Lịch sử - Văn hoáTôi đọc

Sử Liệu Quốc Nội và Nền Sử Học Dân Tộc Chủ Nghĩa Việt Nam (phần 2) – Tạ Chí Đại Trường

902075_462425927169819_128371862_o

Mời bạn tìm sách của Tạ Chí Đại Trường trên Hang Cáo tại ĐÂY


 

(tiếp theo Phần 1)

Tình yêu nước cao vời và tính khoa học thấp thỏi

Thật ra có một lúc người ta cũng biết sử dụng nguồn thông tin từ sách vở chữ Hán của chính quốc để tiếp sức cho sử liệu Việt Nam, điều đó thấy rõ rệt trong các quyển sử của tập nhóm các sử gia thuộc thế hệ đầu thời độc lập và vẫn còn đang đứng hàng đầu trong ngành hiện nay. Điểm đỉnh là quyển Lịch sử Việt Nam tập I gây được sự chú ý bên ngoài, hiện diện trong một bài phê bình của tờ Foreign Affairs, một phần vì tính cách đại biểu của nó: Xuất hiện dưới danh vị của Uỷ ban Khoa học Xã hội nhà nước. Tuy nhiên, một chừng mực nào đó, cũng giống như tác động sự việc đối với các độc giả tờ Tự Do đã kể, vì mối liên hệ Việt Nam Trung Quốc trong quá khứ không đằm thắm cho lắm cho nên các trích dẫn thư sử phương Bắc vẫn có dáng bất đắc dĩ chỉ vì không thể tìm đâu ra khác (chuyện Hùng, Lạc, Việt) phần nữa, với các trích dẫn xa xưa không gây tranh luận nhiều ở tính cách xác thực của nó: chuyện cây cỏ thuốc men, lúa má, cung nỏ… nhưng vẫn đưa ra vì đề cao được quá khứ khu vực, của nơi được coi là cỗi gốc dân tộc, đất nước ngày nay. Cũng vậy, các dẫn giải trong thời các triều đại đã né tránh những xung đột, đổ thừa cho “phong kiến” để có thể nêu các chứng cớ được coi là hào hùng của dân tộc mà không làm mất lòng người Bạn lớn đang yểm trợ hết mình. Cứ huênh hoang với nhau theo một tâm thức tự kỉ không chút vang vọng nào của các ý kiến khác. Nêu chuyện sứ Nguyên nghe tiếng trống đồng thấy rợn tóc gáy hay bạc hết tóc gì đó mà không nghĩ rằng qua các câu thơ kia có tâm tình sợ-mà-khinh của một người tự coi là văn minh đi đến xứ của man di! Không thấy Lê Tắc nói đến nhạc lễ triều Trần có gõ trống đồng, vậy chuyện nghe trống kia e rằng chỉ là cảm thức văn nghệ vang vọng từ thời Mã Viện của viên sứ thần kia mà thôi. Không tránh được, cái tâm tình yêu nước đã được các sử gia dân tộc khai thác hết mực, vặn vẹo đủ mọi khía cạnh, gay gắt quy chụp trong một thời gian dài để rồi khi tình hình lắng đọng, phải ngượng ngùng bào chữa thì gặp phản ứng dữ dội của những người giữ gìn “trước sau như một” vì tự ái, vì thói quen tuân phục được đề cao như là sự trung thành đáng hãnh diện.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Tính yêu nước vốn là một xuất hiện tình cảm nên nó mang cả sự dao động, ở một người là sự trồi sụt của tính khí theo với thời gian, hoàn cảnh, ở những người khác nhau thì đó là cách nhìn khác biệt mang tính phe phía được biện minh với tần suất không chừng mực. Vì thế với sử học, nó là hiện tượng, dữ kiện để bàn xét chứ không phải là điểm khởi đầu hay là quy tụ kết thúc cho lập luận.

Thế mà đối với hiện trạng sử học Việt Nam, tình cảm yêu nước được bốc cao, gây ra một thứ áp lực quần chúng thông qua chính quyền, tác động đến người nghiên cứu đến độ người ta không thấy cái vô lí, cái ngớ ngẩn của lập luận chứng tỏ mọt giai đoạn ấu trĩ của tập đoàn, gần gần giống như tình trạng của đứa bé lấy mình làm trung tâm để xét đoán vũ trụ, thế giới nhân sinh. Lấy vài ví dụ từ một sử gia danh tiếng để thấy lối nói bừa, chỉ hơn được những người kém cỏi về cách thu xếp văn hoa mà thôi. Thời xa xưa, Hùng Thục đang đánh nhau, gặp lúc Tần đem quân xâm lăng, Hùng liền nhường ngôi cho Thục để cứu nước! Hồ Quý Li thua là vì “không đoàn kết được toàn dân đánh giặc giữ nước” còn Tây Sơn thắng là nhờ có “tinh thần quật cường bất khuất của nhân dân, kết hợp với lòng yêu nước và truyền thống của dân tộc.” Do đó trong tình hình chung thì “nhân dân nhiệt liệt ủng hộ Quang Trung, hăng hái gia nhập quân đội, tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc” còn riêng biệt trong trận Ngọc Hồi thì có bằng cớ là “nhân dân đóng góp ván gỗ giúp nghĩa quân” bện rơm ướt che chắn tên đạn lúc xung phong!

Tình cảm yêu nước trong khuôn khổ văn hoá Á Đông được thấm nhuần từ ý thức về một thời hoàng kim Tam Hoàng Ngũ Đế trong lịch sử khiến người ta cố đi tìm một thời đại Hùng Vương với trống đồng “nói mãi không hết” cái hay ho của nó. Tình cảm yêu nước lồng trong sách sử của khu vực văn minh, nơi chốn triều đình khiến người ta ca tụng vai trò cứu nước của ông vua Lê khởi đầu mà không chịu công nhận gốc sắc tộc Mường Thái “kém cỏi” / đáng tủi hổ của ông. Ghép mình với tộc người đa số mà không ý thức rõ, người ta cứ đặt ông Nguyễn Trãi đứng ngay sau ông vua mở nước mà không thấy rằng đương thời, khi tổng kết công lao, ông văn hào này chỉ được xếp vào hạng 8/9 của toán người được bình công.

Tình cảm yêu nước lẩn khuất trong sự tự phụ địa phương trên trước, dẫn đến những “hội nghị khoa học” kết tội nhân vật lịch sử mà nay ông PHL vì muốn giải toả đã bị đẩy về phía nguỵ-bán-nước. Dạng yêu nước đó cũng đã được ông Đỉnh cao Sử học chia xẻ lẫn lộn đến ngày nay trong chừng mực khôi phục Nguyễn mà còn nhớ Quang Trung khi nghe theo lời một ông (chắc là khoa bảng) sinh vật học, nêu chứng cớ về tên Việt Nam đã có trước thời Gia Long, và nhân đó lại sửa bằng chứng xưa, đổi chữ Giáp tí (1804) thành Nhâm tí (1792), gợi ý chuyển sáng kiến đặt tên nước về cho Tây Sơn Nguyễn Huệ! Cái ông Nguyễn Phúc Giác Hải kia ít nhiều gì cũng là đọc chữ theo lối quốc ngữ ngày nay, không chỉ không biết có các chữ Hán gì phía sau chữ “v-i-ê-t-nặng” nọ mà cũng không biết các hệ thống văn pháp Hán, Việt khác nhau ra sao để suy ngẫm về nghĩa các chữ, lại cũng không có dịp được thấy người ta dùng lẫn lộn một cách tự nhiên các chữ viết / hệ thống ấy, cho nên mới thấy các tấm bia có chữ “việt nam” kia liền lật đật kết luận (và để ông PHL phụ hoạ) rằng tên (nước) Việt Nam là “theo cách gọi của nhân dân”, “đã có từ lâu đời”! Tuy nhiên “công đầu” trong vụ này không phải là của ông Giác Hải đâu, hãy lục tìm đâu đó ở các bài viết thời VNCH (nếu không bị đốt mất) sẽ thấy được “phát hiện” nọ.

Bởi vì yếu tố yêu nước được đặt làm tiêu chuẩn đánh giá công trình sử học nên mới có chuyện thiên vị ông Quang Trung ở trên, còn sót lại sau một thời cho ông có công thống nhất đất nước, hết thời ngang ngạnh lại cho ông “mở đầu sự nghiệp thống nhất”, đẩy ông Gia Long vào địa vị thứ yếu, theo đuôi lượm lặt thành quả của người khác. Họ không chịu suy nghĩ khi đọc sách, để biết rằng nếu không có Nguyễn Hữu Chỉnh thì ông anh hùng kia chỉ đứng trên luỹ Thầy mới đắp lại mà nhìn ra hướng Bắc thôi. Gạt sự kiện sang một bên để cho sự yêu ghét riêng biệt cuốn hút, người ta mới quả quyết rằng việc “Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc chứng tỏ tầm nhìn xa thấy rộng và tấm lòng yêu nước thương dân, ý chí thống nhất đất nước” của ông. Cho nên khó có thể thuyết phục những người mê Nguyễn Huệ kia, là sự nghiệp Tây Sơn tan tành đã có bàn tay Nguyễn Hữu Chỉnh nhúng vào sau những ngày chiếm Phú Xuân đó.

Lại cũng chỉ vì yêu nước phe phía như vậy nên không chịu lối sắp đặt thứ tự Nhạc-Lữ-Huệ của một tên nguỵ, có bằng chứng đàng hoàng, không phải lấy ở CIA mà là của người đương thời, kể cả từ ông Bùi Dương Lịch của bầy choa nữa. Một người đi tiên phong theo lời dạy của ông Trường Chinh, “tác chiến chống bọn sử gia phản động của Miền Nam”, ông Nguyễn Phan Quang làm thầy giáo “viện trợ” sử cho các trường phía Nam, đứng tên đầu đàn cho các tỉnh ủy làm công trình nghiên cứu địa phương, được thể múa gậy vườn hoang, qua thế kỉ XXI dẫn “sử liệu” cho dày sách, kể cả ý kiến từ báo Công An, từ sách học giả Tây cho có uy tín bên ngoài, ông ta lại vẫn cứ chép thứ tự Nhạc-Huệ-Lữ! Lạ nước lạ cái mà muốn chứng tỏ cầu thị, ông mang cả gia phả trời ơi đất hỡi của địa phương, gán ghép văn thơ, viện dẫn chuyên ngành lơ mơ (vẫn là yêu nước với chuyện đồng tiền Quang Trung “An Nam”) để làm dồi dào tư liệu, rộng đường dư luận… Có điều qua những chứng dẫn, quá nhiều, thật quá nhiều, lấy từ các bản tham luận, người bên ngoài không được tham dự các cuộc hội thảo lại thấy nổi gai ốc về sự gan dạ của các học giả kia (loại bà bảo mẫu Nguyễn Thị Lộ của Lê Thái Tông, loại Gia Long không tìm được mả Nguyễn Huệ…) Cũng muốn hoà nhập với địa phương mà không có dịp hơn, ông Nguyễn Phan Quang (2006) chỉ nhét được tên “thầy Tư Lữ”, thua ông PHL đem được cả thứ tự “Anh Hai Trầu, chú Ba Thơm, thầy Tư Lữ” cho nghiên cứu mới nhất (2006) của ông để ngày nay xứ Nghệ An vinh danh thêm một tên Hồ Thơm, cái tên hình như được cổ động từ ông Hồ Hữu Tường, một người cũng muốn mượn làm con cháu Quang Trung để cổ động cho thời mới do ông xướng suất, thời đó may mắn thay, đến thế kỉ này còn lưu lại được cây cờ “Quang Trung” trong một nhà bảo tàng thật hoành tráng trên đất Tây Sơn.

Chuyên gia mở đường chữ nghĩa cho nhà lãnh đạo cho nên ông (cựu) Tuyên giáo Trần Trọng Tân mới viết về thứ tự anh em Tây Sơn y hệt như vậy để rồi loại kiến thức cũ đó trở thành xích xiềng quyền lực trói buộc khiến sử gia khi cần điều chỉnh phải lên tiếng xin phép. Một khi sử gia cố cãi cho cái án “oan sai” Nguyễn Thị Lộ với các lập luận nhà quê, tuồng tích ngớ ngẩn (“Thảm án Lệ Chi Viên”) để bảo vệ danh nhân văn hoá UNESCO thì giới chức tuyên giáo hẳn có cơ sở “chuyên môn” ngoài lí do đạo đức (?) để ra tay đe nẹt, cấm cản nhà văn tò mò ghé mắt nhìn vào căn nhà ở khu Vườn Vải hôm đó, có ông vua cùng “thức suốt đêm” (Toàn thư) với bà Lễ nghi học sĩ “người rất đẹp”, đến nỗi phải mắc bệnh “Sốt rét” (Cương mục) rồi “băng hà”.

Có thể vì sử liệu ít oi mà quá khứ phải nhờ cậy đến lòng yêu nước bù đắp cho dày sách nhưng cũng vì thế mà sử Việt trở thành loạn khiến cho chuyên viên không được kính nể, để các tay ngang nhảy vào mắng chửi lung tung, nhất là khi có yểm trợ của phe phía, chắc chắn là sừng sỏ. Việc lấy tình yêu nước làm tiêu chuẩn phán đoán đã là duyên cớ bế tắc chính cho cho cách giải quyết những vấn đề sử học cận đại: vấn đề nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản… Người ta chỉ loay hoay trong vấn đề bình công luạn tội chứ không làm việc sắp xếp sự kiện, đặt nhân vật vào trong những khung cảnh lịch sử vốn là đã qua, không có cách nào lôi trở về hiện tại, để khỏi làm quân sư mách nước, buộc người xưa phải hành động ra sao… Trình độ kiến thức thấp thỏi chung khiến Không ai nghĩ ra rằng một cuộc hội thảo sử học không phải là một toà án dư luận. Cách giải quyết đúng là căn cứ thoáng thấy trong những phát biểu Xét lại nhưng tiếc thay vấn đề Công Tội cũng vẫn lẩn khuất trong bài của các sử gia hàng đầu hiện nay, dù là làm cớ biện minh cho công cuộc Xét lại. Thành thử Xét lại, Đổi mới sử học giống như một phong trào muộn màng, đi theo lời hô hào Đổi mới chung, cho nên lại có tình trạng “tâm lí bầy đàn” (loại cừu Panurge) ở các hội nghị sử học gần đây như lời nhận xét của ông Lại Nguyên Ân. Tuyên giáo nắm đường dây đổi mới sử học nên mới có tiết lộ né tránh của Cao Tự Thanh về một “nhà sử học nổi tiếng (Phan Huy Lê?) đã kê khai chi tiết công tội của Phan Thanh Giản theo hệ thống dựng nước và giữ nước như một báo cáo ưu khuyết điểm để trình lên Ban Bí thư!” Những người như ông Phan, tuy “dày dạn phong trần” nhưng thật cũng khó biết cái đà lệch lạc như thế nào là có thể chấp nhận được nên ngày nay lãnh búa rìu của đám vô danh tiểu tốt tông đồ mới, của những kẻ đòi công chưa thoả mãn, của những người đầu óc chết từ những năm 1960, ông sử gia thật cũng nên ráng coi là tai nạn của nghề nghiệp mà thôi.

(còn tiếp)

Tạ Chí Đại Trường

Mời bạn tìm sách của Tạ Chí Đại Trường trên Hang Cáo tại ĐÂY

 

Share
Share: