Book Hunter Rumi

Vài năm trước, Kabir Helminsky, người đứng đầu một dòng tu Hồi giáo Sufi mang tên Mevlevi, đã được nhà sản xuất của ca sĩ Madonna thăm hỏi. Ông ta muốn thuê đoàn hát của các tu sĩ Mevlevi để quay một video clip lấy cảm hứng từ Rumi, nhà thơ Sufi Ba Tư nổi tiếng của thế kỷ 13. Helminsky đọc kịch bản, và được biết trong clip, một anh bạn diễn sẽ phải nằm ườn trên người Madonna khi cô này gân cổ hát: “Nào mình cùng vô thức, anh yêu!”. Ông bèn viết một thư từ chối lịch sự. Ông cũng  gửi kèm một tập sách để giúp cô ca sĩ này bớt hiểu sai về những lời dạy của Rumi.

Link mua sách “Lời dạy của Rumi”http://www.hangcao.info/san-pham/loi-day-cua-rumi/

Giống như nhiều học giả Ba Tư khác, Helminski, người điều hành Hiệp hội Ngưỡng Cửa, một trung tâm nghiên cứu Sufi ở California, đã gặt hái được một chút thành công trong việc chứng minh cho người Mỹ thấy rằng Rumi biết nhiều thứ hơn là tình dục siêu việt. Rumi, người ra đời 800 năm trước ở mảnh đất mà ngày nay thuộc Afganishtan, đã trở nên nổi tiếng về khả năng trao truyền một cảm hứng thần bí. Trong thơ, những tình nhân của ông thường xuyên được hợp nhất thành một, không còn phân biệt họ là ai. Tuy nhiên, phần tôn giáo trong các sáng tác của ông – thứ thường được biết đến dưới tên gọi “kinh Koran tiếng Ba Tư” – thì lại thường xuyên bị quên lãng.

Để hé lộ và tôn vinh những di sản của ông, UNESCO đã chọn năm 2007 làm Năm của Rumi. Những hội nghị về ông đã được tổ chức khắp nơi, từ Istanbul, Kabul, Tehran, Dushanbe đến Ann Arbor. Một trong những diễn giả nổi bật ở Ann Arbor mùa thu năm đó là Coleman Barks, một nhà thơ Mỹ chịu không ít phần trách nhiệm về sự đình đám ở Mỹ của Rumi với tư cách một “người chữa lành tâm hồn bằng tình dục”. Barks, sinh ra ở Tennessee, hồn nhiên thừa nhận rằng anh này không hề biết tiếng Ba Tư. Cánh học giả gọi những cuốn bán chạy nhất của anh này, vốn chỉ hình thành bằng cách dùng lại công trình của những dịch giả khác, là những bản “tái Anh ngữ hóa”. Trong khi những bản dịch của Barks vốn dễ đọc và dễ tiếp cận hơn bất cứ một bản dịch tiếng Anh nào khác, chúng có khuynh hướng biến những cảnh tượng thần thánh thành những khoảnh khắc đam mê dục. Đôi lúc Barks loại bỏ những cụm từ liên hệ đến Thượng đế, và thay vào đó bằng “tình yêu”. Trong lời giới thiệu tuyển tập thơ dịch năm 2001, với tên gọi “Tâm hồn của Rumi”, anh này thổ lộ: “Tôi tránh từ Thượng đế, không phải tất cả, nhưng ở bất cứ đoạn nào tôi thích, vì dường như chúng sẽ lấy đi sự sống động của trải nghiệm, và đặt mọi thứ vào một hệ thống cá biệt.

Nhưng Rumi, người trải qua hầu hết thời trưởng thành của mình ở Konya, Thổ Nhĩ Kỳ, có cuộc đời và thơ ca xoay quanh nền tảng là hệ thống đó. Là con trai của một giảng sư Hồi giáo, ông cầu nguyện năm lần một ngày, hành hương đến thánh địa Mecca, và thuộc lòng kinh Koran. Dưới ảnh hưởng của hai tu sĩ khác, Shams và Tabriz, ông cống hiến đời mình cho Sufi, một nhánh thần bí cổ xưa của Hồi giáo. Sufi liên quan tới việc trực tiếp liên lạc với Thượng đế hơn là tới những dòng kinh và nghi lễ của đạo Hồi. Một học giả bổ sung: “Sufi là trung tâm của đạo Hồi, là viên ngọc trai không bị vỏ sò che khuất”. Dầu vậy, những văn bản Hồi giáo cổ vẫn là trung tâm của đức tin này. “Tôi là nô lệ của Koran và là bụi dưới chân Mohammed” – Rumi nói. “Ai tuyên bố những điều khác, người ấy với tôi không còn là bạn”.

Rumi đã để lại một khối lượng tác phẩm khổng lồ – khoảng 70.000 vần thơ trong 25 năm. Nhờ vậy, đám dịch giả dễ dàng tìm được lý do để gạt bỏ các tác phẩm khó tiếp cận với đối tượng công chúng trung bình ở Mỹ. Trong lời giới thiệu của tập thơ dịch năm 2013 mang tên “Rumi: The Book of Love”, Barks nói đùa rằng tập thơ dịch trước đó của anh “đã đạt đến trình độ văn hóa của một lon Coca ăn kiêng rỗng tuếch”.  Anh này dịch thơ Rumi bằng một ngôn ngữ mang hơi hướm ao làng, và gần như đơn giản đến độ trẻ con:

“Tình yêu chèo thuyền ngang qua tôi và hét lên

Tình yêu ngồi cạnh tôi như thể tự nó muốn cho tôi thế

Tình yêu thả các nhạc cụ ra và cởi chiếc áo choàng lụa

Cả hai cùng trần trụi, nhờ đó tôi thay đổi hoàn toàn.”

Khởi đầu với những bản dịch xuôi 50 năm tuổi của học giả Anh A J. Arberry, Barks đã tự cho mình quyền thay đổi ngôn ngữ trong thơ Rumi, sao cho nó dễ tiếp cận và phổ thông hơn. Hệ quả để lại đôi lúc nghiêm trọng hơn vài thay đổi nhỏ trong ý nghĩa. Trong một sai sót được chỉ ra bởi học giả độc lập Ibrahim Gamard, do một lỗi đánh máy của Arberry, Barks đã nhầm từ “mù” (blind) trong nguyên bản thơ Rumi thành “tóc vàng hoe” (blond). Vì lỗi này, câu thơ kêu gọi bỏ rơi những người không biết Thượng đế:

“Ơi những bạn đồng hành tim rạng!

Mau về nhà thôi, ta kệ xác

Lũ người mù đui!”

đã bị dịch nhầm thành một sự kháng cự cám dỗ tình dục:

“Tôi biết thật khó cưỡng lại cơn cám dỗ

trong việc ở lại và gặp những cô gái tóc vàng này”

Trong thời đại của Rumi, thật khó có thể tưởng tượng rằng có nhiều phụ nữ tóc vàng hoe vây quanh ông; ông thậm chí còn không dành một chữ nào để đề cập đến điều đó.

Lòng nhiệt thành quảng bá Rumi của Barks cần phải được ghi nhận, nhưng quá trình dịch của anh ta đã gạt bỏ những di sản thơ quan trọng nhất của Rumi. “Đừng nói rằng Rumi là một nhà thơ lớn dù ông ta theo Hồi giáo” – William Chittick, một nhà nghiên cứu văn học Sufi của đại học Stony Brook lưu ý. “Ông ta trở thành nhà thơ lớn nhờ đạo Hồi. Rumi là một giảng sư tuyệt vời về cái đẹp và tình yêu là bởi ông ta đã sống tôn giáo của mình một cách trọn vẹn”.

Thơ Rumi để lại một cảm nhận rằng ông đã đạt đến cực điểm của cảm xúc, với cả sự kiệt sức lẫn ngất ngây. Đức tin của ông như thể tuyệt vọng, và gần như hữu hình. Sự tận tâm của ông gây ấn tượng đến vậy bởi nó lấy cảm hứng từ Thượng đế, chứ không phải từ những lời hứa hẹn tình dục như ấn tượng sai lầm mà nhiều bản dịch mang lại. “Ông ấy là nhân vật tôn giáo quan trọng nhất trong thời đại của mình” – Jawid Mojaddedi, một học giả về Rumi tại Rutgers, người vừa dịch cuốn Masnavi thứ hai của Rumi cho biết. “Ngày nay, người ta shock khi biết rằng Rumi là người Hồi giáo. Họ đành đoán mò rằng ông đã phải dành cả cuộc đời mình để trốn chạy sự bách hại tín ngưỡng, trốn trong một hang động nào đó ở Afghanistan. “Chúng ta đang nói đến cuộc đụng độ giữa các nền văn minh, và tình trạng tách biệt này phải được làm rõ”. (Jaddedi cho biết thành công của Rumi ở Mỹ đã thật sự giúp ông được biết đến nhiều hơn trên chính đất Trung Đông)

Nhưng đối với nhiều độc giả, nền tảng Ba Tư của Rumi đã bị chính sức mạnh của thơ ông làm tổn hại. Trong mắt họ, ông là hiện thân của một thứ tinh thần tự-do-cho-tất-cả kiểu Mỹ, như thể Muhammad cũng chỉ ngang hàng với Watt Whittman. Những bài thơ của Rumi đã được phổ cập hóa tới nỗi người ta có thể hiểu chúng theo bất cứ nghĩa nào. Độc giả dùng chúng để tự tiêu khiển với bản thân, gán cho những dòng thơ bất cứ ý nghĩa nào mà họ muốn thấy.

Trong những bài thơ được in nhiều nhất của mình, Rumi hiện diện như một Tony Robins thần thánh, hô hào mọi người phá vỡ rào cản, ngừng lo lắng, chạm đến bầu trời, làm tình và không bao giờ đầu hàng. Như thể các nhà xuất bản lo rằng đọc thơ là một sự mạo hiểm quá mong manh, tới mức quá nhiều trọng lượng, bối cảnh và không đủ sex sẽ khiến mọi người chạy xa. Helminsky, người từng điều hành một công ty xuất bản đã cho ra lò những cuốn sách đầu tay của Barks, nhận thấy rằng có một màu sắc ngụy biện chung trong cách thức độc giả trích dẫn thơ Rumi. Họ thường chọn trích những câu khẳng định rằng luân thường đạo lý không tồn tại, rằng không có thứ gì gọi là sự thua cuộc hợp đạo đức. Một trong những dòng được trích dẫn nhiều nhất là “Bên kia ý tưởng Đúng-Sai/Có cánh đồng nơi ta gặp gỡ”. Helminski nói: “Văn hóa của chúng ta đang bị lái theo hướng đáng hổ thẹn tới mức khi ai đó đến bên và nói “Bạn cũng được được”,  đó là cả một sự cứu rỗi lớn lao”. “Người Mỹ vẫn đang có một mối quan hệ vị thành niên với Rumi. Cần phải có một chút trưởng thành trước khi chúng ta di chuyển ra ngoài khuôn mẫu”.

Rachel Aviv

Nguyễn Vũ Hiệp chuyển ngữ

Nguồn: http://www.poetryfoundation.org/article/179906

Share
TagsIslam
Share: