Giới thiệu sáchSách Việt hay

Sự định vị căn tính dân tộc của Phạm Quỳnh qua du ký

pham-quynh

Đầu thế kỉ XX là thời điểm Việt Nam có sự dịch chuyển mạnh mẽ khi bên cạnh việc vẫn phải đối diện với kẻ xâm lược là thực dân Pháp, với cái ngoại lai, cái Khác đang từng bước áp đặt sự thống trị mạnh mẽ lên xứ sở cộng đồng thì người Việt phải liên tục đối diện với chính quá khứ của mình để soi chiếu cho các vấn đề hiện tại mà theoLiam Kelley([1]), đó là quá trình viết lại, diễn dịch lại lịch sử. Chưa bao giờ việc cật vấn lại căn tính dân tộc và nhu cầu hướng ra thế giới bên ngoài lại được đặt ra quan thiết như lúc này. Hay nói cách khác, vấn đề nhìn nhận, định vị cái Ta, cái Khác đặc biệt quan trọng, thể hiện trên gần như tất cả các mặt của đời sống. Ở đây, tôi khảo sát du kí của Phạm Quỳnh như một ví dụ cho thấy nhu cầu xác định lại căn tính dân tộc thông qua việc quan sát, thăm thú, tìm hiểu các vùng đất chưa biết đến trong phạm vi đất nước Việt Nam.Đọc du kí có thể thấy ông nhận diện căn tính/thể tính dân tộc qua những phương diện cơ bản: chủng tộc, sự cố kết giữa các thành viên trong cộng đồng dân tộc tạo thành quốc gia dân tộc, các nghi lễ và thực hành văn hóa chung, đồng thời căn tính dân tộc còn được biểu thị ở sự thị uy sức mạnh dân tộc trước kẻ khác – các dân tộc yếu thế hơn.

1. Cội rễ chủng tộc

Đầu thế kỉ XX là thời điểm du nhập rất nhiều khái niệm từ phương Tây liên quan đến quốc gia dân tộc qua ngả Đông Á, trong đó có khái niệm chủng tộc(2) – một vấn đề được khám phá và nhận thức theo khung tham chiếu của những nghiên cứu sinh học, nhân chủng học, thuyết tiến hóa xã hội đang thịnh hành ở phương Tây lúc bấy giờ, thoát khỏi các cách giải thích truyền thống mang tính tôn giáo.

Vấn đề nòi giống người Việt được Phạm Quỳnh thể hiện rải rác trong nhiều du kí. Ở Du lịch xứ Lào(1931), ông xác định: “chủng tộc thuần một giống An Nam, văn hóa truyền tự nước Tàu, nghiễm nhiên thuộc về thế giới Chi Na”(3). Trong đoạn tiếp, ông gọi “giống Giao Chỉ” – cách gọi này được sử dụng trong một văn bản khác, Một tháng ở Nam kì: “Giống Giao Chỉ nguyên phát tích tự đất Trung châu xứ Bắc kì, rồi mỗi ngày một bành trướng mãi ra mà bành trướng về phía Bắc không sao được, gặp những rừng núi ngăn trở, lại có giống mạnh hơn không thể tranh nổi, thế tất phải tràn về phía Nam” (tr.102). Những cách gọi này (giống Annam, giống Giao Chỉ) tương đương với tộc danh người Kinh, hay còn gọi là người Việt – một tộc loại chiếm đa số trên đất Việt Nam. Sự xác định về mặt chủng tộc là căn cứ đầu tiên khu biệt Ta với kẻ Khác, cho thấy có một ý thức phân loại tộc người của Phạm Quỳnh giữa người Giao Chỉ, hay An Nam với “giống người mạnh hơn” – ám chỉ người Trung Quốc, người phía Bắc. Trong cách nhìn của học giả, vấn đề chủng tộc gắn liền với quỹ đạo văn hóa, lễ giáo khi ông xác định “văn hóa truyền thụ tự nước Tàu”, do đó “nghiễm nhiên thuộc về thế giới Chi Na” – đó cũng là không gian địa chính trị của chủng tộc. Từ cái nhìn này, ông phân biệt bán đảo Đông Dương làm hai thế giới: thế giới Chi Na và thế giới Ấn Độ. An Nam chính là đại diện cho cái thế giới Chi Na ở Đông Dương, đã thực hiện công cuộc Nam tiến, đánh lui nhiều lãnh thổ thuộc về thế giới Ấn Độ, cho thấy sức mạnh của thế giới Chi Na ngày càng lấn lướt.

2. Các giá trị cố kết dân tộc

Sau khi xác định rõ về mặt giống nòi để có thể gọi những người cùng chung sống, chia sẻ văn hóa trên một lãnh thổ là “dân ta”, “giống người An Nam”,… Phạm Quỳnh tìm thấy các giá trị làm nên sự cố kết dân tộc. Đặt chân đến đâu, ông cũng đều nhìn ra một thể thống nhất trên đất nước Việt Nam. Trong Một tháng ở Nam kìông viết: “[C]ái công phu lớn lao của tổ tiên ta trong mấy mươi thế kỉ khai thác được suốt một cõi đất Đông Dương này, khiến cho ngày nay từ giáp ranh nước Tàu cho đến vũng bể Xiêm La, từ bến sông Mê Kông cho đến bờ bể Đông Hải, dân An Nam ta thuần một giống người, cùng một cội rễ mà ra, cùng một tiếng nói, cùng một phong tục, cái tính tình tư tưởng cũng không khác gì nhau” (tr.149).

Đoạn trích trên có thể cho ta một hình dung đầy đủ của Phạm Quỳnh về quốc gia dân tộc. Cũng như nhiều nhà tư tưởng trong quá khứ, nói đến quốc gia là nói đến quyền tự chủ, thể hiện ở việc người Việt đã chiếm hữu, “khai thác được suốt một cõi đất Đông Dương này”. Ranh giới quốc gia được tư duy theo kiểu phương Tây, thể hiện một tư thế độc lập: “từ giáp ranh nước Tàu cho đến vũng bể Xiêm La, từ bến sông Mê Kông cho đến bờ bể Đông Hải”, khác hẳn với quan niệm trước đó của nhà Nho cho rằng Đại Việt là một phần của Trung Hoa.

Không chỉ nhìn thấy tư thế độc lập của bờ cõi, Phạm Quỳnh còn nhấn mạnh sự thống nhất về mặt văn hóa: “cùng một tiếng nói, cùng một phong tục, cái tính tình tư tưởng cũng không khác gì nhau”. Quan niệm về sự nhất thể hóa cao độ về mặt văn hóa cần phải xem lại bởi học giả đã bỏ qua sự đa dạng của các tộc người cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam, đi kèm với nó là ngôn ngữ, tính tình, phong tục mỗi tộc người, mỗi địa phương một khác. Thực tế chính Phạm Quỳnh đã từng ý thức được sự đa dạng đó trong một lần du lịch đến Lạng Sơn, Cao Bằng, chứng kiến thói tục xa lạ của người miền núi, đặc biệt là trực tiếp thụ hưởng một buổi hát then – một đặc trưng văn hóa của người Tày. Song khi tổng kết, ông lại có xu hướng đồng nhất hóa về các giá trị cố kết cộng đồng, coi văn hóa của người Kinh là trung tâm, đại diện cho toàn bộ văn hóa nước Việt Nam. Phải chăng ông đã cố tình loại bỏ các thuộc tính của các tộc người thiểu số để tạo ra một hình dung về một nước Việt nguyên khối, thống nhất, xuyên suốt ở gần như tất cả những khía cạnh: cội rễ chủng tộc, bờ cõi, ngôn ngữ, tính tình, phong tục… Ở đoạn sau, chúng ta sẽ lí giải vì sao ông lại tạo ra một ảnh tượng về tính nguyên khối ấy.

Bên cạnh việc chia sẻ các giá trị văn hóa chung, theo Phạm Quỳnh, cộng đồng dân tộc Việt còn thực hành nghi lễ chung vừa mang tính tôn giáo, vừa mang tính chính trị, thể hiện đậm nét qua đoạn tả lễ tế Giao trong du kí Mười ngày ở Huế. Lễ tế Giao hiện lên như một nghi thức tâm linh huyền bí, trong đó vua là chủ tế, thần dân là đấng sinh linh cần được Trời che chở, ban phúc; đây cũng đồng thời là một nghi thức văn hóa mang tính quốc gia quy tụ toàn bộ ý chí và nguyện vọng dân tộc. Theo Phạm Quỳnh, [tế] “Giao tự cũng có quan hệ với chính trị, vì dân đấy mà cái giây thân mật nó buộc vua với dân, buộc người dân lại với nhau lại càng bền càng mạnh thêm ra” (tr.46). Bình luận của Phạm Quỳnh rõ ràng không chỉ là nhận xét của một nhà hiếu cổ thông thường mà bộc lộ ý thức bảo vệ quyền tôn chủ. Với ông, ngôi vua còn đó nghĩa là còn một biểu tượng mang tính thiêng liêng, thể hiện tinh thần hợp nhất của một quốc gia dân tộc. So với diễn tiến tư tưởng của thời đại, quan niệm của Phạm Quỳnh mang tính bảo thủ, nó tiếp nối quan niệm phò vương của Phan Bội Châu nhưng lại đối lập với quan niệm phá bỏ vương quyền, thành lập chế độ dân chủ đại nghị của Phan Châu Trinh.

Xuyên suốt tất cả các thực hành văn hóa chính là một mối “quốc hồn”, nơi thể hiện sâu sắc nhất căn tính dân tộc. Trong Một tháng ở Nam kì, ông bộc lộ: “Ngót hai mươi triệu người sinh trưởng ở một cõi đất mênh mông trong hơn hai mươi thế kỉ, đã từng lắm phen sướng khổ cùng nhau, nguy hiểm có nhau, dần dần gây nên một mối quốc hồn”. Được hình dung như chất keo kết dính các cư dân trên lãnh thổ, quốc hồn được hình thành trong cả bề rộng của cương vực, chiều dài mấy mươi thế kỉ với bao cung bậc, trạng huống “sướng khổ cùng nhau, nguy hiểm có nhau”. Nói cách khác, quốc hồn chính là tinh thần cố kết, sự gắn bó keo sơn giữa các cá nhân trong cộng đồng để tạo nên khí phách và bản sắc của dân tộc. Trong đoạn văn khác, ông coi quốc hồn là nơi chứa đựng những gì thâm sâu huyền bí nhất của tinh thần dân tộc, có sức sống bền bỉ, bất biến: “trung gian vận nước có lúc biến thiên mà hồn cũ không bao giờ tiêu diệt. Ngày nay gặp hội thái bình, Tây Nam hòa hiếu, cái hồn cũ tất trai trẻ tinh anh thêm ra để dun dủi quốc dân vào đường văn minh tiến hóa”. Tới đây, hậu thế có thể hiểu vì sao ông nhấn mạnh nhiều đến “quốc hồn” đến vậy; ẩn sâu trong đó là một cách thế chính trị, một mong mỏi duy trì, bảo tồn cái hồn cũ để đưa đất nước tiến tới văn minh.

3. Sức mạnh giống nòi

Việc nhận diện dân tộc trên các khía cạnh: giống nòi, phong tục, quốc hồn, tôn chủ,… đã nêu ở trên nghĩa là đã định vị được cái thể tính của dân tộc. Du kí Phạm Quỳnh còn cho thấy Việt Nam từng là một dân tộc đầy khí phách. Với cái nhìn ngoái lại quá khứ, Phạm Quỳnh vô cùng tự hào xác định dân tộc Việt đã từng là một kẻ mạnh, một đế chế huy hoàng thể hiện trong quá trình mở cõi vào phương Nam. Trong hai thiên du kí Một tháng ở Nam kì, Du lịch xứ Lào, Phạm Quỳnh nhiều lần nhắc đến sức bành trướng của người Việt, cho thấy giống người Việt không phải một giống nòi hèn kém, yếu thế. 

Xác định đất tổ, đất gốc của người Việt là ở trung châu xứ Bắc kì, theo hình dung của ông, lịch sử dân tộc là hành trình mở cõi về phương Nam: “Thử xét cả cuộc lịch sử dân An Nam ta là một cuộc Nam tiến vô hồi vô hạn. Giống Giao Chỉ nguyên phát tích tự đất Trung châu xứ Bắc kì, rồi mỗi ngày một bành trướng mãi ra, mà bành trướng về phía Bắc không sao được, gặp những rừng núi ngăn trở, lại có giống mạnh hơn không thể tranh nổi, thế tất phải tràn về phía Nam, càng ngày càng lan rộng mãi ra, gặp những dân Thổ trước thì hoặc tiêu diệt cho tàn, hoặc dung hóa cho hết: Chiêm Thành, Chân Lạp xưa kia hiển hách biết bao mà nay còn gì?” (tr.102). Cách hình dung của Phạm Quỳnh về dân tộc mang nặng tính Việt tâm luận, chỉ coi Giao Chỉ là đại diện cho toàn bộ dân tộc Việt. Tương ứng với đó là quan niệm coi trung châu Bắc kì là nơi phát tích, là đất tổ, còn các vùng khác bị coi là chiến lợi phẩm sau những lần Nam tiến của người Việt. Bị ảnh hưởng bởi học thuyết Tiến hóa xã hội rất thịnh hành lúc bấy giờ, đoạn trích trên cũng cho thấy rằng hình dung của Phạm Quỳnh về vấn đề dân tộc mang tính quyết định luận, kẻ mạnh sẽ là kẻ đi thôn tính, kẻ yếu sẽ bị tiêu diệt theo quy luật “sinh tồn cạnh tranh của trời đất”: “cái lẽ sinh tồn nó bắt buộc phải liều sống liều chết mà tràn vào phía Nam cho được, không thời chật hết chỗ không biết sống vào đâu”. Dựa vào thuyết tiến hóa xã hội để lí giải quá trình mở cõi, Phạm Quỳnh đã thể hiện tư tưởng mang tính đế quốc chủ nghĩa khi hình dung về địa chính trị. Quá trình mở cõi, Nam tiến đồng nghĩa với quá trình thực dân, xâm lấn, tiêu diệt các tộc người yếu hơn, chiếm cứ những vùng đất mới: “đi tới đâu chiếm cứ đến đấy, gặp dân nào tiêu diệt dân ấy”. Ông coi đây là thắng lợi vẻ vang của dân tộc: “coi đó thì biết sự Nam tiến là cái phép lớn trong lịch sử giống Việt Nam ta”; “Thử coi cái sức bành trướng của dân mình có ghê không?”; “Cái sức sinh hoạt của giống mình xưa kia có kém gì ai đâu”. Phạm Quỳnh cũng nhắc lại uy thế của vua nhà Nguyễn sau khi đã hoàn tất quá trình mở cõi: “triều đình ta bèn đặt Bảo hộ ở đất Cao Miên, dựng thành trấn Nam Vang: về triều Thiệu Trị, Tự Đức, nước ta thường có quan khâm sai tổng đốc ở Nam Vang”. Hình dung nhà Nguyễn như một đế chế, Phạm Quỳnh đã không ngần ngại bộc lộ tư tưởng thực dân nước lớn của mình với những lời xiển dương, tung hô quá khứ. Đằng sau thái độ phấn khích, lối tung hô ấy là ý đồ chính trị của ông: không chỉ muốn dừng lại ở cuộc Nam tiến, Phạm Quỳnh có tham vọng thực dân khắp cõi Đông Dương: “Đất Đông Dương thật là nơi trường sở lớn cho cái sức hoạt động của người Việt Nam” (tr.105). Nhạy cảm chính trị mách bảo “thế giới ngày nay là cái thế giới cạnh tranh nhau về đường kinh tế”, bởi vậy ông xác định thực dân bằng con đường kinh tế chính là một chiến lược khôn ngoan hòng đem lại lợi ích dân tộc, cũng là một cách thể hiện/nâng cao sức mạnh của nòi giống Việt. Trong dịp du lịch đất Lào, chứng kiến đồng bào Việt sang làm ăn ở đây [12.000 người], ông phát biểu: “Có sang đây mới biết cái sức bành trướng của giống Việt Nam mình kể cũng mạnh thật” (tr.491). Ông ra sức kêu gọi, khích lệ người Việt sang mở đất, sinh sống và gây dựng cơ nghiệp trên lãnh thổ Lào. Đến đây có thể thấy niềm kiêu hãnh, lòng tự tôn dân tộc ở Phạm Quỳnh đã được khuếch đại một cách cực độ, đến nỗi ông coi việc thực dân bằng đường kinh tế tại Lào là một tất yếu, sẽ chỉ làm lợi cho dân Lào bởi giống người Lào vô tư lự, không biết làm ăn, cần phải được người Việt là giống người lanh lợi, khéo léokhai thông về đường kinh tế. Cách lí giải đó không khác gì lời biện hộ của một đế chế thực dân trước việc xâm chiếm một dân tộc khác, chẳng hạn, của Pierre Pasquier – Toàn quyền Đông Dương trong diễn văn đọc tại Đại hội đồng kinh tế và lí tài Đông Dương năm 1930 “chúng ta phải làm việc để đạt các mục đích […], sẽ có thể tạo ra một tương lai sinh sống tốt đẹp hơn, có tự do nhiều hơn trong khuôn khổ nền văn minh của chúng ta cho người dân sống dưới sự bảo vệ  của các thành trì vững chắc của quyền năng tinh thần và vật chất của chúng ta”(4).

*

Từ những phân tích trên có thể thấy Phạm Quỳnh đã thể hiện được cách định vị của mình về căn tính dân tộc. Căn tính đó được biểu lộ thông qua một hệ thống các yếu tố: chủng tộc, sự cố kết giữa các thành viên tạo thành quốc gia dân tộc, các nghi lễ và thực hành văn hóa chung, đồng thời căn tính dân tộc còn được biểu thị ở sự thị uy sức mạnh dân tộc trước kẻ khác – các dân tộc yếu thế hơn. Nói cách khác, việc đi du lịch, thăm thú các vùng đất đã giúp ông nhận diện được thể phách của dân tộc mình. Qua đó cho thấy con người chính trị của ông, ở khía cạnh này, ông đã thể hiện là một người bảo thủ trong cách tiếp cận vấn đề quốc gia (ủng hộ ngôi vua) – hệ quả của sự tiếp thu tinh thần nho giáo từ trong truyền thống gia đình; nhưng ở khía cạnh khác, tư ‎‎tưởng của ông về quốc gia đã khơi gợi những ý tưởng về việc xây dựng một đất nước Việt Nam trong tình thế mới: đó là bảo tồn, giữ gìn “cái hồn xưa” của dân tộc kết hợp với việc học tập văn hóa, kĩ nghệ, tư tưởng Thái Tây – hay nói theo cách của Trịnh Văn Thảo, “định hướng xã hội vừa bảo thủ vừa cải cách”(5).

Có thể hiểu việc quan sát các vùng đất chính là dịp để ông tìm lại bản chất Việt. Với ông, bản chất/tính Việt được hình dung như một khối thống nhất, toàn vẹn, tồn tại xuyên suốt bất chấp sự biến thiên hàng nghìn năm lịch sử, bất chấp sự khác biệt về không gian địa lí giữa các vùng miền. Vậy điều gì tạo nên cách hình dung nguyên khối đó? Phải chăng, ông đang cố gắng tạo nên một ảnh tượng về tính bất biến của dân tộc nhằm đối trọi lại với những xu thế chính trị – xã hội bất định mà chính ông chưa lường được kết cục ra sao, những thói học đòi từ phương Tây mà ông cho là xốc nổi, làm hại cho phong hóa nước nhà. Trên hết, việc cố gắng cắt nghĩa, định vị căn tính dân tộc, khẳng định tính vĩnh hằng của một thực thể Việt tồn tại trong lịch sử cũng nhằm đối chọi với những cố gắng đồng hóa của chủ nghĩa thực dân; cũng như vậy, việc khuếch đại chiến tích vẻ vang của cha ông trong qua khứ phải chăng để thị uy cho sức mạnh dân tộc trước nguy cơ bị thôn tính? Tìm trong di sản của ông, hậu thế có thể thấy nhà văn đã luôn cố gắng tìm tòi, chứng minh và bảo vệ cho được cái thuộc tính Việt đậm nét và trường tồn qua việc tìm về ca dao, về các điệu hò, những áng văn chương cổ điển, về tiếng nói, chữ viết, văn hóa của dân tộc… Không chỉ minh chứng cho đồng bào, nhà văn còn nhiều lần bày tỏ với chính nhà cầm quyền thông qua các bài viết bằng Pháp ngữ, các bài diễn thuyết trước trí thức Pháp. Đặc biệt, trong một lần diễn thuyết tại Viện Hàn lâm Pháp ngày 22/7/1922, Phạm Quỳnh đã thể hiện cái bản lĩnh của trí thức Việt khi ví rằng: “Nếu dân Việt Nam là một dân mới có, chưa có nền nếp chưa có lịch sử gì, thì quý quốc cứ việc hóa theo Tây cả, dạy cho học chữ Tây hết cả, đồng hóa được đến đâu hay đến đó. Nhưng ngặt thay, dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng, muốn vẽ gì vào cũng được; tức là một tập giấy đã có chữ sẵn từ đời nào đến giờ rồi, nếu bây giờ viết đè một thứ chữ mới nữa lên trên, thì e thành giấy lộn mất”(6). Những cố gắng của Phạm Quỳnh cũng nằm trong diễn ngôn chung của thời đại khi các trí thức luôn có ý thức đi tìm cái bản tính Việt nhằm kháng cự lại ý chí xâm lược của chủ nghĩa thực dân, điều được thể hiện rất phong phú, chẳng hạn trong cuộc diễn dịch lại lịch sử dân tộc(7), trong sưu tầm, tìm về với dân ca và tiếng nói bình dân(8),…

Là người cấp tiến, cổ vũ và truyền bá tư tưởng Âu Tây nhưng Phạm Quỳnh vẫn luôn đau đáu với những giá trị làm nên thể phách của dân tộc mà có lần ông gọi đó là “nếp nhà”. Bởi thế, cái cốt yếu trong cuộc điều hòa tân cựu mà ông ra sức cổ vũ vẫn là làm sao giữ được nếp nhà ấy – đến đây, tư tưởng của ông rất gần với quan niệm của nhà Nho: “Điều hòa mới cũ mà giữ được cái nền nếp nhà, thì sự tiến hóa của dân ta sau này chắc được vững vàng chắc chắn mà không đến nỗi lạc lối sai đường vậy” (tr.118). Đây không chỉ là một nhu cầu mà còn là nỗi trăn trở, đau đáu của vị học giả nhiều tâm sự ưu thời mẫn thế: “Ở cái đời cấp tiến này, người ta chỉ biết lấy cái chủ nghĩa quyền lợi mà đối đãi nhau, nếu thời hồ không có dịp nào để biểu cái nghĩa liên lạc của người dân một nước thì mấy nỗi mà quên nhà quên nước vậy” (tr.45). Bởi thế, đi cũng là một cách kết nối, gây dựng, củng cố tình thâm giao giữa các vùng miền: “huống chi khác xứ mà cũng đất nước nhà, tuy người lạ mà cũng là anh em, thời càng quen biết lại càng đậm đà cái tình máu mủ, càng đằm thắm cái nghĩa quê hương” (tr.68). Có khi, mong muốn kết nối được thốt ra như một lời hiệu triệu “đồng tâm hiệp lực với nhau, giữ được cái đoàn thể Việt Nam cho kiên cố, lại giữ được cái cốt cách tinh thần của nòi giống” (tr.491). Đó chính là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia ở Phạm Quỳnh.

Kim Nhạn

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ An

 


[1]https://leminhkhaiviet.wordpress.com/2013/12/18/tuong-tuong-ve-quoc-gia-o-viet-nam-the-ki-xx/

(2)Xem Liam Kelly: Quan niệm chủng tộc đầu thế kỉ XX của người Việt. Nguồn: https://leminhkhaiviet.wordpress.com/2014/10/23/quan-niem-chung-toc-dau-the-ki-20-cua-nguoi-viet/

(3)Phạm Quỳnh: Du lịch xứ Lào,in trong Phạm Quỳnh – Tuyển tập du kí, Nxb. Tri thức, H., 2012, tr. 477.Các trích dẫn về tác phẩm đều trong sách này.

 

(4)http//www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacPPasquier.html.

(5)Trịnh Văn Thảo: Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954), Nxb. Thế giới, H., 2013.

(6)Phạm Quỳnh: “Một vấn đề giáo dục cho nòi giống chúng tôi” in trong Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Phạm Toàngiới thiệu, nhiều người dịch), Nxb. Tri thức, H., 2007, tr. 456.

(7)Xem Liam Kelley: các nguồn đã dẫn ở trên.

(8)Xem Nguyễn Mạnh Tiến: Xác lập căn cước dân tộc trí thức Việt Nam đầu thế kỉ XX đối diện với sự kiện hát đối đáp (phân tích trường hợp Nguyễn Văn Huyên). Báo cáo khoa học, Viện Văn học, 2015.

Share
Share: