Hiểu bản thânTôi chiêm nghiệm

Sự thật về những sự thật (8): HẠNH PHÚC

Two male lions Panthera leo lying side by side, Masai Mara National Reserve, Kenya

Đọc các phần trước: (1) (2) (3) (4) (5) (6)  (7)

Mọi đôi trai gái đều hứa hẹn cho nhau hạnh phúc. Mọi bậc cha mẹ đều mơ ước một tương lai hạnh phúc cho con. Mọi chính khách đều tuyên bố sẽ mang lại hạnh phúc cho dân chúng trong thời gian mình trị vì. Mọi “bậc thầy tâm linh”, hoặc nhà trị liệu tâm lí mới nổi gần đây đều thề thốt sẽ mở ra cho linh hồn học viên một con đường cao tốc đến hạnh phúc. Ngoài miệng, mọi người đều hứa sẽ ban cho người khác hạnh phúc, nhưng sâu trong tâm khảm, mọi người lại đều muốn tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân. Sao có thể cho người khác một thứ mà mình chỉ đang thèm muốn, đang tìm kiếm nơi người ngoài, chứ chưa tự mình có? Thế là để có hạnh phúc, các đôi trai gái tìm đến việc sinh con, những đứa con tìm đến cha mẹ vòi khóc, các gia đình tìm đến các chính khách để đòi hỏi, các chính khách tìm đến lời xoa dịu ngon ngọt bác sĩ tâm lí và các “bậc thầy tâm linh”. Các “bậc thầy tâm linh” biết làm gì? Ông ta không có cái hiểu biết và bản lĩnh để gào vào mặt học viên: “Về nhà đi, tự tỉnh mộng đi, các người toàn một lũ điên hết!”. Không, vì muốn có tiền, ông phải bán những lời ngon ngọt. Không, vì ông cũng muốn có hạnh phúc, hay nói cho chính xác, là sợ mình không có cái “hạnh phúc” bí ẩn mà cả thế giới đang đuổi theo. Thế là để được xin xỏ và hứa hẹn “hạnh phúc”, ông đóng vai người tình của Lí Tưởng, con ngoan của Thượng đế, cha mẹ của đám tín đồ, và chính khách của các linh hồn. Ông đeo quá nhiều mặt nạ chồng lên nhau – tất cả đều là những mặt nạ cười, trông có vẻ bình an, trông có vẻ hạnh phúc. Những mặt nạ này là cần thiết để mỗi lần tự làm dáng trước gương, việc mà ông gọi hỗn là “thiền”, ông có thể tự lừa dối bản thân để quên đi cái thực tế rằng bên dưới những lớp mặt nạ kia, chẳng có gì ngoài những ẩn ức dục được chuyển hóa thành lòng tham danh, tham tiền – đặc trưng nổi bật của tất cả những kẻ thiến hoạn tự cổ chí kim – và sự rỗng tuếch về mặt trí tuệ.

Như vậy, tất cả tạo thành một vòng luẩn quẩn lớn, trong đó tất cả mọi người đều tìm kiếm hạnh phúc nơi kẻ khác, nhưng hạnh phúc không bao giờ được ai tạo ra. Chính vòng luẩn quẩn của việc đòi hỏi hạnh phúc, chứ không phải bản thân hạnh phúc, đang tạo thành guồng máy khiến thế gian vận hành. Trong guồng máy này, những đòi hỏi ngày một chồng chất, khiến con người ngày một mệt mỏi, và vì thế những đòi hỏi của họ lại càng thêm chồng chất. Thật trớ trêu, khi “bậc thầy tâm linh”, kẻ đứng sau chót trong vòng luẩn quẩn này, lại là kẻ muốn nhiều nhất, xin nhiều nhất, nhưng lại không thật sự cung cấp được thứ gì cho người khác và cho chính bản thân, ngoài những cái mặt nạ. Người ta tìm hắn để nghe sự thật, nhưng hắn chỉ bán những lời nói dối làm thuốc giảm đau.

Mọi người đều tìm hạnh phúc, như thể thứ đó sẽ cứu rỗi mình. Nhưng xem ra hạnh phúc chẳng cứu rỗi ai: hạnh phúc là lời nguyền cho thế giới.

*

Ai cũng tìm hạnh phúc, nhưng không ai biết thế nào là hạnh phúc. Thành ra mọi người đòi nhau một thứ mà chẳng ai biết là gì, và chạy đua đến một cái đích mà chẳng ai biết ở đâu. Một món hàng không thể biết và một cái đích không thể biết, đó là tất cả những gì mà kẻ lừa đảo và quân gian lận cần đến để kiểm soát thế giới bằng các cuộc giao dịch và các cuộc đua.

Muốn biết thế nào là hạnh phúc, ta mở từ điển ra và tra từ “hạnh phúc”.

Trong tiếng Hán, chữ “Hạnh” chỉ điều may mắn đến bất ngờ. “Hạnh” là cái đặc ân không phải của mình, nhưng mình bỗng dưng được hưởng. Khi trước, từ này vốn dùng để chỉ sự yêu mến, ban ơn huệ của kẻ trên đối với người dưới, như câu “Nguyện đại vương dĩ hạnh thiên hạ” (Mong đại vương ban phát cho thiên hạ) trong Hán thư. Bởi xưa kia, từ này vốn dùng để chỉ việc chăn gối của đế vương với đàn bà. Cho đến ngày nay, từ “lâm hạnh” vẫn được hiểu là “vua đến”.

Chữ “Phúc” nguyên dùng để chỉ phần rượu thừa, thịt thừa trong lễ cúng. Ý nghĩa này thể hiện rõ qua hình khắc chữ Phúc trên giáp cốt văn. Hình khắc đó mô tả một ly rượu cạnh đĩa đồ cúng, từ đó ba giọt rượu đổ ra. Xuất phát từ nghĩa này, giờ đây, người ta hiểu Phúc là số may, cơ hội.

Trong Anh ngữ, “Happy”, từ chỉ hạnh phúc, xuất phát từ chữ “hap” trong tiếng Bắc Âu cổ, ám chỉ vận may.

Nói tóm lại, về bản chất, “hạnh phúc” là vận may, tức cái đặc ân không thuộc về mình. Hạnh phúc là khúc xương thừa mà người trên – vua chúa hoặc một nguồn nỗi sợ vô hình – tùy tiện vứt cho kẻ dưới. Nên đã bàn về hạnh phúc, thì phải trước tiên thừa nhận sáu sự thực.

Một: muốn có hạnh phúc, ta buộc phải chờ vận may đến, hoặc cầu xin, bợ đỡ tha nhân. Tự ta không hạnh phúc, và cũng không thể tự tạo ra hạnh phúc. Hạnh phúc của ta do ngoại nhân và ngoại cảnh quyết định, ta chẳng thể làm gì. Ai chọn hạnh phúc, kẻ đó chọn ỷ lại và lệ thuộc vào kẻ khác.

Hai: muốn có hạnh phúc, ta buộc phải đặt mình ở thế dưới, và đội kẻ khác lên trên. Tư thế của ta là tư thế của một tì nữ quanh năm nằm ngửa đợi, những mong vua đến ban ơn mưa móc cho mình. Ai chọn hạnh phúc, kẻ đó vứt bỏ danh dự và phẩm giá.

Ba: do bản chất vận may của nó, hạnh phúc chỉ có ở thì tương lai, chứ không có ở hiện tại. Khi một vận may đã xảy đến, nó không còn là vận may. Như thế, hạnh phúc không phải là thứ ta có thể nắm giữ, nó là thứ ta chỉ có thể chờ đợi hoặc kiếm tìm.

Bốn: vì hạnh phúc có bản chất là vận may hên xui, nó tuyệt đối không bền vững.

Năm: vì bản thân ta là thứ duy nhất tự thân, thứ duy nhất ta nắm giữ được và thứ ta dùng làm thước đo độ bền vững, ai chọn hạnh phúc làm mục đích, kẻ đó không sớm thì muộn sẽ đánh mất bản thân.

Sáu: vì hạnh phúc chỉ có ở người khác, chứ không thể được tìm thấy trong chính ta, kiếm tìm hạnh phúc tất yếu dẫn đến ghen tị.

*

Trong thực tế, ghen tị là động lực quan trọng nhất làm nảy sinh ham muốn hạnh phúc. Ngoài ghen tị, cái gì khiến người ta mãi đi tìm một đặc ân không phải của mình, mà vốn là của tha nhân? Kẻ một mình lớn lên trên hoang đảo từ tấm bé, chưa từng so sánh đời sống của mình với đời sống của đồng loại, liệu có cắm đầu tìm kiếm một thứ “hạnh phúc” trừu tượng mà hắn chưa từng định nghĩa, không thể nắm giữ, và không bền? Hay hắn sẽ tập trung tìm kiếm một bữa tối, một chỗ ngủ, sự khỏe mạnh và những chuyến thám hiểm đại dương – những thứ đáp ứng nhu cầu có thật của hắn?

Ghen tị – thứ làm nhu cầu về thứ “hạnh phúc” trừu tượng phát sinh – lại cũng chính là thứ sinh ra từ cuộc tìm kiếm thứ “hạnh phúc” trừu tượng. Kết quả tự nó trở lại làm nguyên nhân, đó là lí do khiến cái vòng luẩn quẩn của việc đòi hỏi hạnh phúc, cả trong xã hội lẫn trong thế giới nội tâm, cứ quay mãi.

Vì hạnh phúc là của người khác, hạnh phúc đến từ người khác, và ham muốn hạnh phúc xuất phát từ sự ghen tị, hiển nhiên vòng quay của ham muốn đó sẽ khiến người ta quên mất những nhu cầu thực sự của bản thân mình. Thay vào đó, nó khiến họ chạy theo, để đòi hỏi cho mình, những biểu hiện bề ngoài mà họ thấy nơi người khác. Người ta thường đánh đồng hạnh phúc với một người chồng giàu có và hay chiều chuộng, một đứa con, một công việc, học bạ hoặc vị trí giúp nở mày nở mặt với đồng nghiệp, họ hàng, hay những món quà lãng mạn vào dịp lễ tết. Nhân danh hạnh phúc, có những cặp trai gái kì vọng rằng trong mối quan hệ của mình, người nam sẽ nói câu này rồi người nữ sẽ nói câu kia, người nam sẽ tặng món này vào dịp nọ, để rồi người nữ đáp trả thế kia, trên một sân khấu bắt buộc của quần áo đẹp, nhà hàng sang, những ngôi vị thành công, danh hiệu và cử chỉ tòi ra từ trong tiểu thuyết. Nhân danh hạnh phúc, có những bà mẹ kì vọng rằng con cái phải được điểm cao nhất lớp, cứ như thể chỉ cần bạn học của đứa con học giỏi hơn một chút, chúng sẽ lập tức phá hoại hạnh phúc của gia đình bà ta. Và từ việc thèm khát những biểu hiện bề ngoài này khi đánh đồng nó với”hạnh phúc” – một cái đích mà chẳng ai biết ở đâu, người ta không ngừng giận dỗi nhau, giày vò nhau, hoặc đánh đập con nhân danh hạnh phúc. Trong lúc lộn xộn, các cặp đôi, các gia đình không ngừng so bì nhau từng li từng tí biểu hiện bề ngoài của “hạnh phúc”, như thể hạnh phúc là một tài nguyên có hạn mà người ta phải tranh nhau. “Hạnh phúc” của những người này chẳng có lợi cho ai, ngoài những sạp bán truyện ngôn tình, những cửa hàng đồng hồ, giày dép và quần áo, những quán cà phê và quán ăn cho kẻ mới tập tành làm điệu, những kênh truyên hình cho thuê quảng cáo, chủ tập đoàn và trung tâm dạy thêm. Hẳn là hạnh phúc có lợi cho tất cả mọi người – trừ những người trong cuộc đang tìm kiếm hạnh phúc.

*

Vì những kẻ đòi hỏi hạnh phúc đã dần quên mất nhu cầu thật sự của mình, sẽ dần quên mất bản thân, và đang chạy theo các biểu hiện bề mặt, họ không thể suy nghĩ về hạnh phúc bằng lí trí của chính họ. Thay vào đó, họ sẽ chạy theo để bắt chước những bộ hình mẫu qui định thế nào là hạnh phúc, và thế nào thì không. Những bộ hình mẫu này có thể xuất phát từ gia đình, nhà trường, bạn bè, hệ thống tôn giáo, chính trị hoặc các mốt tư tưởng, văn hóa đang lên. Nói cách khác, tìm hạnh phúc là tự đồng hóa bản thân với một hệ thống hoặc trào lưu, thông qua việc ghen tị với biểu hiện bề ngoài của những người nằm trong hệ thống hoặc trào lưu đó.

Hãy điểm qua vài bộ hình mẫu hạnh phúc.

Đầu tiên, phải kể đến bộ hình mẫu truyền thống nhất, theo đó hạnh phúc đồng nghĩa với việc có đôi có cặp, lấy vợ đẻ con. Theo bộ hình mẫu này, hễ cá thể người nào chưa bắt cặp khi đến tuổi động dục, hoặc không đẻ khi đến tuổi sinh sản, thì dù mọi phương diện khác có phát triển đến đâu, cá thể đó không thể coi là hạnh phúc. Như thế, trong bộ hình mẫu này, từ “hạnh phúc” được dùng để chỉ việc con vật hình người đạt được mục đích giao cấu và thực hiện tốt chức năng sinh sản tự nhiên. Vì sao những con vật đó phải gọi hiện tượng này bằng hai từ “hạnh phúc”? Vì chúng không phải giống tốt, hoặc có dị tật, nên chúng việc được phối giống đúng hạn như một vận may lớn, hoặc một ơn mưa móc mà kẻ mạnh ban cho? Hay bởi so với việc nói rằng “tôi đã giao cấu khi đến tuổi động dục”, hoặc “tôi đã nhân giống xong”, việc cố tỏ ra rằng “tôi đang hạnh phúc” khiến chúng trông có vẻ giống người hơn, và nhã hơn, trong khi chúng chỉ chọn các nhu cầu và chức năng của con vật làm nỗi ám ảnh và mục đích sống?

Bộ hình mẫu hạnh phúc thứ hai, đôi lúc hiện diện như một sự bổ sung cho bộ vừa nêu, gắn hạnh phúc với một vật sở hữu cụ thể. Vật sở hữu này không cần phải mang lại lợi ích thiết thực, hoặc đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của chủ nhân: quan trọng hơn, nó phải hợp mốt và tiện so bì, để giúp chủ nhân xoa dịu sự ghen tị và nỗi sợ thua kém. Vật đó có thể là tài sản: điện thoại, xe, nhà, quần áo, phụ kiện… Đó cũng có thể là một danh hiệu phù phiếm, như học sinh du học, start-up trẻ, trí thức lớn, hay “bậc giác ngộ tâm linh”… Đôi lúc, người ta cũng muốn sở hữu kẻ khác – như thuộc cấp, bè bạn, người yêu hoặc con cái – như sở hữu một vật trang sức hoặc một danh hiệu, trong cùng một tâm lí này. Những người “hạnh phúc” thuộc kiểu này được phim Fight Club mô tả ngắn gọn bằng một câu: “Dùng tiền bạn không có để mua những thứ bạn không cần, nhằm làm vừa lòng những người bạn không thích”.

Bộ hình mẫu hạnh phúc thứ ba tôn vinh cái gọi là “những hạnh phúc bình dị”. Ngày ngày, những kẻ bị ám bởi hình mẫu này sẽ dành hàng tiếng trên Facebook, chỉ để tiêu thụ và rặn ra thêm các status màu hồng về về “những niềm vui nho nhỏ”, hoặc “hạnh phúc giản đơn”. Họ bắc loa tuyên bố, mỗi ngày vài lần, rằng họ đang tìm thấy “hạnh phúc” trong một “cuộc sống bình thường” – thứ mà thực ra là cuộc sống tầm thường. Qua những bức ảnh mà họ post lên, ta biết họ đang tìm thứ hạnh phúc này trong việc uống một thứ đồ uống tầm thường ở quán cafe hạng hai, chia sẻ với những bạn cũ tầm thường những cuộc chuyện và những món ăn không đòi hỏi vị giác, nở một nụ cười vô não trong một buổi chiều vô nghĩa bên cửa sổ… Họ thường viết  về cảm giác yên bình, thanh thản nơi cái xó nhà mà họ thấy thân thuộc, nhưng bằng cùng một bọn đó, lũ sâu bọ sống rúc trong hốc đá cũng có thể viết về sự yên bình nơi cái lỗ hẹp mà chúng dấu yêu. Nhìn chung, đám người “hạnh phúc bình dị” không bao giờ giải thích xem vì sao hạnh phúc lại phải bình dị, cuộc sống lại phải tầm thường, và vì sao họ phải bắc loa rú lên mỗi ngày mười lần cái khẩu hiệu rằng họ đang hạnh phúc. Khi ai đó nói một điều lặp đi lặp lại, họ chắc chắn đang ám thị, họ chắc chắn đang tuyên truyền. Trước là để lừa bản thân, sau là để lừa người khác.

Tiếc thay, người ta nói nhiều về cái gì, thì họ thường không có cái đó. Khi ai đó không ngừng nói rằng họ đang tràn đầy những hạnh phúc giản dị, trong thực tế, họ đang nơm nớp lo rằng sự tầm thường, thua kém của mình sẽ trở thành đề tài bàn tán của người khác, và của chính nội tâm. Họ phải lên gân hạnh phúc, rặn ra hạnh phúc để lấp liếm cái thực tế này. Về bản chất, đám người “hạnh phúc bình dị” là những kẻ vẫn muốn được xã hội công nhận rằng mình thành đạt, yên ổn, thỏa mãn và vui tươi, trong khi trong con mắt phân tích của các hệ chuẩn mực vững bền, chúng chỉ là hàng thứ phẩm hoặc phế phẩm yếu kém. Cái khẩu hiệu “hạnh phúc bình dị” chẳng là gì khác, ngoài một thủ đoạn hạ thấp chuẩn mực, bán phá giá chuẩn mực, để giúp những kẻ không đạt chuẩn có thể trà trộn và trèo cao. Bằng cách thuyết phục những con đại bàng mệt mỏi tin rằng cuộc sống của con chim sâu, quanh quẩn nơi cành cây vũng nước, là yên bình và ngọt ngào một cách không phí tổn, bầy chim sâu có thể nhốt con đại bàng nơi xó vũng, giả làm đại bàng, hoặc mượn cánh đại bàng. Con đại bàng nào nhiều lần bắt chước chim sâu vì ghen tị với chim sâu, con đó cũng không còn xứng mang đôi cánh.

Bộ hình mẫu hạnh phúc thứ ba gắn liền với khẩu hiệu “hạnh phúc đến từ sẻ chia”. Hình mẫu này tác oai tác quái trong các hoạt động thiện nguyện và các tôn giáo. Nó dựa trên một niềm tin quái dị: để có được hạnh phúc, chúng ta phải chia sẻ hạnh phúc với mọi người. Nghe theo khẩu hiệu vô căn cứ này, những kẻ đói khát hạnh phúc đổ xô đi cúng tiền vào từ thiện, hoặc tế thì giờ cho việc “truyền bá phúc âm”, những mong nhờ hành vi “tạo nghiệp tốt” của mình, một ngày kia mình sẽ được thần, phật hoặc đời trả công bằng hạnh phúc.

Bộ hình mẫu này thực ra có nguồn gốc tôn giáo. Trong Kitô giáo và Hồi giáo, người ta cho rằng ai giữ đúng lề luật, luôn giúp đỡ tín hữu và năng nổ truyền đạo, người đó sẽ được lên thiên đường hưởng lạc đến muôn năm. Trong nhiều nhánh Phật giáo Bắc tông, người ta cho rằng nên tạo nghiệp tốt để được trả lại nghiệp tốt. Bố thí, nhất là “bố thí pháp” – tức tuyên truyền đạo Phật, được xem là một trong những game quan trọng phải cày để được lên level Bồ Tát. Về bản chất, trò “nghiệp tốt” này là một mánh chính trị khôn ngoan. Một mặt, bằng việc khuyến khích các tín đồ đóng vai người tốt, nó khoác cho giáo phái một lớp mặt nạ mĩ miều, giúp thu hút ngày càng nhiều người ngoài. Mặt khác, nó thúc đẩy các tín đồ, dù chưa có chữ nào vào đầu, cũng nhiệt thành đi truyền giáo cho tha nhân, khiến tôn giáo lan truyền nhanh theo hiệu ứng bán hàng đa cấp. Trong đường dây đa cấp này, anh càng lôi kéo được nhiều học viên mới cho các giảng sư, anh càng cầm chắc một chỗ trên thiên đường hay cõi phật. Và dù hành động của anh thuần túy xuất phát từ lòng ham muốn vận may trong kiếp này, hoặc vé vào một cõi sung sướng bất tận sau khi chết, anh vẫn luôn thanh thản và tự mãn, vì anh cho rằng mình ở phe đúng, mình là người tốt làm việc thiện, mình đã cứu một kẻ lầm lỗi khỏi hỏa ngục hoặc giúp một vị phật mới sinh ra… Thật tinh vi trong cách dối người và dối mình.

Lời nói dối đầu tiên xoay quanh động cơ của sự giúp đỡ. Khi ta giúp ai đó trên tinh thần “hạnh phúc đến từ sự sẻ chia”, cả người giúp, người được giúp, nhà thờ, sư sãi lẫn toàn xã hội dều mặc nhiên thừa nhận rằng ta là người tốt, là hiện thân của cái thiện. Tuy vậy, trong thực tế, ta có thành thực muốn giúp ai đâu! Nếu sàn giao dịch nghiệp bị sụp đổ vì khủng hoảng thừa, hoặc bị hack, liệu ta có còn bố thí cho người nghèo? Nếu thiên đường đóng cửa trước làn sóng nhập cư, liệu ta có còn mở mồm truyền giáo? Nếu xã hội phủ nhận giá trị của thiện nguyện. và không có Facebook để khoe ảnh cứu lũ, liệu ta còn bao nhiêu nhiệt huyết với trò sẻ chia? Thôi, khi ta chỉ còn có thể chia sẻ địa ngục và đời sống thường ngày, thay vì những lời hứa hẹn về viễn cảnh hạnh phúc xa xôi, thì màn kịch tới đây chấm dứt. Và ở đây, rõ ràng những kẻ mà ta đang giúp đỡ chỉ là công cụ để ta lợi dụng. Để duy trì cho ta lớp mặt nạ người tốt, và nuôi dưỡng cho ta cái hi vọng vào hạnh phúc trong tương lai. Ta và hệ thống của ta không phải là hiện thân của điều tốt: nó chỉ nhân danh điều tốt để duy trì những lời nói dối nhơ bẩn, động cơ ích kỉ và ảo tưởng yếu hèn.

Lời nói dối thứ hai xoay quanh khả năng giúp đỡ. Ai cũng có thể nói “Hạnh phúc đến từ sự sẻ chia” một cách trơn tuột. Nhưng ai có thể chia sẻ cho người khác một thứ mà mình không biết là gì, và không nắm giữ trong tay? Nếu mọi người đều chỉ chia chác hạnh phúc, và không ai có khả năng tạo ra hạnh phúc, thì lấy đâu ra một mẩu hạnh phúc cho cả bầy háu đói đang đòi chia phần? Tài nguyên nào mà người ta chỉ có thể chia chác thay vì sản xuất ra, tài nguyên đó sẽ khiến người ta chém giết nhau để tranh cướp. Hãy nhìn những cuộc chiến tranh tôn giáo, hãy nhìn những cuộc tranh cướp người và sóng truyền thông giữa các hội nhóm sinh viên trong cùng một trường đại học. Tất cả các tổ chức này đều chia sẻ những mục tiêu na ná nhau, những mĩ từ cao đẹp na ná nhau, và thói quen hoạt động quanh quẩn “sẻ chia” cũng na ná nhau nữa. Vậy sao thế giới không tốt đẹp lên, và không có vui vẻ giữa những tổ chức này? Vì sao những tổ chức này tất yếu tiêu diệt nhau, thay vì nắm tay nhau hòa ca thân ái? Đơn giản thôi: muốn tồn tại sự giao dịch giữa hai cá nhân, mỗi cá nhân phải sản xuất ra một mặt hàng khác biệt. Còn nếu các bên không có gì để chia sẻ, ngoài bản thân cái sự sẻ chia, thì thứ duy nhất họ có thể trao nhau là những vở kịch ngoại giao sến súa.

Quả thực họ đang  trao cho nhau những vở kịch đối ngoại. Nhiều nhà thiện nguyện nói rằng thông qua việc giúp đỡ người khác, họ cũng cười nhiều hơn và thấy vui hơn. Tốt thôi, hãy cùng làm thí nghiệm này. Trước tiên, hãy gạt tính bầy đàn ra khỏi trò chơi bằng cách bắt các nhà thiện nguyện đi “giúp đỡ người khác” một mình, thay vì đi thành bè nhóm. Sau đó, để người đi giúp hiểu biết hơn về người được giúp, hãy buộc nhà thiện nguyện chung sống với mỗi người được giúp suốt ba ngày – lần lượt từng người một, thay vì ồ ạt với cả đám đông. Thêm nữa, cũng phải loại bỏ mọi thứ trò chơi, liên hoan ngu xuẩn, mà những nhóm thiện nguyện vẫn luôn tổ chức một cách vô thức, ra khỏi lịch hoạt động của anh ta. Chỉ khi bằng cách này, nhà thiện nguyện mới không bị xao lãng bởi đám đông, để hoàn toàn tập trung vào việc giúp người và người được giúp. Nhưng như thế, liệu anh ta có còn muốn sẻ chia, có vui, có còn cười nổi? Nếu anh ta không còn cười nổi, thì rõ ràng anh ta không cười vì được giúp đỡ người khác: anh ta cười theo bầy đàn, và cười vì được đeo những mặt nạ yêu thích trước đám đông. Khi bầy đàn bỏ anh ta một mình, chỉ còn hai cá nhân mặt đối mặt, và ba ngày ròng đủ để khiến mọi lớp mặt nạ vỡ tan, niềm vui giả trước kia tắt ngấm.

Gần đây, những thầy chùa và “bậc giác ngộ” chuyên kinh doanh Phật đang ồ ạt quảng bá cho bộ hình mẫu hạnh phúc thứ tư. Bộ hình mẫu này, hình thành từ sự kết hợp những tâm lí bệnh hoạn đã làm khởi phát mẫu “hạnh phúc thiện nguyện” và mẫu “hạnh phúc chim sâu”, thường được gọi tên là “an nhiên”, hay “hạnh phúc nội tại”.

Không khó để nhận ra những người theo đuổi bộ hình mẫu này. Trong các khóa dạy thiền, các “buổi chia sẻ” hoặc các buổi giảng kinh, họ được các “bậc thầy tâm linh” hướng dẫn các phương pháp tập lệch lạc – mạo nhận là thiền hoặc yoga, nhưng có bản chất là thôi miên, tự ám thị theo lối xoa dịu, và tẩy não. Dần dần, họ được dạy nghĩ theo cùng một cách, cười theo cùng một kiểu, và nói quanh quẩn một số câu. Chẳng hạn, họ được dạy rằng mỗi lần những tổn thương trong quá khứ được đặt ra, hãy “cười an nhiên” rồi vượt qua quá khứ bằng cách… quên phứt quá khứ luôn, thay vì hồi tưởng và suy nghĩ để xác định bản chất, nguyên nhân và giải pháp cho các vấn đề tồn đọng từ quá khứ. Họ được dạy rằng mỗi lần đối diện với những mối quan hệ gặp rắc rối trong hiện tại, hãy nở “nụ cười an nhiên” rồi tự ám thi rằng mình và mọi người đều tốt đẹp, mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp, thay vì quan sát và phân tích để xác định cảm xúc thật, mong muốn thật, công dụng thật của mình và của người. Rồi khi phải đối diện với tương lai, họ cũng nở “nụ cười an nhiên” vô não và tự ám thị về happy ending, thay vì dùng cái đầu để nghĩ xem mình thật sự có gì, muốn gì về lâu về dài, và phải vận dụng tài nguyên ra sao để đạt được điều mình muốn. Tóm lại, nguyên tắc cơ bản để đạt được “hạnh phúc nội tại” là liên tục duy trì cái mặt nạ “cười an nhiên”, bằng cách từ chối suy nghĩ, từ chối đối diện và giải quyết vấn đề – những việc thường khiến người ta không cười được. Nói cách khác, ai theo đuổi mẫu “hạnh phúc nội tại”, kẻ đó giống như con đà điểu tự rúc đầu vào cái mặt nạ “nụ cười an nhiên” để trốn tránh sự thật về thế giới và về chính bản thân, trốn tránh việc làm chủ và chịu trách nhiệm về bản thân trong hiện tại, tương lai và quá khứ.

Vài người theo đuổi “hạnh phúc nội tại” sẽ cố rặn “nụ cười an nhiên”, rồi nói rằng những khóa thiền và những buổi giảng kinh thật sự đem lại “đổi thay tích cực” cho cuộc sống của họ. Họ phân trần: chúng khiến họ cười nhiều hơn, khỏe mạnh hơn, yêu đời hơn, lạc quan hơn… Vâng, hiển nhiên rồi. Ta không lạ gì những khóa thiền mà thầy trò đều tử tế như thánh nhân, ai cũng cười suốt như phê cần, và mọi người chia sẻ mọi thứ với nhau như sống trên thiên đường Cộng sản chủ nghĩa. Nhưng đó chỉ là thuốc giảm đau để che đậy vết mưng mủ đang thối rữa ra, là cái mặt nạ cười mà con đà điểu rúc vào để chạy trốn hiện thực. Bên dưới lớp thuốc giảm đau, những vấn đề vẫn ở đó, chỉ bị lãng quên chứ không hề được giải quyết, và ngày một chất chồng lên. Đằng sau lớp mặt nạ, những dục vọng và sự đớn hèn của họ vẫn ở đó, chỉ bị che đậy dưới tầng tầng phấn son tô vẽ, chứ không hề được hiểu, sửa và dùng. Đó là lý do khiến khi khóa thiền khép lại, và người ta buộc phải quay về với cuộc sống bình thường của bản thân, thì lớp mặt nạ thánh nhân nhanh chóng bốc mùi, và các học viên trở lại cáu bẳn, chán chường, vụ lợi, lưu manh như cũ. Vậy nên không ít vị cứ học đi học lại một “khóa thiền”, để đều đặn thoa thuốc giảm đau, để liên tục duy trì cái mặt nạ. Nếu khóa học thật sự mang lại cho họ chút “thay đổi theo chiều hướng tích cực”, lẽ ra họ đã tốt nghiệp, không học lại cùng một lớp nữa, và đem những thay đổi đó vào cuộc sống  cá nhân.

Cũng như mẫu “hạnh phúc thiện nguyện”, mẫu “hạnh phúc nội tại” đặt nền tảng trên chiếc mặt nạ cười. Nhưng trong khi những người theo đuổi “hạnh phúc thiện nguyện” dùng mặt nạ khi giao tiếp với ngoại nhân, thì những người theo đuổi “hạnh phúc nội tại” lại dùng mặt nạ khi giao tiếp với hính bản thân mình trước hết. Ở đây, quá trình cộng hưởng tiếng ồn của bầy đàn không diễn ra trong một cộng đồng, mà diễn ra trong tâm trí cá nhân của người đeo mặt nạ. Ý chí tự chủ và ý thức riêng của người này không còn đó nữa, nó đã bị thay thế bằng một đám đông các mặt nạ hô khẩu hiệu liên tục trò chuyện với nhau, cộng hưởng với nhau. Mỗi lần tâm trí của người này tiếp nhận một mẩu thông tin từ môi trường, hoặc nảy ra một câu hỏi, đám đông mặt nạ lại đồng thanh hô hoán: “Tư duy tích cực!”, “Đơn giản như con trẻ!”, “An nhiên!”, “Phúc lạc!”, “Bình an trong tâm hồn!”… Giữa biển tiếng ồn của đám đông mặt nạ trong nội tâm, mọi mẩu thông tin mà người kia tiếp nhận, mọi câu hỏi mà người kia đặt ra, nếu không chìm nghỉm thì cũng bị bóp méo. Như thế, cái “bình an trong tâm hồn” được rao bán ở đây không phải là kiểu bình an của sự tĩnh lặng, sáng sủa, ngăn nắp và rõ ràng, mà là kiểu bình an não rỗng, xuất hiện khi những lời tự ám thị theo lối xoa dịu tạo nên tình trạng ô nhiễm tiếng ồn khủng khiếp, khiến hoạt động suy nghĩ  bị treo.

Cũng như mẫu “hạnh phúc chim sâu”, mẫu “hạnh phúc nội tại” là một cuộc bán phá giá chuẩn mực. Trong hệ chuẩn mực nguyên bản của Phật giáo cổ xưa, chỉ những linh hồn đã đạt được sự trưởng thành nhờ thám hiểm mọi kiểu thực tại và mọi trạng thái của tâm mới có năng lực tự chủ để nhìn ra sự thật, từ đó đạt đến sự bình an trong tâm trí. Trong khi đó, ở các “khóa thiền” rao bán “an nhiên”, người ta chủ trương tìm “hạnh phúc nội tại” bằng cách chạy trốn khỏi cuộc thám hiểm, để rúc vào duy nhất một kiểu thực tại, một trạng thái của tâm. Đây là kiểu bình an của con ếch trong vũng ao tù, chứ không phải kiểu bình an của vị thuyền trưởng lão làng khi đứng trong cơn bão.

Khi ta chấp nhận xử lý thông tin về các vấn đề mà mình đang đối mặt, thông tin được đưa lên tầng ý thức và trở thành công cụ phục vụ ta. Nhưng khi ta từ chối xử lý thông tin, cố vùi thông tin dưới lớp thuốc giảm đau và những chiếc mặt nạ cười, thông tin sẽ chìm xuống tầng vô thức. Thay vì trở thành công cụ để phục vụ ta, giờ đây, những thông tin bị lãng quên trở thành phương tiện để kẻ khác điều khiển ta, biến ta thành công cụ. Không sớm thì muộn, cơn bão sẽ đến và nuốt chửng con ếch trong ao.

*

Nhưng nếu không chọn “hạnh phúc” làm hạnh phúc đời mình, ta biết chọn gì?

Trước tiên, chọn lòng can đảm. Sau sự ghen tị, nỗi sợ là cội nguồn quan trọng thứ hai của ham muốn hạnh phúc. Viễn cảnh “hạnh phúc” cũng chẳng khác gì một thứ thiên đường sau cái chết, hoặc một happy ending trong các câu chuyện cổ tích để ru ngủ trẻ con. Đó là nơi lịch sử dừng lại, con người và thế giới ngừng đổi thay, mọi thứ hoàn hảo, và các vấn đề không còn. Nhưng ta phải hiểu rằng nơi nào thời gian ngừng trôi, nơi đó là tù ngục. Ai ngừng đổi thay, người đó là người chết. Chẳng có hiện trạng nào hoàn hảo, ngoài trạng thái của những bức tượng thờ vô hồn lạnh căm. Và những vấn đề sẽ luôn hiện ra, chỉ có ta chọn nhìn chúng bằng cặp mắt mù hay cặp mắt sáng.

Ta phải hiểu rằng những người có thể gắn bó với nhau không phải là những kẻ chôn nhau dưới một đáy mồ, mà là những kẻ có thể cùng nhau thay đổi. Nhất thiết đó không phải là những kẻ gặp nhau qua lớp mặt nạ, hoặc ngáng chân nhau để níu kéo nhau

Ta phải hiểu rằng cũng như cỏ cây, cảm xúc thật là để thám hiểm hoặc vun trồng, chỉ cảm xúc giả mới không đổi thay và để sở hữu.

Sau đó, ta chọn tỉnh táo. Trong từng giây phút, ta quan sát để biết mình và người đang thật sự có cảm xúc gì, thật sự muốn gì về lâu về dài, và thật sự có gì để trao đổi với nhau.

Ta chọn giải quyết những vấn đề có thật đang đặt ra cho mình và cho người, thay vì trói chân nhau trong cuộc đua đến một cái đích giả.

Share
Share: