Hiểu bản thânTôi chiêm nghiệmTôi đọc

Sự thật về những sự thật (9): Chán đời

AWEHangmansNoose

Đọc các phần trước: (1) (2) (3) (4) (5) (6)  (7)  (8)


 

Từ ngàn xưa, chán đời là một mối quan tâm lớn của những người tu hành, những nhà cai trị và những sát thủ.

Những người tu hành tin rằng chán đời là một giai đoạn cần thiết, một khâu cần thực hiện, một chặng đường cần phải đi hết để thực hiện một cuộc tự sát và tái sinh trong đời sống tâm trí của bản thân. Qua cuộc tự sát tinh thần hậu chán đời, một con người cũ chết đi và một con người mới sinh ra, một thế giới nội tâm cũ chết đi để thế giới nội tâm mới sinh ra; trong đó cái mới không chối từ và lãng quên cái cũ, mà coi cái cũ không phải như giới hạn của bản thân, mà như những kỉ niệm và những kinh nghiệm.

Đương nhiên, trên chặng đường chán đời, có những nhà tu hành không tái sinh, mà chỉ trở thành một cái xác không nhân tính, không thế giới nội tâm, bị các thế lực tẩy não giật dây cho đi đi lại lại và diễn thuyết.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Những nhà cai trị thông minh đều ít nhiều xem chán đời là một vũ khí nguy hiểm. Họ nhìn các chính khách còn lại và khối quần chúng dưới quyền như những khối năng lượng to lớn, mà hoặc là trợ lực, hoặc là cản trở các nước cờ mà họ sắp đưa ra. Muốn kiểm soát được sức sống của một người, phải kiểm soát được cách nhìn đời của người này. Nên trong hoàn cảnh bình thường, để tận thu sức sống của toàn dân, nhà cai trị phải giữ cho dân yêu đời, và ấn định cho dân một mục đích sống. “Thành đạt”, “hạnh phúc”, “tiền”, “quyền”, “danh”…, đó là những chất gây nghiện mà nhà nhà cai trị sử dụng để giữ dân chúng trong trạng thái yêu đời say sưa, để lao động và duy trì hệ thống hiện hành mà không băn khoăn về nguyên nhân, mục đích và hệ lụy. Về mặt nguyên lí, những danh từ này cũng như cái máng cám giữ con lợn trong chuồng, khiến nó yêu nông trại, và ngăn nó đặt câu hỏi về cái ngày bị làm thịt trong tương lai. Trong khi đó, nếu nảy sinh những thành phần chính trị đe dọa hệ thống, mà xét kĩ thấy không thể tận dụng hoặc cải tạo, nhà cai trị phải tìm mọi cách, từ làm nản chí, thoái chí cho đến rối trí, để đẩy bộ phận này vào trạng thái chán đời. Một nguồn năng lượng không trợ lực ta là một nguồn năng lượng chống lại ta, nên thay vì để nó chống lại ta, hãy buộc nó phải chống lại chính nó.

Đương nhiên, khi hiểu ra luật chơi này, cũng có những nhà cai trị rơi vào chán đời vì tự đặt câu hỏi. Chỉ có một lời lí giải cho hiện tượng này: từ trước đến nay, “nhà cai trị” thê thảm kia vốn cũng chỉ là một con lợn trong chuồng của một thế lực cai trị còn cao hơn nữa. Họ tưởng họ là những ông vua chán ngán vương quốc của mình, nhưng ta biết họ là những con lợn chán cám đang tiến dần đến câu hỏi về lò mổ. Hoặc họ can đảm chết và tái sinh để thật sự trở thành nhà cai trị – ít ra của chính bản thân, hoặc họ chuyển chuồng, hoặc họ trở thành một cái xác biết đi mặc áo tu sĩ.

Những sát thủ có thể còn khó đoán hơn. Không ít nhà cai trị tưởng kẻ ám sát “dưới quyền” là một công cụ ngoan ngoãn mà mình đã cầm chắc trong tay, cho đến khi thấy hắn cầm dao đứng đợi mình trong lò mổ. Bất chấp địa vị công khai và những biểu hiện bề ngoài, trong bề sâu, sát thủ luôn nắm giữ quyền lực của kẻ định đoạt cái chết và hiểu về cái chết. Đẩy con mồi vào thế chán đời, khiến nó dùng sức sống của nó để tự triệt tiêu, luôn là một lựa chọn thông minh để các sát thủ giữ cho mình vừa rảnh tay, vừa tưởng như vô can, và tưởng như trung lập.

Một người quen của chúng tôi từng kể rằng lâu nay, giới giải trí ở nhiều quốc gia đã nằm gọn trong tầm kiểm soát của các thế lực sử dụng bùa chú. Sự suy đồi này bắt đầu lan truyền từ trào lưu săm bùa của các ngôi sao Hollywood, ban đầu vì mục đích cầu tài, cầu danh. Sau đó, là để dùng bùa chú trực tiếp triệt hạ các đối thủ của mình. Một trong những phương thức yêu thích mà các thầy bùa gợi ý cho đám khách hàng ngôi sao là bùa chán đời tự tử. Việc này tưởng khó mà thực ra dễ, vì như mọi con lợn trong nông trại đều bị kiểm soát bởi nồi cám, mọi nhân vật trong giới showbiz đều đã bị kiểm soát bởi các giao ước với hệ thống bùa chú thông qua hình xăm. Việc hệ thống giết một mạng người trả ít tiền cũng dễ như mạng điện cúp một bóng điện. Khi mọi chuyện kết thúc, các ngôi sao thắng cuộc chỉ việc làm từ thiện liên tục để “cân bằng phúc đức” – nhằm tránh cái chết vì quịt nợ một hệ thống ma quỉ, hoặc tránh những rủi ro không đáng như phải xẻo bớt vú vì bệnh ung thư. Hệ thống ma quỉ cần trả công bằng từ thiện là điều tự nhiên: nó vừa cần bành trướng thông qua các món nợ lợi ích mà từ thiện tạo ra, vừa có nhu cầu khoác cho bản thân cái vẻ ngoài nhân hậu và hào phóng.

Các ngôi sao tiếp tục săm bùa, tiếp tục dùng bùa để giết nhau, và tiếp tục tưởng mình là kẻ cai trị đám đông ngu xuẩn. Trong khi đó, hệ thống bùa chú tiếp tục tồn tại trong bóng tối, để âm thầm kiểm soát mọi giận hờn, tị nạnh trong tâm trí đang thúc đẩy đám khách hàng mua bùa giết nhau. Ai thật sự cai trị, kẻ vô danh làm thuê hay kẻ nổi tiếng trả tiền?

Ta biết rằng cho tới khi bị đưa vào lò mổ để làm vật tế thần cho các hình săm, đám ngôi sao chưa chán mê hoặc đám đông, và đám đông cũng chưa chán bị mê hoặc.

*

Làm thế nào để chán đời?

Chán đời không khó. Ai cũng có thể chán đời, miễn là không đặt câu hỏi “Làm thế nào để chán đời?”, không chủ động chán đời một cách có phương pháp, có kỉ luật, và không nhìn toàn bộ việc này bằng mắt hài hước và óc hoài nghi.

Để biết làm thế nào để chán đời, trước tiên, phải biết khi nào đời ta tuyên ngôn rằng nó đang chán nó.

Khi ta nói “Tôi chán!”, hẳn nhiên đời ta chưa tự chán nó một cách trọn vẹn. Đây là một lời than thở, và than thở vốn nhằm mục đích xả bớt năng lượng bức bối trong lò hơi nội tâm. Trong trường hợp này, năng lượng được chủ động xả ra để tránh gây hại, thay vì được dùng để phá cái lò. Mặt khác, khi ta than thở, hẳn nhiên ta có động lực tìm kiếm một người nghe; và hi vọng tìm thấy người nghe, để hiểu và chia sẻ với mình, cho thấy vẫn còn vài thành tố nào đó trong đời – dù là người nghe hay việc được lắng nghe – mà ta còn chưa chán. Nếu toàn bộ đời ta đã tự chán nó, nó sẽ không có động lực tiếp tục nó, nên “hi vọng” sẽ không tồn tại. Câu “Tôi chán!” thể hiện sự thèm khát thay đổi, trong khi thèm khát là một động lực sống cơ bản nhất, và thay đổi là một hướng để tiếp diễn đời ta.

Khi ta nói “Tôi đã quá mệt mỏi!”, không phải các thành tố trong đời ta đang tự chán mình. “Chán”: có đủ năng lượng để tiếp diễn, nhưng không tìm thấy lí do để tiếp diễn. “Mệt mỏi”: cạn kiệt năng lượng. Người mệt mỏi chưa hội đủ điều kiện để sống tiếp, chứ đừng nói là có tư cách đạt ngưỡng chán đời – đỉnh cao của đời sống cũ, và mầm mống của một đời sống mới cao hơn.

Khi ta nói “Tôi không muốn tiếp tục!”, ta vẫn chưa có đủ bằng chứng để khẳng định rằng đời ta đang tự chán chính mình. Ta mới chỉ có đủ bằng chứng để khẳng định rằng phần đã biết của đời ta đang sợ hãi những gì có khả năng xảy ra trong phần chưa biết của nó. Khi phần đã biết sợ hãi phần chưa biết, và không chấp nhận phần chưa biết, thì ta chỉ có thể khẳng định rằng đời ta chưa trọn vẹn, đời chưa tự hiểu đời và mình chưa tự hiểu mình, trong khi ta không có tư cách chán một thứ mà ta chưa nhìn thấy trọn vẹn và chưa hiểu. Hơn nữa, việc ta “không muốn tiếp tục” cho thấy ta đang có động lực bám chặt vào quá khứ, và động lực này lớn tới mức ngăn ta thuận theo dòng chảy thời gian. Nói cách khác, vẫn có vài thành tố trong đời để ta bám víu khi ra quyết định, và sự gắn bó của ta với những thành tố đó cho thấy ta vẫn chưa hoàn toàn chán đời. Hơn nữa, trong trường hợp này, rõ ràng ta vẫn chưa chán nỗi sợ, trong khi đoạn đời hiện nay của ta đang lấy nỗi sợ làm động lực chính.

Ta cũng không thể nhận rằng mình đang chán đời khi ta nói “Tôi không muốn những chuyện này cứ lặp đi lặp lại!”. Cũng như trong trường hợp phía trên, lần này ta vẫn chưa chán sợ hãi, trong khi đời ta đang vận hành bằng sự sợ hãi. Về bản chất, trong trường hợp này, cái ta chán là những ngoại cảnh tạo nên tình trạng lặp đi lặp lại, tức những rào cản đang ngăn ta khai triển hết toàn bộ năng lượng của đời ta để phục vụ ý thích của ta. Ta không hề chán đời, ta chỉ đang yêu đời một cách bế tắc.

Ta chỉ tạm được coi là chán đời khi tự hỏi:

“Tất cả những chuyện này là để làm gì?”

Khi câu hỏi này vang lên, đời ta bắt đầu có khả năng tự chán nó. Bởi vì toàn bộ dữ liệu mà nó bao hàm không khơi dậy nỗi sợ hoặc ham muốn về những gì đã có trong nó, hoặc có thể thêm vào nó trong tương lai. Dựa trên những dòng mà cuốn sách đời đã có, đọc lại sách là không cần, và viết tiếp cuốn sách có vẻ cung không cần. Thay vào đó, toàn bộ dữ liệu chỉ đưa đến một câu hỏi về lí do mà nó được viết ra, bất kể cái gì có thể được viết thêm, bất kể nó có hay không có kết thúc.

*

Nếu bằng câu hỏi “Tất cả những chuyện này là để làm gì?”, sự chán đời được tuyên ngôn, thì nếu muốn chán đời, ta phải vạch được một lộ trình đưa ta đến câu hỏi như vậy.

Để vạch ra lộ trình đó, phải đi sâu phân tích những gì ẩn chứa sau từng thành phần của câu.

Trước tiên, hãy bắt đầu với cụm “Tất cả những chuyện này…”. Để sử dụng cụm từ này, tâm trí ta phải hoạt động dựa trên ba giả định.

Giả định một: ta nắm chắc, và hiểu một cách trung thực, toàn bộ dữ liệu về những gì đã xảy ra trong đời ta.

Giả định hai: dựa trên số dữ liệu vừa kể, ta có khả năng khái quát hóa để rút ra toàn bộ những định luật về cách thức vận hành của thế giới. Vì những định luật này vẫn chi phối phần đời chưa xảy ra của ta, sẽ không có gì đáng bất ngờ hoặc kì vọng.

Giả định ba: khi ta đánh giá toàn bộ cuộc đời của ta, bao gồm cả phần đã xảy ra lẫn chưa xảy ra, chỉ có các định luật là đáng đưa ra để xem xét. Các chi tiết nhỏ, bất kể buồn vui, chỉ có ý nghĩa như là tình tiết của các câu chuyện chạy theo định luật. Còn nếu với ta, các chi tiết đều có ý nghĩa riêng, độc lập với định luật, thì hiển nhiên quá trình khái quát hóa của giả định hai đã không thật sự diễn ra, khiến ta không rút ra được các định luật để kết nối toàn bộ dữ liệu với nhau, và không có cách nào để ta dùng từ “tất cả” trong câu hỏi. Thêm nữa, nếu với ta, các chi tiết đều có ý nghĩa riêng, thì tính ngẫu nhiên, không bị chi phối bởi định luật của các ý nghĩa này sẽ khiến sự chán không thể xảy ra, khi mà không có định luật – thứ mô tả sự lặp đi lặp lại.

Để cho phép tâm trí mình sử dụng những giả định đầu tiên, hoặc ta phải đủ cần mẫn để xây dựng một hệ thống thu thập, sắp xếp, lưu trữ và xử lí dữ liệu tuyệt vời – kiểu như một siêu nhật kí cho phép người sử dụng biết mọi thứ về bản thân, hoặc ta phải đủ can đảm để chấp nhận những sai số khủng khiếp.

Để cho phép tâm trí mình sử dụng giả định thứ hai, ta phải dựa thêm trên hai giả định. Một: mọi sự trên thế giới đều vận hành dựa trên các qui luật, không tồn tại sự ngẫu nhiên. Hai: những dữ liệu mà ta thu thập được về đời mình chiếm tỉ lệ đủ lớn trong tổng số dữ liệu của lịch sử thế giới, tới mức giúp ta rút ra mọi qui luật mà dựa trên đó thế giới đang vận hành. Trong số hai giả định con cần thiết ở đây, giả định thứ nhất đồng nghĩa với việc tương lai không tồn tại, biết quá khứ là biết tương lai, vì những điều chưa xảy ra thực ra đã được những điều đã xảy ra sắp đặt theo qui luật từ trong quá khứ.

Để cho phép tâm trí mình sử dụng giả định thứ ba, ta phải dựa trên một giả định khác, rằng một khi đã nắm vững được các định luật chi phối sự vận hành của thế gian, ta sẽ không còn coi các chi tiết cảm xúc phát sinh trong quá trình vận hành này là điều quan trọng. Cần lưu ý rằng nếu giả định này đúng, thì sự chán sẽ không xảy ra. Chán là một cảm xúc, và theo giả định, thì khi ta nắm được qui luật của chán, việc chán đã không còn cần thiết với ta nữa rồi. Ta sẽ chỉ còn là một cỗ máy vận hành theo các qui luật của tự nhiên, và không đặt câu hỏi “Tất cả chuyện này là để làm gì?” – phần vì ta đã tìm được lời giải trọn vẹn nơi các qui luật tự nhiên,  phần vì mọi câu hỏi về mục đích đều bắt nguồn từ cảm xúc, thứ mà giờ đây ta không có.

Chỉ khi giả định thứ ba được chứng minh là đúng, câu hỏi “Tất cả chuyện này là để làm gì?” mới hoàn toàn chính đáng về mặt logic. Nhưng nếu giả định thứ ba được chứng minh là đúng, thì câu hỏi đó lại không thể được đặt ra. Nói cách khác, dường như câu hỏi tự nó mâu thuẫn ngay từ đầu.

Giờ hãy chuyển sang vế “…để làm gì?”, vế thể hiện ý muốn xác định mục đích. Khi ta đã đặt câu hỏi như thế, chỉ có thể có hai trường hợp. Một: “Tất cả chuyện này…” có một mục đích chung, mà ta đang cố vắt óc tìm ra. Hai: “Tất cả chuyện này…” không hề có mục đích chung nào hết.

Trong trường hợp vạn sự trên đời có một mục đích chung, ta không cần thiết phải đặt câu hỏi. Vì nếu thế, dù ta có làm gì trong đời đi nữa, việc đó cũng đã góp phần thực hiện mục đích chung. Dù trong cùng một thời khắc, ta làm hai việc hoàn toàn đối nghịch, cả hai việc đó cũng đều góp phần thực hiện mục đích chung. Vì đã có mục đích chung bao trùm mọi sự kiện, và gánh trách nhiệm cho mọi tác nhân của các sự kiện đó rồi, sẽ không còn sự mệt mỏi, lo nghĩ nào cần thiết phải đặt ra nữa.

Trong trường hợp vạn sự trên đời không có một mục đích chung nào hết, câu hỏi “Tất cả mọi chuyện là để làm gì?” là một câu hỏi vô nghĩa, và hiển nhiên không nên đặt ra.

Tóm lại, nếu tự hỏi làm thế nào để chán đời, rồi chán đời một cách có phương pháp và có kỉ luật, thì ngay ở bước đầu tiên, ta đã nhận ra rằng sự chán đời có tính vô lí. Vô lí, nhưng không vô dụng. Vì chỉ nhờ nó, ta mới có động lực để dùng ánh mắt thành thực mà tra lại toàn bộ dữ liệu về cuộc đời của bản thân. Bằng việc đi sâu vào nó, ta biết tâm trí mình đang vận hành dựa trên nhiều giả định cảm tính như thế nào, và đang bị chi phối bởi những động lực nào. Chán đời giống như một cái kén bướm chật chội, chật chội vì được dựng nên bởi lối tư duy cũ. Bằng cách thu mình vào nó, để chỉ còn lại ta với ta, ta quan sát được toàn bộ bản thân mình, để biết rằng mình bé nhỏ và còn có thể lớn dậy. Bằng cảm nhận chật chội trong đó, ta biết rằng tư duy chỉ là một lớp vỏ, thế giới của ta là thế giới trong lớp vỏ tự tạo, và lớp vỏ cũ đã chật tới mức phải thay. Bằng thời gian trong đó, ta cũng nhận ra phần nào của mình không phải là lớp vỏ nhất thời, thứ phải thường xuyên rũ bỏ, mà là hạt nhân của sự tồn tại giúp ta lớn lên.

Cái còn lại là sự chuyển động.

Trước tiên, cần nhớ rằng khi ta chán đời, không phải lực chuyển động trong ta tắt lịm. Tính vô lí của sự chán đời cho thấy chán đời không phải là bản chất bên trong, nó chỉ là lớp vỏ bề mặt che đi lõi ngầm của những mâu thuẫn. Mâu thuẫn vật lí không tồn tại trong một vật thể đứng yên: các va chạm chỉ tồn tại trong những bầu khí quyển, thủy quyển, sinh quyển chuyển động liên tục. Mâu thuẫn tâm lí không tồn tại nơi vật vô tri: nó chỉ tồn tại nơi những sinh vật có hoạt động trí não. Để ai đó thật sự rơi vào tình trạng chán đời, những chuyển động tâm trí bên trong người này phải rất mạnh. Vấn đề nằm ở chỗ khi lượng thông tin tham gia lưu thông dần tích tụ, các dòng thông tin chuyển động trong tâm trí có thể va chạm tới mức làm tắc nghẽn nhau. Làm thế nào để giải quyết vấn đề này? Không phải xóa bớt thông tin tham gia lưu thông, như vậy là tẩy não. Không phải ngăn cấm sự lưu thông, như vậy là tự kiểm duyệt. Thay vào đó, việc cần làm là qui hoạch lại đường xá tư duy.

Trong cuộc lột xác tâm trí này, nếu ta có đủ can đảm để đối diện với các mâu thuẫn bên trong mình, gần tới mức nhận ra chúng không giết ta, mà đều bắt nguồn từ sức sống của ta, ta sẽ dần tìm được cách gỡ nút thắt giao thông, để dòng thông tin này lớn lên và ta sống tiếp. Còn nếu ta không có đủ can đảm, ta sẽ chết trong đống thông tin mà ta tưởng là nhiều, nhưng thực ra chỉ là hỗn độn. Chẳng thể đổ lỗi cho ai: dòng thông tin không lưu chuyển là dòng thông tin chết.

*

Phụ lục: Làm thế nào để thôi miên gây chán đời?

1. Can thiệp vào dữ liệu

  •  Xóa những kí ức tươi vui.
  • Tô đậm và lặp đi lặp lại những kí ức tiêu cực.

2. Can thiệp vào thể xác và cảm xúc

  • Làm giảm giờ ngủ.
  • Làm giảm lượng thời gian mà đối tượng dành riêng cho bản thân.
  • Sử dụng hiệu ứng vật thuốc, với các cơn hưng cảm và vô cảm ngắn liên tục xen kẽ nhau.
  • Phá hoại khả năng giao cảm giữa cá nhân với cá nhân.
  • Triệt tiêu lạc thú.
  • Triệt tiêu óc hài hước.

3. Can thiệp vào hệ thống tư duy

  • Phá hoại khả năng phân loại và sắp xếp ngăn nắp dữ liệu.
  • Phá hoại hệ thống sắp xếp trình tự thời gian.
  • Phá hoại hệ thống sắp xếp thứ bậc ưu tiên.
  • Khuyến khích việc chấp nhận các giả định một cách vô thức bằng cách cài đặt các hệ tư tưởng, hệ niềm tin, hoặc thông qua việc đẩy mạnh thói quen xác quyết.

4. Can thiệp vào hệ thống hình mẫu

  • Hình mẫu cá nhân: ca ngợi mẫu người quá tải thông tin vì không biết cách xử lí thông tin theo trình tự, và cho người như vậy là sâu sắc.
  • Hình mẫu quan hệ: áp cho đối tượng một nhãn quan mới, theo đó những người xung quanh hiện diện như những mối đe dọa, thay vì thuần túy là tài nguyên thiên nhiên.
Share
Share: