghĩa hàng nhái, hàng rởm. Còn cái thế giới hình ảnh mà ta cảm nhận được thì còn không được coi là thực tại, mà là ảo – Illusion. Như vậy, ta thấy trong quá trình copy từ abstract form ra thành object, rồi từ đó thành ảo ảnh thì tính chân mất hoàn toàn.

Tính chân, hay ít nhất là sự tồn tại thực khách quan của các vật thể trừu tượng là đặc điểm quan trọng của thuyết Platon. Các quan điểm hiện đại về khái niệm trừu tượng có rất nhiều kiến giải khác nhau về đặc điểm của trừu tượng, nhưng đều thống nhất ở một điểm là chúng có tồn tại dưới dạng object khách quan. Tất cả những người theo cách nghĩ đó đều được gọi là Platonist. Trong khi đó, phe đối lập gọi là Nominalist, cho rằng tuyệt đối không tồn tại bất kỳ một thực thể trừu tượng nào. Vì vậy, trong tranh luận nghệ thuật, nói là không thể tồn tại nghệ thuật trừu tượng cũng không phải là không có cơ sở lý luận. Còn nếu nói là có loại nghệ thuật trừu tượng, thì chắc chắn dây mơ rễ má có họ hàng với Platon.

Không đề – Mark Rothko. 1969


e.    Tính thiện – tính mẫu mực

Khái niệm thiện thường được dùng với nghĩa là công dụng tạo lợi ích, có nghĩa là khả năng sinh sôi nảy nở, nên cũng có chữ “thiện dụng”. Vì những abstract form là chân, nên nó được dùng làm khuôn mẫu để làm ra vạn vật. Bởi thế, chúng đồng thời là thiện.

Trong khi đó, các object vật chất là đồ rởm nên không có giá trị mô thức, và do vậy không thiện. Nếu đưa ra một ý tưởng hình tam giác trong một lớp học, thì một trăm học trò sẽ có thể thể hiện ra hàng vô số hình tam giác cụ thể. Trong khi đó một hình tam giác cụ thể đã vẽ trên bảng không thể tự nhân bản, cũng không thể được copy nguyên vẹn mà không mất đi một số đặc điểm. Đó là vì bản chất của vật chất làm nên chúng là cụ thể, giống như câu nói nổi tiếng của Heraclit “không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông”. Còn các ảo ảnh thì không những không chân, lại cũng chẳng thực sự tồn tại, nên càng không có tính thiện, giống kiểu ảnh con gà không thể đẻ trứng. Vì thế, Platon cho rằng các object vật chất và các ảo ảnh là vô giá trị. Sau này, khả năng nhân bản thành nhiều phiên bản cụ thể mà không mất đi bản chất gốc được coi là một đặc điểm nhận dạng của vật thể trừu tượng.

Một tác phẩm nghệ thuật, cho dù có hình hài cụ thể hay không, đều có thể được hiểu trước hết là một vật chất cụ thể. Còn nó có được coi là trừu tượng hay không thì một trong những tiêu chí có thể chính là tính mô hình phổ quát của nó.Người ta phải cảm nhận được rằng đằng sau bức tranh phi hình thể đó có một ý tưởng phổ quát, có khả năng diễn đạt bằng nhiều ví dụ khác, chẳng hạn như tình yêu, đau, sợ, chó, mùa thu hay một ý tưởng hoàn toàn xa lạ, không thể gọi tên, nhưng vẫn rõ ràng.

f.    Tính thẩm mỹ – Aesthetics

Platon cho rằng các abstract Form có tính thẩm mỹ. Chúng là định nghĩa của cái đẹp tuyệt đối. Platon cho rằng các abstract Form có tính thẩm mỹ. Chúng là định nghĩa của cái đẹp tuyệt đối. (Tất nhiên nếu nói hoàn toàn tuyệt đối thì chỉ có mặt trời trong thế giới lý tưởng, tức là cái lý tưởng sinh ra mọi abstract Form, mới là chân thiện mỹ, vì đã gọi là tuyệt đối thì không thể có số nhiều. Các abstract Form thừa hưởng 3 đặc tính này của nguồn năng lượng duy nhất là mặt trời, nên cũng có phần nào 3 đặc điểm này. Nếu so sánh với các con rối hay bóng của chúng thì ta có thể coi các abstract Form là tuyệt đối, là chân, thiện và mỹ.)

Chính vì việc truyền một phần cái đẹp này mà việc copy trở nên có ý nghĩa. Nhờ có nó mà người ta ham muốn, say mê, ngay cả khi biết rõ là ảo, chẳng hạn kể cả khi xem phim, chơi game, hay thậm chí mơ. Và cũng chính vì cái đẹp tương đối này không đi liền với chân, thiện mà Platon muốn kéo con người khỏi trạng thái si mê, khỏi rạp chiếu phim, để anh ta có thể tự thoát khỏi xiềng xích, về với tự do.Chính cái đẹp là mối liên hệ giữa cái form abstract và cái form cụ thể. Và theo Platon, không phải vật chất nào cũng có một form abstract làm hình mẫu. Chỉ khi nó đẹp thì mới có thể nghĩ là đằng sau đó có form abstract. Còn khi nó gây phản cảm thì không, khi đó nó chỉ là con rối đổ nát, một con búp bê hỏng thôi.Rác rưởi theo Platon là destruction, là phá hủy mô hình, chứ không phải là mô hình theo một khuôn mẫu nào. Một sản phẩm xấu, phản cảm do đó không bao giờ có thể được biện minh bằng một ý tưởng trừu tượng. Chúng chỉ đơn thuần là rác, rác cụ thể, không có tí trừu tượng nào.


g.    Tính tiên nghiệm – transcendental

Socrates nói người ta biết đến các abstract form một cách tiên nghiệm, trước khi sinh, vì khi đó người ta, hay linh hồn, đã từng ở thế giới lý tưởng. Sau này, những mô hình làm gợi nhớ lại về các abstract form, vì thế người ta nhận ra ngựa là một form, người cưỡi ngựa là một form khác, chứ không bị dính hết vào một khối. Cảm nhận về cái đẹp do đó cũng là tiên nghiệm. Khi nhìn một tác phẩm nghệ thuật trừu tượng, cho dù nó không giống bất kỳ thứ gì trên đời, người ta vẫn nhận ra được cái đẹp, tính đồng bộ, tức là tính mô thức, nếu nó có hàm chứa abstract form trong đó.

Như vậy, về lý thuyết không bao giờ có thể nói tác phẩm trừu tượng là khó cảm nhận, phải cần trình độ học vấn đặc biệt mới nhận thấy đẹp. Tất nhiên, trên thực tế có thể cho rằng nhiều người trong quá trình sống đã bị những tập tục, kiến thức v.v… làm lấp đi cái năng lực hay hồi ức tiên nghiệm này, nên không còn nhận ra cái đẹp nữa. Nhưng chắc chắn là việc cảm nhận này không phải do dạy mà biết.


h.    Tính Siêu nghiệm – transcendent

Nếu chỉ là tiên nghiệm, lý thuyết này sẽ không dẫn tới một hệ quả về luân lý mà chỉ giải thích năng lực cảm nhận của con người. Nhưng trong thuyết Platon có niềm tin siêu nghiệm, có nghĩa là con người có thể hòa đồng về ý tưởng với thế giới lý tưởng đó, có nghĩa là tự giải thoát khỏi xiềng xích để ra khỏi hang, nếu anh ta thực sự nhận ra tình trạng bị xiềng của mình và thực sự muốn thoát. Đây là lý do để giải thích tại sao có người làm được ra tác phẩm trừu tượng, đa số người khác thì không, vì không phải ai và lúc nào cũng hòa nhập được tinh thần vào thế giới lý tưởng đó.


i.    Bằng chứng hậu nghiệm – empirical evidents

Đi từ những quan sát hậu nghiệm, tức là từ các cái bóng, hay từ quan sát bình thường của con người, tất nhiên không thể dẫn đến cái biết thực sự về thế giới lý tưởng, thậm chí về thế giới vật lý của các con rối. Nhưng người ta cũng có thể cảm nhận về sự tồn tại của abstract Form một cách hậu nghiệm, thông qua nhận định về tên gọi, hay về những thứ hoàn hảo như các hình hình học mà ta không thấy trong thực tế, nhưng rõ ràng cảm nhận là chúng tồn tại. Nếu không có những bằng chứng hậu nghiệm này, lý thuyết sẽ hoàn toàn không có cơ sở gì để thuyết phục, vì người ta sẽ chẳng có một chút gì kiểm chứng được về nó.

Đây cũng là lý do người ta có thể giải trình và bàn luận về cái đẹp. Chẳng hạn ta có thể giải thích bằng những tỷ lệ vàng, tính đối xứng, nhịp điệu v.v… Tất nhiên những giải thích đó không tạo ra cảm nhận về cái đẹp, vì cảm nhận này tiên nghiệm, nhưng nó giải thích được tại sao mà đẹp, đẹp như thế nào. Một tác phẩm trừu tượng đẹp tất nhiên không theo khuôn mẫu có sẵn nào, nhưng sau đó người ta có thể giải trình cái đẹp của nó, nhìn ra được những quy luật có tính mô thức trong đó.

Gray-Alphabets của Jasper Johns

Đó là sơ lược về khái niệm “trừu tượng” của Platon. Platon có thể được coi là cha đẻ của khái niệm này.  Sau ông, khái niệm này gần như không còn quan trọng trong lĩnh vực Triết học nữa. Thứ nhất là bởi vì khái niệm này không còn triển khai rộng hơn, kỹ hơn, hoàn hảo hơn được nữa, nên coi như đã bàn xong, và thứ hai là bản thân sự tồn tại của những abstract Form bị đặt dấu hỏi. Cho tới tận đầu thế kỷ 20, khái niệm trừu tượng mới được lật trở lại, làm chủ đề cho rất nhiều tranh luận. Vấn đề đặt ra không phải là đưa ra những kiến giải mới, khác hẳn Platon, mà là giới hạn lại tiêu chí về object trừu tượng chỉ còn một phần trong những điều Platon đưa ra để áp dụng cho loại object có sinh diệt, trần tục hơn và cũng gần đời thường hơn. Trong cuộc tranh luận này, mỗi trường phái lại nhấn mạnh vào một khía cạnh, tùy theo họ muốn dùng cho loại đối tượng nào. Cũng vì thế sinh ra rất nhiều khái niệm trừu tượng khác nhau, mỗi người định nghĩa một khác. Điều quan trọng, và cũng là lý do tại sao chúng ta lần ngược tới tận Platon, là vì tuy rằng những định nghĩa hiện đại sát thực hơn, nhưng lại ít ảnh hưởng, ít phổ biến hơn. Mỗi trường phái chẳng qua là một dòng nhỏ, bàn về một khía cạnh cụ thể, và có gây ảnh hưởng đến một nhóm nhỏ quan tâm. Còn đối với đại chúng thì hình dung của Platon vẫn là một quan điểm được sử dụng mấy nghìn năm, và cho dù người ta có biết đến và đồng ý với mô hình triết học hay không thì vô thức cũng đã chấp nhận rất nhiều khía cạnh của nó.

Share
Share:

1 comment

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *