Tôi đọcTriết học - Tôn giáo

Tín ngưỡng thần bí của Hy Lạp cổ đại (1)

28bc30b842439779dce3af17cae095d5

Bài viết sau đây được trích từ cuốn “The Story of Civilization II: The Life of Greece” của  tác giả Will Durant, do Simon & Schuster phát hành năm 1966. (Tr.188-92)

Trong suốt thời kỳ Khai sáng, yếu tố mạnh mẽ nhất của tôn giáo Hy Lạp chính là sự huyền bí. Sự huyền bí đó thể hiện qua các buổi lễ hiến tế bí mật – Nơi mà tại đây, những biểu tượng tôn giáo linh thiêng được mặc khải, các nghi lễ tượng trưng được thực hiện, và chỉ có những người đồng cốt được tham dự. Thông thường, các nghi thức được tiến hành nhằm tái hiện lại, hoặc tưởng nhớ đến những đau khổ, cái chết và sự phục sinh của một vị thần nào đó. Qua đó bày tỏ niềm tin vào phép màu nhiệm và sự bất tử.

 

Nghi lễ Eleusinian Mysteries:

Là nghi lễ được tổ chức hàng năm tại Eleusis, Hy Lạp cổ đại để tỏ lòng sùng bái đến Demeter. Nghi lễ này bắt đầu bằng một cuộc rước thần, hát múa, nghi thức tắm và ăn chay để rửa tội. Sau đó những người đồng cốt cùng nhau tưởng nhớ về Demeter bằng cách ăn thức ăn, ăn bánh và uống nước thánh. Ngoài những nghi thức này còn có nghi thức nào khác hay không, chúng tôi không hề hay biết. Bởi lẽ mọi bí mật đều đã được giữ kín trong suốt thời kỳ cổ đại, dưới hình phạt của cái chết cho những kẻ nào không phận sự mà trót tọc mạch và nắm được một chút bí mật thiêng liêng.Chúng tôi chỉ biết rằng buổi lễ là một vở kịch mang tính biểu tượng, và nó đã góp phần trong việc tạo ra các vở kịch Dionysian. Rất có thể những tác phẩm như “The rape of Persephone”, “The sorrowful wandering of Demeter”, “The return of the Maiden to earth”, và “The revelation of agriculture to Attica”,… cũng bắt nguồn từ buổi lễ này.

Buổi lễ tái hiện lại cuộc hôn nhân giữa một linh mục đại diện cho vị thần Zeus (hoặc những người khác, chẳng hạn như Triptolemus) với một nữ tu sĩ mạo danh Demeter. Các lễ cưới tượng trưng cho truyền thuyết này, ngay sau khi xuất hiện đã được rất nhiều người quan tâm, và vì vậy nó lan truyền với một tốc độ kỳ diệu. “Đức Mẹ đã sinh ra một cậu bé thánh thiện”; một cái quai đựng đầy ngô được trưng bày để tượng trưng cho thành quả lao động của Demeter – phần thưởng mà những cánh đồng ban cho bà. Sau đó, những kẻ thờ phụng lần theo ánh đuốc mờ vào các đường hầm tối (tượng trưng cho Hades), để tìm đến căn buồng ngập tràn ánh sáng rực rỡ ở phía trên – nơi đại diện cho sự xuất hiện của phước lành, và cũng là nơi dành cho những kẻ được ban phước. Cho đến lúc này, những kẻ thờ phụng kia mới được chiêm ngưỡng, một cách tôn vinh và long trọng, các thánh vật, di vật, hoặc các biểu tượng linh thiêng từng được che giấu kĩ càng trước đó. Trong giây phút mặc khải ngây ngất này, họ cảm nhận được sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và các linh hồn; họ đã được giải thoát khỏi những ảo tưởng cá nhân, và biết được sự an yên dưới chân vị thần. Sau đó, trong thời Peisistratus, truyền thuyết về Dionysus được thêu dệt thêm nhiều điều bí ẩn. Nhưng dù là dưới hình thức nào, tư tưởng cơ bản của những bí ẩn trên vẫn giống nhau: Giống như mỗi hạt giống tái sinh, những người chết có thể đã làm mới cuộc sống của họ. Cuộc sống đó không chỉ đơn thuần là sự tồn tại trong bóng tối ảm đạm của Hades (Iliad và Odyssey), mà còn có thể là một cuộc sống hạnh phúc và an yên.

 

Tôn giáo Orphism

Là một hệ thống tín ngưỡng và thực hành được truyền vào Hy Lạp, từ Ai Cập, Thrace, và Thessaly trong khoảng giữa những năm 700 và 600 TCN. Orphism bắt nguồn từ những câu chuyện về Orpheus, một người Thrace có tài năng xuất chúng trong âm nhạc và văn hóa. Ông thường được người ta biết đến với vai trò một nhạc sĩ, đôi khi là một linh mục của Dionysus. Ông chơi đàn lia rất giỏi, và hát hay đến nỗi những người nghe ông ta đàn hát gần như đã bắt đầu tôn vinh ông như một vị thần; động vật hoang dã bị thuần hóa trước giọng hát, cây cỏ hay gỗ đá cũng không thể đứng yên một chỗ trước tiếng đàn hạc của ông. Orpheus kết hôn với Eurydice, và gần như phát điên khi cái chết cướp đi người vợ yêu quý của mình. Orpheus tìm đường xuống địa phủ, với cây đàn Lia và tài âm nhạc, ông đã thuyết phục được Persephone cho phép Eurydice về lại dương gian, với một điều kiện: cho đến khi cả hai lên đến được dương thế, Orpheus phải giữ im lặng và không được ngoái lại nhìn người vợ đi đằng sau. Thoạt đầu Orpheus cũng làm theo lời dặn. Nhưng, khi họ đã đi được một thời gian lâu mà Orpheus không nghe thấy tiếng bước chân và hơi thở của nàng Eurydice, ông đánh liều quay đầu lại. Và rồi hình ảnh nàng Eurydice lùi thật nhanh về phía địa phủ rồi biến mất. Sau đó, khi trở lại dương thế, Orpheus lạnh nhạt từ chối mọi người phụ nữ muốn gần gũi ông. Những người phụ nữ Thrace rất phẫn nộ trước thái độ đó của Orpheus, họ đã xé xác ông thành từng mảnh trong lễ hội rượu nho của thần Dionyus. Năm 520 TCN, một nhân vật đã lấy cảm hứng từ những bài thánh ca mà Orpheus để lại, và hình thành cơ sở của một giáo phái thần bí liên quan đến giáo phái của Dionysus nhưng cao siêu hơn về giáo lý, nghi lễ, và ảnh hưởng đạo đức.

Các tín ngưỡng cơ bản của Orphism khẳng định về những khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của những người tôn thờ Dionyus. Và tin rằng sự phục sinh của tất cả mọi người trong tương lai là có thưởng có phạt. Kể từ khi các thần Titan – những kẻ đã giết Dionysus – được cho là tổ tiên của con người, đây được coi là một vết nhơ về tội ác nguyên thủy tràn ngập nhân loại. Và sự trừng phạt dành cho tội ác này là việc linh hồn bị bọc lại trong cơ thể giống như bị nhốt trong một nhà tù hay một ngôi mộ vậy. Nhưng vì các Titan đã ăn thịt Dionysus, nên mỗi con người đều nuôi dưỡng trong tâm hồn mình một chút cao cả của thần thánh và một chút thấp hèn của Titan.

Theo thần học Orphism, sau khi chết linh hồn đi xuống Hades, và phải đối mặt với phán quyết của các vị thần nơi địa ngục. Do đó, các bài thánh ca và nghi lễ của Orphism sẽ hướng dẫn tín đồ những bước để chuẩn bị cho cuộc kiểm tra này. Nếu thần phán là có tội thì sẽ phải nhận hình phạt nặng nề. Có nhiều dạng quan niệm về hình phạt này. Một dạng cho rằng hình phạt này là vĩnh cửu, và truyền lại cho các học thuyết thần bí sau này các khái niệm về địa ngục. Một dạng quan niệm khác được hình thành thông qua các ý tưởng về luân hồi: Các linh hồn sẽ được tái sinh một lần nữa, vào một cuộc sống hạnh phúc hoặc bất hạnh hơn, tùy thuộc vào phán quyết của các vị thần rằng tội lỗi mà linh hồn đó mang nặng hay là nhẹ. Và chiếc bánh xe luân hồi cứ thế quay vòng cho đến khi linh hồn hoàn toàn trở nên thanh khiết thì sẽ được nhận vào các đảo của Blest. Một biến thể khác thì hy vọng rằng hình phạt ở trong Hades có thể kết thúc nếu tội lỗi của một con người đã được đền trả bởi chính bản thân họ từ trước đó, hoặc do bạn bè đền trả sau khi người đó chết. Chính từ quan niệm này mà một học thuyết về luyện ngục và ân xá được hình thành.

Tôn giáo Orphism đã phát triển theo nhiều hướng khác nhau, để lại sức ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài: Có lẽ trong chính cách ăn mặc và luân lý của Pythagoras cũng có chút gì đó Orphism; Plato, mặc dù đã nhiều lần bác bỏ Orphism, nhưng vẫn chấp nhận xu hướng Thanh giáo với hy vọng bất tử; Một phần về phiếm thần và khổ hạnh của Stoicism có thể có nguồn gốc từ Orphism. Neo-Platonists của Alexandria cũng sở hữu một bộ sưu tập lớn các tác phẩm Orphism,… Những ý tưởng cơ bản và các nghi lễ của tôn giáo Orphism vẫn còn tồn tại và hưng thịnh trong thế giới của chúng ta cho đến ngày nay.

Yến Nhi dịch

Share
Share: