ArticlesNghệ thuậtVăn chương

“Thơ duyên” – Mối tơ duyên vương vấn

22972296253_ca5e6a1d82_b

Xuân Diệu vẫn thường được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”. Có rất nhiều người, dù ít đọc thơ, hoặc chẳng có nhiều hứng thú với thơ, vẫn biết đến những bài thơ tình “vồ vập” của Xuân Diệu. Đó là Biển, Yêu, Xa cách hay Tương tư chiều. Trong những bài thơ ấy, tình yêu của các nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách trực tiếp, rõ ràng, yêu thì nói là yêu, mà nhớ thì cũng không ngại ngần nhận rằng đang nhớ. Chính bởi những câu thơ như “Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!” hay “Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em”, Xuân Diệu đã gây ấn tượng rằng ông là một thi sĩ luôn hết mình trong tình yêu, dù đó là tình đơn phương hay mối tình bắt nguồn từ cả hai phía. Dù vậy, bài thơ mà tôi thích nhất của Xuân Diệu lại là một bài thơ khác – một bài thơ chẳng có lấy được một hình ảnh đầu gối tay ấp nào – Thơ duyên.

Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên,

Cây me ríu rít cặp chim chuyền.

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.

Con đường nho nhỏ gió xiêu xiêu,

Lả lả cành hoang nắng trở chiều.

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,

Lần đầu rung động nỗi thương yêu.

Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững đững chẳng theo gần.

Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần.

Mây biếc về đâu bay gấp gấp,

Con cò trên ruộng cánh phân vân.

Chim nghe trời rộng giang thêm cánh,

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.

Ai hay tuy lặng bước thu êm,

Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm.

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,

Lòng anh thôi đã cưới lòng em.

Thơ duyên là câu chuyện tình diễn ra trong mùa thu, cũng là bài thơ Xuân Diệu viết riêng cho mùa thu của ông. Nói mùa thu của Xuân Diệu là bởi, khác với mọi người, ông không coi mùa thu là mùa sầu, mùa nhớ, mùa biệt ly chia cách, mà coi mùa thu là mùa yêu. “Thu không phải là mùa sầu. Ấy chính là mùa yêu, mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau… Xuân , người ta vì ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi” (Thu – Trường ca – Xuân Diệu). Và Thơ duyên chính là một bài thơ viết về mùa yêu như thế.

Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu họa lại trước mắt người đọc một không khí háo hức, tươi vui của “Chiều mộng”.

Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên,

Cây me ríu rít cặp chim chuyền.

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.

“Chiều mộng” vừa là một từ chỉ thời gian, lại vừa có thể xem là một từ chỉ không gian. Một buổi chiều không vương chút gì tàn úa của thơ ca truyền thống mà như cánh cổng đưa người ta vào cõi mộng: Thế giới của tình yêu, của duyên. Khổ thơ bốn câu mà chứa đến ba cặp hình ảnh, sự vật sóng đôi: Chiều mộng – Nhánh duyên, Cây me – Cặp chim chuyền, Trời xanh ngọc – Muôn lá. Ba cặp sóng đôi này đều có một điểm chung: Đều là những sự vật, hiện tượng xuất hiện trong tự nhiên. Trên thực tế, chúng ta không thể xác định được liệu khung cảnh thiên nhiên đó là khung cảnh thật, hay là khung cảnh đang diễn ra trong tâm tưởng của chàng thi sĩ đa tình, bởi khó ai có thể định nghĩa chính xác thế nào là “chiều mộng”, “nhánh duyên”, “trời xanh ngọc”,… Chữ dùng đáng chú ý nhất của Xuân Diệu là “hòa thơ”. Chẳng cần biết đâu là thực, đâu là ảo, chỉ biết rằng sự ghép cặp ấy đã tạo nên một cảm giác hòa hợp của tự nhiên, đồng thời cũng đưa đến những cảm xúc háo hức, vui vẻ, nhịp nhàng khi thu đến: “Thu đến – Nơi nơi động tiếng huyền”. Dường như vào thu, sợi dây liên kết giữa từng sự vật trên thế gian bắt đầu không ngần ngại mà hiển lộ, cùng hòa chung vào bản giao hưởng bất tận của khoảng thời gian đẹp đẽ mà Xuân Diệu trân trọng gán cho cái tên “mùa yêu”.

Sang khổ thơ thứ hai, từ “chiều mộng” đã dần chuyển thành một buổi chiều cụ thể, khi mà không chỉ vạn vật trong tự nhiên bộc lộ mối liên kết, mà tình cảm con người cũng chớm bắt mối tương giao.

Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,

Lả lả cành hoang nắng trở chiều.

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn,

Lần đầu rung động nỗi thương yêu.

Ở đây, không gian được miêu tả cụ thể hơn với “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu”. “Con đường nhỏ” dường như đã trở thành một địa điểm quen thuộc với những người yêu nhau. Trên con đường đó, mọi rung động nhỏ nhất của cảm xúc bị phát hiện, bất kể người ta có cố gắng giấu chúng bằng cách nào đi nữa. Đọc đoạn thơ trên, bỗng dưng tôi lại nhớ đến bốn câu thơ của Phạm Thiên Thư:

Con đường dài triền miên

Hàng cây xanh gỗ trắng

Ta đi về thầm lặng

Đèo mặt trời trên yên

(Nẻo đường hoa)

Xuân Diệu viết Thơ duyên năm mười sáu tuổi, khi vẫn còn là một cậu học sinh trung học. Tình cảm được thể hiện trong thơ của Xuân Diệu chắc chắn khác với tình cảm được viết trong thơ Phạm Thiên Thư, song phải thừa nhận rằng, trên “con đường” đầy ảo mộng đó, biết bao người đã phải lòng mà đến với nhau. Tình cảm của nhân vật trữ tình trong Thơ duyên bộc lộ rõ hơn qua không gian, thời gian: “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu/ Lả lả cành hoang nắng trở chiều” ấy. Đọc hai câu thơ, người ta có cảm giác hình như vẫn chưa có gì chắc chắn về mối tình đang chớm nở kia. “Con đường nhỏ”, “Gió xiêu xiêu”, “Lả lả cành hoang”, “Nắng trở chiều” dù đứng cạnh, tuy nhịp nhàng đấy mà chẳng có sự liên kết nào với nhau. Và hẳn là đã có một quãng thời gian kể từ lúc ấy cho đến khi “Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn/ Lần đầu rung động nỗi thương yêu”. Thông thường, chúng ta nghĩ rằng bản thân rung động trước đối phương vì một cử chỉ đáng yêu, một giọng nói ấm áp, hay một nụ cười nơi khóe miệng,… Thơ duyên khác biệt ở chỗ, chẳng có một cử chỉ nào được nhắc đến, không xuất hiện lấy một nụ cười hay một mái tóc xanh, chỉ có “lòng ta” và “ý bạn” – một sợi dây liên kết vô hình đã âm thầm nối kết hai con người với nhau. Tất cả những cử chỉ, hành động, lời nói kia chỉ là biểu hiện bên ngoài, còn “lòng ta” và “ý bạn” lại tồn tại ở bên trong. Còn gì hạnh phúc hơn khi “lòng ta” nghe thấu “ý bạn”? Sẽ chẳng có hiểu nhầm, chẳng có những đòi hỏi phải thốt lên thành lời cái cảm xúc đã rõ mồn một như vậy nữa. Những cử chỉ bên ngoài có thể đánh lừa mắt chúng ta, nhưng tâm ý, tình ý ẩn sâu bên trong mỗi người thì không bao giờ.

Đến với khổ thơ thứ ba, tác giả đi sâu vào miêu tả hai nhân vật chính. Trái ngược với “lòng ta nghe ý bạn”, họ vẫn thể hiện ra bên ngoài như hai người xa lạ:

Em bước điềm nhiên không vướng chân,

Anh đi lững đững chẳng theo gần.

Vô tâm – nhưng giữa bài thơ dịu,

Anh với em như một cặp vần.

Hai câu thơ đầu của khổ thứ ba đã thành công trong việc cắt đứt mối liên hệ mà khổ thơ trước đó đã xây dựng. “Em” và “Anh” đứng đầu hai dòng thơ, tưởng gần mà lại muôn trùng xa cách. Hai con người đã hiểu thấu tâm ý của nhau, nhưng người thì ngại ngùng, kẻ lại ngần ngừ không chắc chắn. “Em”, với tất cả niềm kiêu hãnh, vẫn tỏ ra điềm nhiên như không hề biết đến có một kẻ si tình đang lẽo đẽo theo sau. “Anh”, chỉ cần tiến thêm một bước là có thể chạm vào người thương, nhưng lại “lững đững chẳng theo gần”. Giữa hai người ấy không chỉ là khoảng cách kẻ trước người sau trên “con đường nhỏ nhỏ”, mà còn chất chứa cả tính ngoan cố, cứng đầu của tuổi trẻ. Tuy vậy, nhân vật trữ tình vẫn tin rằng “Anh với em như một cặp vần”. Đây là một hình ảnh so sánh rất thú vị. Vần vốn là thành phần chính trong tiếng. Riêng với thơ, vần là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên âm điệu và nhịp điệu của bài thơ. Và để bắt vần, nhất định phải có hai tiếng. Nói “anh với em” như “một cặp vần” đã thu hẹp khoảng cách (hay biến đổi tính chất của khoảng cách?) giữa hai người. Từ việc không có sự liên kết nào trong “Em bước điềm nhiên không vướng chân/ Anh đi lững đững chẳng theo gần”, cho đến việc “gieo” với nhau thành “một cặp vần” trong “bài thơ dịu”, chúng ta nhận thấy được nhân vật trữ tình đang hy vọng: Dù có thể chúng ta đang còn xa cách, nhưng (có thể) khoảng cách đó sẽ đem lại sự hòa hợp tự nhiên trong mối quan hệ này.

Tuy nhiên, với sự xuất hiện của những hình ảnh “cành hoang”, “nắng trở chiều”, “vô tâm”, cảm xúc có sự mâu thuẫn, vừa lạc quan tin tưởng có thể cùng nhau ở trong một “bài thơ dịu”, lại vừa bi quan lo lắng, hoài nghi, sợ rằng “anh” và “em” sẽ chỉ là hai thực thể cô độc vĩnh viễn bị chia cách bởi hai dòng thơ.

Nếu ba khổ đầu, không khí có vẻ tươi vui, rộn ràng thì đến hai khổ sau, cảm xúc và không khí trong thơ lại diễn ra khác hẳn. Có một sự chuyển biến từ không gian chiều mộng tràn ngập âm thanh, màu sắc, mộng lứa đôi đến không gian của một buổi chiều lạnh lẽo:

Mây biếc về đâu bay gấp gấp,

Con cò trên ruộng cánh phân vân.

Chim nghe trời rộng giang thêm cánh,

Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.

Sau hai khổ phác họa bức tranh mối tương giao giữa “Anh” và “Em”, khổ thứ tư quay lại miêu tả cảnh thiên nhiên buổi chiều tà. Khác với khổ đầu, các đối tượng được nhắc đến trong khổ thơ này đều ở trong trạng thái đơn chiếc, một mình, cũng thiếu đi sự giao hòa nhịp nhàng của các đối tượng như trong khổ một. Tất cả “Mây biếc”, “Con cò”, “Chim giang thêm cánh”, “Hoa”, “Chiều”, “Sương” dù đặt cạnh nhau, dù nhìn bên ngoài tưởng như có mối liên hệ, thực chất lại không hề có sự gắn kết nào với nhau. Mọi thứ đều rơi vào trạng thái vô định, không biết đi đâu về đâu. Mây “bay gấp gấp”, nhưng bay về đâu? Cánh cò phân vân, liệu rằng nên bay hay đậu? Chú chim nhỏ bé cố giang thêm cánh mà vẫn lọt thỏm giữa bầu trời rộng lớn. Không gian, thời gian được mở rộng nhưng không còn giữ được sự ấm áp, tươi vui như trước, thay vào đó là cảm giác lạnh lẽo của “Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần”. Hoàng hôn tắt, buổi chiều thơ mộng với “trời xanh ngọc” bị xâm chiếm bởi bóng tối, bởi sương giăng; hay là mối lo lắng không thể giao cảm, đồng thời cảm nhận sâu sắc được toàn bộ nỗi cô đơn, lẻ loi của một thực thể và niềm bi quan của nhân vật trữ tình đang phủ lạnh cả trời chiều?

Không gian trùng xuống, cảm xúc cũng trùng xuống, Thơ duyên liệu có thật là một bài thơ ý vị, thơ ngây, tràn ngập niềm vui và tình yêu như nhiều người thường nghĩ? Xuyên suốt bài thơ là khát khao được thấu hiểu, được khẳng định. Dù “lòng ta” có “nghe ý bạn”, thì ở đâu đó tận sâu trong tâm hồn, dường như nhân vật trữ tình vẫn còn chút hoài nghi…

Ai hay tuy lặng bước thu êm,

Tuy chẳng băng nhân gạ tỏ niềm.

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy,

Lòng anh thôi đã cưới lòng em.

Trong tương quan ba khổ đầu, hai khổ cuối của bài Thơ duyên được đặt trong thế tĩnh lặng vô cùng. Âm thanh tắt ngấm, cũng chẳng cần người mai mối hay dẫn lời hẹn ước tỏ bày, chỉ còn lại hành động và lời tự thú của tâm ý. Cái “chiều hôm ngơ ngẩn” ấy (mà chúng ta chẳng biết là buổi chiều nào trong vô số những buổi chiều “anh” đi sau “em”, hay buổi chiều mà “anh” nhận ra vạn vật và chính “anh” vẫn đang cô đơn) đã khiến “anh” phải buông lời thú nhận “Lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Bỏ qua những sợ hãi về sự không chắc chắn, vô định, cũng như bỏ qua mối hoài nghi lo lắng nếu “em” không đồng ý, cuối cùng cũng đến ngày “anh” thú nhận “lòng ta”. Ở đây, chúng ta nhìn thấy có một sự phát triển rõ rệt từ buổi “Lần đầu rung động nỗi thương yêu”, đến “Anh với em như một cặp vần”, kết thúc ở “Lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Nếu mới đầu, tình cảm chớm nở bằng hình ảnh phải lòng giữa hai người, rồi chuyển sang giai đoạn ngại ngùng, hoài nghi, thì cũng đến lúc “cưới”. Không phải là “anh cưới em” mà là “lòng anh cưới lòng em”, tức là không phải cái thể xác vật chất bên ngoài tổ chức cỗ cưới linh đình, mà là hai linh hồn sau bao khó khăn cách trở cuối cùng cũng tìm được nhau, thực hiện cái nghi lễ thiêng liêng của sự giao hòa trọn vẹn trong tâm hồn. Hoặc giả như ta có thể hiểu rằng, hai con người ấy ở ngoài đời thực đã chẳng thể đến với nhau, nên chỉ còn cách bám vào mối dây liên kết linh hồn để tiếp tục duy trì tình cảm yêu thương?

Xuân Diệu không hề lên tiếng giải thích nên chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được nội dung thực sự của Thơ duyên, nhưng riêng đối với tôi, Thơ duyên là một bài thơ buồn đến nao lòng. Còn gì đau lòng hơn khi “lòng anh thôi đã cưới lòng em”, khi linh hồn đã giao hòa mà thể xác đôi bên lại chia cách ngàn trùng?

Suy cho cùng, Thơ duyên vẫn không phải một bài thơ tình. Nó là sợi dây liên kết ngầm ẩn giữa người này với người kia, là bài thơ kết tinh mối tình nảy nở giữa hai linh hồn, là bài thơ mà cứ mỗi lần đến “mùa yêu”, bên tai tôi lại văng vẳng giọng đọc của chàng thi sĩ.

“Thu không phải là mùa sầu. Ấy chính là mùa yêu, mùa yêu nhau bằng linh hồn, mùa những linh hồn yêu mến nhau. Tiếng nói thành ra nhỏ hơn, cổ họng hơi chùng giây, âm nhạc của lời tình đàn theo một bậc thấp. Sự ngông cuồng bớt rất nhiều, người ta ngoan hơn, để mười hay hai mươi ngón tay đan với nhau, và lắng nghe sắc trời xanh xuống ôm lấy đứa đôi như một tấm áo che sương. Ấy là những giờ thân mật dạo qua hai hàng cây; ấy là chiếc thuyền trễ trên hồ tàn sen, bị cảm buổi chiều tím.

Trời muốn lạnh, nên người ta cần nhau hơn. Và người nào chỉ có một thân, thì cần một người khác. Xuân, người ta vì ấm mà cần tình.

Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cũng rất cần đôi.

Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau, và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy”

(Thu – Trường ca – Xuân Diệu)

 

Share
Share: