Bài lưu trữNgười đọc sáchQuan điểm

Tôi đã mạo hiểm dịch Oscar Wilde và sự đúng – sai trong dịch thuật

Nhân việc gần đây có một vài ý kiến than phiền về bản dịch Bức hoạ Dorian Gray (Oscar Wilde), tôi, Nguyễn Tuấn Linh, với vai trò dịch giả cuốn sách, thấy rằng một số độc giả đã có vài hiểu lầm ở cả nguyên tác và dịch phẩm, nên bài viết này để: thứ nhất nhằm trình bày quan điểm dịch của mình, và thứ hai nhằm giải nghĩa cho rõ những hiểu lầm ấy.

I. QUAN ĐIỂM DỊCH

Đầu tiên, về quan điểm dịch, tôi quan niệm nguyên tác như một toà lâu đài xây bằng viên gạch Anh ngữ, còn dịch phẩm là toà lâu đài dựng lại trung thành kiến trúc cũ bằng viên gạch Việt ngữ. Dịch giả là người dựng lại nó, bất chấp những khác biệt giữa Anh ngữ và Việt ngữ, mục tiêu của y là dựng lại giống nhất có thể với kiến trúc nguyên bản để khán giả thưởng thức.

Tìm mua sách tại đây: http://www.hangcao.info/san-pham/buc-hoa-dorian-gray-oscar-wilde/

Về lối hành văn của Oscar Wilde, ông mang lối viết xưa cũ và cầu kì. Những đặc trưng dễ thấy trong văn của ông như: tính biền ngẫu; mệnh đề quan hệ (MĐQH) thường xuyên xen giữa câu; câu bị động kết hợp các MĐQH gối đầu lên nhau tạo thành câu văn dài; một danh từ đi kèm rất nhiều tính từ bổ nghĩa.

Theo nguyên tắc của mình, tôi chủ trương dịch phẩm phải truyền tải được hết những đặc trưng này, thay vì phá một câu ra diễn đạt lại thành 2-3 câu nhỏ như các bản dịch cũ đã làm. Chỉ trừ khi giữ nguyên mà quá khó hiểu trong tiếng Việt (TV) thì tôi mới phải làm điều đó, mà trường hợp này rất hãn hữu.

1. Tính biền ngẫu

Thuật ngữ này gốc tiếng Anh (TA) là couplet: thường dùng trong thơ, khi có hai câu thơ liên tiếp đăng đối nhau về vần điệu và/hoặc số âm tiết. Đây là thủ pháp độc đáo được các thi sĩ xưa ưa chuộng, như John Dryden ở thế kỉ 17, Alexander Pope ở thế kỉ 18, và Oscar Wilde ở thế kỉ 19 (ví dụ bài thơ Flower or Love của ông).

Còn biền ngẫu là hình thức văn chương cổ, lấy sự đăng đối làm nguyên tắc cơ bản. Các đặc điểm của biền ngẫu bao gồm: đối ngôn ngữ, đối số tiếng, có vần điệu, dùng điển cố, và từ ngữ bóng bẩy. Do có nét tương đồng về khái niệm, tôi đã dịch couplet là biền ngẫu.

Wilde không chỉ dùng biền ngẫu ở thơ, ông đưa nó vào văn của mình rất nhiều, không khó để tìm trong Bức hoạ Dorian Gray những câu đối theo vế hoặc theo từng cụm từ. Ví dụ:

Khi đàn bà tái hôn, bởi chưng thị căm uất đời chồng đầu. Khi đàn ông tái hôn, bởi chưng y si mê đời vợ đầu. Đàn bà thử vận may; đàn ông liều vận rủi. 

(When a woman marries again, it is because she detested her first husband. When a man marries again, it is because he adored his first wife. Women try their luck; men risk theirs.)

Một câu biền ngẫu tuyệt đẹp, đăng đối đến hoàn hảo. Đàn ông – đàn bà (man – woman); đời vợ đầu – đời chồng đầu (first wife – first husband); thử vận may – liều vận rủi (try their luck – risk theirs).

Đây là câu dịch mà tôi đã cố gắng để xử lí và khá hài lòng với cách xử lí của mình.

Tôi chọn bạn bè vì vẻ tốt mã, người quen vì tốt nết, và kẻ thù vì tốt trí. 

(I choose my friends for their good looks, my acquaintances for their good characters, and my enemies for their good intellects.)

Cũng là một câu biền ngẫu tuyệt đẹp khác. Bạn bè – người quen – kẻ thù (friends – acquaintances – enemies); tốt mã – tốt nết – tốt trí (good looks – good characters – good intellects).

Nhưng bên cạnh biền ngẫu, câu này có cả phép điệp từ: tốt (good), nên nhiệm vụ của dịch giả lúc này phải xử lí thêm một yếu tố nữa. Các bản dịch cũ đã không làm điều này, dịch giả xưa chọn cách dịch thoáng: đẹp mã – danh tiếng tốt – thông minh (Bức chân dung của Dorian Gray, bản dịch 1990); đẹp trai – biết nói đùa – bộ óc siêu việt (Chân dung Dorian Gray, bản dịch 2008). Nhưng tôi thì có, nên phương án được tôi chọn là: tốt mã – tốt nết – tốt trí. Mặc dù từ tốt tríkhông được dùng nhiều và có phần xa lạ, nhưng về ngữ pháp TV thì tuyệt đối đảm bảo: Trí: khả năng nhận thức, suy xét,… của con ngườiTốt: có chất lượng cao (Từ điển TV của GS Hoàng Phê). Tốt trí cũng cùng cách ghép như với tốt gỗ, tốt nước sơn v.v… vậy.

Tôi cũng hài lòng với cách xử lí này của mình.

Ngày nay người đời nắm rõ giá cả mọi thứ, và giá trị của chẳng thứ gì. 

(Nowadays people know the price of everything, and the value of nothing.)

Trường hợp này ta có cặp đăng đối: Mọi thứ – chẳng thứ gì (everything – nothing). Sử dụng chẳng thứ gì trong câu này vừa xa lạ và cũng vừa không đăng đối số âm tiết, nhưng sau khi thử nhiều cách, tôi thấy phương án này là tốt nhất trong khả năng mình.

Một phương án khác: “Ngày nay người đời nắm rõ giá cả mọi thứ, và chẳng nắm rõ giá trị thứ gì.” thì câu trên trở nên dài dòng bởi phải nhắc lại động từ nắm rõ (know) ở vế sau, đồng thời phải biến vế sau thành phủ định chẳng nắm rõ. Phương án này vừa dài dòng lại vừa bị lỗi lặp động từ rườm rà nên tôi không chọn.

Đây là trường hợp tôi cho là mình xử lí chưa tốt, mà chỉ tốt nhất trong khả năng mình. Bởi dịch văn của văn hào Oscar Wilde thì yếu tố đúng thôi chưa đủ, phải làm sao cho đẹp nữa.

2. Mệnh đề quan hệ thường xuyên xen giữa câu

Một câu rất đơn giản:

Anh bạn trẻ bí ẩn của cậu, với cái tên cậu chưa bao giờ nói tôi hay, với bức hoạ thật sự mê hoặc tôi, không bao giờ tư duy. 

(Your mysterious young friend, whose name you have never told me, but whose picture really fascinates me, never thinks.)

Phiên bản ngắn gọn không có MĐQH của câu này là: Anh bạn trẻ bí ẩn của cậu không bao giờ tư duy. Các MĐQH [người] với cái tên cậu chưa bao giờ nói tôi hay, [người] với bức hoạ thật sự mê hoặc tôi xen giữa để tả thêm về anh bạn trẻ bí ẩn mà thôi. Việc xen MĐQH vào giữa có thể gây xa lạ, có thể không với người đọc TV, nhưng đây là một đặc trưng của Wilde mà không thể bỏ, bởi nếu bỏ đi thì phải bỏ tất cả vài trăm câu trong truyện, lúc ấy thì không còn giữ được văn phong của Wilde nữa.

3. Câu bị động kết hợp các mệnh đề quan hệ gối đầu lên nhau tạo thành câu văn dài

Trên cái bàn gỗ sơn tiêu con con đứng đó một bức tượng Clodion nho nhỏ, và nằm cạnh đấy một bản cuốn Truyện trăm chuyện, được đóng riêng cho Margaret xứ Valois bởi bàn tay Clovis Eve, còn đính một bông cúc bằng vàng do chính Nữ Hoàng chọn làm biểu trưng của mình. 

(On a tiny satinwood table stood a statuette by Clodion, and beside it lay a copy of ‘Les Cent Nouvelles’, bound for Margaret of Valois by Clovis Eve, and powdered with the gilt daisies that Queen had selected for her device.)

Có lẽ người đọc sẽ thấy cụm từ đứng đó một bức tượng Clodion và nằm cạnh đấy một bản cuốn Truyện trăm chuyện là xa lạ khi đảo động từ lên trước danh từ. Nhưng vấn đề là MĐQH được đóng… đứng sát đấy nhằm chú giải thêm về cuốn truyện, đây chính là điểm mà tôi nói là “gối đầu lên nhau nối thành câu văn dài”.

Nếu đảo động từ xuống thành và một bản cuốn Truyện trăm chuyện nằm cạnh đấy, được đóng riêng cho Margaret xứ Valois bởi bàn tay Clovis Eve sẽ làm đứt gãy mối liên kết giữa câu văn và MĐQH, và tiếp tục làm đứt gãy vế thứ hai còn đính một bông cúc bằng vàng… tiếp sau. Lúc này người đọc có thể hiểu nhầm đối tượng của MĐQH là bức tượng Clodion, thành ra bức tượng được đóng riêng cho… và bức tượng còn đính một bông cúc bằng vàng…

4. Một danh từ đi kèm rất nhiều tính từ bổ nghĩa

Ngài Henry mân mê bộ râu nâu có chóp của mình, và gõ vào mũi chiếc giày ống bóng loáng bằng cây ba-toong gỗ mun gắn núm tua. 

(Lord Henry stroked his pointed brown beard and tapped the toe of his patent-leather boot with a tasselled ebony cane.)

Có một độc giả nói câu này xa lạ với TV mà chưa giải thích gì thêm, bản thân tôi thấy câu này bình thường. Nhưng tôi đoán nếu có xa lạ chắc do các danh từ đi kèm nhiều tính từ quá. Bộ râu | nâu | có chóp là 1 danh từ và 2 tính từ. Cây ba-toong | gỗ mun | gắn núm tua cũng là 1 danh từ và 2 tính từ. Nhưng nguyên tác cũng vậy: Pointed | brown | beard và Tasselled | ebony | cane, đều là 1 danh từ và 2 tính từ.

Hiển nhiên tôi không có quyền lược bớt tính từ để cho dễ hiểu trong TV. Một nghệ phẩm là nguyên hình nguyên khối, một dịch phẩm có nhiệm vụ tái tạo lại nghệ phẩm ở một ngôn ngữ khác một cách trung thành. Nếu độc giả không hiểu thì cố gắng hiểu hoặc không bao giờ hiểu, dịch giả không có quyền sửa đổi để chiều lòng độc giả.

5. Thay đổi vì dịch sát gây quá khó hiểu trong tiếng Việt

Nghệ thuật không tạo ảnh hưởng lên hành động. Nó thủ tiêu khao khát hành động. Nó thinh lặng đến trác tuyệt. 

(Art has no influence upon action. It annihilates the desire to act. It is superbly sterile.)

Ta có từ sterile trong nguyên tác nghĩa là không có khả năng sinh sản (Not able to produce children or young. – Từ điển Oxford). Các phương án tôi từng chọn là vô sinh và bất thụ. Nhưng xét cả hai đều không ổn, cuối cùng nhóm làm sách Book Hunter thống nhất chọn thinh lặng với dòng suy tưởng rằng nếu nghệ thuật thủ tiêu khao khát hành động, thì cuối cùng chỉ còn lại sự thinh lặng.

Phương án này chưa phải là tốt, chỉ là tốt nhất trong khả năng có thể.

Và trên đây là thảy điều tôi muốn nói về quan điểm dịch của mình. Tôi không khẳng định dịch phẩm của mình hoàn hảo 100%, hiếm dịch phẩm nào được như vậy. Tôi cũng chẳng đinh ninh rằng mình hiểu Oscar Wilde 100%, mà sự thật là chẳng ai trên đời này hiểu ông thật sự viết gì ngoài chính bản thân ông, ông viết quá đa nghĩa và bóng bẩy.

II. NHỮNG THAN PHIỀN VỀ DỊCH PHẨM

Sau đây là những ý kiến dịch giả nhận được, tôi xin cảm ơn và phúc đáp như sau:

1. Mùi hương sực nức hoa hồng?

Có ý kiến nói rằng câu đầu tiên tác phẩm dịch sai ngữ pháp TV khi định ngữ sực nức đứng trước danh từ hoa hồng. Nhưng ta hãy xét tới câu đầy đủ như sau:

Phòng hoạ ngập trong mùi hương sực nức hoa hồng, và khi cơn gió thoảng mùa hạ khuấy động giữa tán cây ngoài vườn, nó đưa vào qua cửa phòng để ngỏ mùi ngào ngạt hoa tử đinh hương, hay phớt dịu hơn là hương thơm bụi hồng gai. 

(The studio was filled with the rich odour of roses, and when the light summer wind stirred amidst the trees of the garden there came through the open door the heavy scent of the lilac, or the more delicate perfume of the pink-flowering thorn.)

Thứ nhất, hiểu đúng thì mùi hương sực nức hoa hồng (rich odour of roses) là cả một cụm danh từ, đã được lược bỏ giới từ của (of). Trường hợp lược giới từ rất phổ biến ở TV như: Quê hương tôi, bàn tay ta v.v… Nên câu này không sai ngữ pháp TV, cũng không phải cấu trúc xa lạ trong TV.

Thứ hai, hãy chú ý đến từ hơn (more) trong phớt dịu hơn (more delicate), nó là chỉ dấu cho thấy cường độ mùi hương đang giảm dần, hoa hồng và tử đinh hương thì sực nức và ngào ngạt, nhưng bụi hồng gai thì không mạnh mẽ bằng hai loài ấy, mà nó phớt dịu hơn. Lưu ý phớt dịu ở đây không phải để tả bản thân hương bụi hồng gai, nó là để so sánh với hương hai loài hoa trước đó mà thôi. Nó phớt dịu hơn khi so với chúng, chứ mùi hương nó không phải là phớt dịu.

Thứ ba, hãy chú ý đến cấu trúc biền ngẫu  (Sực nức – ngào ngạt – phớt dịu hơn; Hoa hồng – tử đinh hương – bụi hồng gai), Wilde đặt mùi hương trước tên hoa, nên nếu giữ phải giữ cả ba loài hoa, nếu đảo thì cũng phải cả ba. Nhưng vì điểm nhấn ở câu này là nói về mùi hương, cường độ mùi hương, và sự giảm dần cường độ, nên tôi quyết định đặt mùi hương trước hoa để nhấn vào đó, theo đúng tinh thần nguyên tác mà tôi cảm thụ được. Và đồng thời cũng đảm bảo ngữ pháp TV.

Như vậy, chỉ là độc giả hiểu lầm sực nức là định ngữ, trong khi sự thật nó là cụm danh từ trong TV. Và vì không đọc hết cả câu văn nên không nhận ra điểm nhấn của cả câu là về mùi hương, cũng như tính biền ngẫu lại một lần nữa xuất hiện.

2. Bụi hồng gai?

… Hay phớt dịu hơn là hương thơm bụi hồng gai. 

(… Or the more delicate perfume of the pink-flowering thorn.)

Có ý kiến cho rằng bụi hồng gai (pink-flowering thorn) là dịch sai, đúng ra chỉ là một cây hồng nào đó. Dường như ý kiến này xuất phát từ sự hiểu nhầm ở dịch phẩm tiếng Việt rồi dẫn đến hiểu nhầm cả nguyên tác tiếng Anh.

Trong từ pink-flowering thorn thì danh từ chính là thorn: bụi cây hoặc cây có gai (A thorny bush, shrub, or tree. – Từ điển Oxford), còn pink-flowering là từ ghép của riêng Wilde (ông dùng rất nhiều từ ghép mình tự tạo trong tác phẩm như honey-sweet, fiery-coloured), và theo ngữ pháp TA thì pink-flowering nghĩa là trổ hoa màu hồng.

Vậy pink-flowering thorn nghĩa là bụi cây hoặc cây có gai trổ hoa màu hồng. Sự thật là không có loài cây nào mang tên pink-flowering thorn, đây là một cái tên Wilde tự đặt.

Tất nhiên cách dịch bụi cây hoặc cây có gai trổ hoa màu hồng không thể được chọn, ở đây dịch giả muốn truyền tải hai yếu tố bụi cây gai và hoa hồng đến độc giả, nên bụi hồng gai là phương án vừa đúng vừa giữ được tính văn chương.

Ngoài ra một số tư liệu tham chiếu thorn đến hawthorn (táo gai), tuy nhiên nếu Wilde muốn chỉ thẳng đến cây táo gai ông có thể dùng luôn từ “hawthorn” thay vì dùng cách gọi ý nhị “pink-flowering thorn”, và ai mà biết được ông có ẩn ý khi dùng cách gọi ý nhị ấy, có thật ông chỉ đến táo gai không, hay ông còn có ý gì khác. Vậy nên dịch giả đã quyết định xử lí theo cách khách quan đó là dựa trên ngữ pháp TA mà thôi, bởi Wilde cũng là bậc thầy sử dụng TA một cách chuẩn chỉnh, điều này sẽ tránh cho việc dịch bằng thành kiến chủ quan cá nhân. Dịch bằng thành kiến dễ dẫn đến sai lầm bởi không ai có thể hiểu ý Wilde nói gì 100% cả.

Vậy là độc giả đã hiểu nhầm ở cả bản gốc TA và bản dịch TV.

3. Qui hàng; Nảy nở tình yêu trong kín đáo?

Khi tôi thích ai đó hết mực tôi không bao giờ nói tên họ cho bất cứ ai. Giống như qui hàng một phần của họ. Tôi nảy nở tình yêu trong kín đáo. 

(When I like people immensely, I never tell their names to any one. It is like surrendering a part of them. I have grown to love secrecy.)

Có ý kiến cho rằng dịch giả dịch sai hai câu Giống như qui hàng một phần của họ. (It is like surrendering a part of them.) và Tôi nảy nở tình yêu trong kín đáo. (I have grown to love secrecy.)

Câu thứ nhất Giống như qui hàng một phần của họ. (It is like surrendering a part of them.) từ surrendering ở đây vừa có thể hiểu là [sự] giao nộp vừa có thể hiểu là [sự] qui hàng. Nhưng dịch giả đang theo mạch suy tư của tác phẩm, thì người nói câu trên (anh hoạ sĩ Basil Hallward) đã và đang yêu họ (tức Dorian Gray). Và Basil luôn tự nhận với người bạn Henry rằng anh ta rất bị Dorian chế ngự, và yếu tố qui hàng trước Dorian chính là đây. Và trong câu nói của Basil anh chỉ say sưa nói về mình và người yêu, như một kẻ đang yêu chỉ thấy trên thế giới này còn lại mỗi hai người họ, nên yếu tố giao nộp cho người thứ ba là không hợp văn cảnh, dù về hiểu vẫn có thể đúng.

Câu thứ hai Tôi nảy nở tình yêu trong kín đáo. (I have grown to love secrecy.) quả thật dịch giả chọn phương án dịch thoát ý, nhưng vẫn bảo toàn lượng thông tin trong câu. Trong câu này ta cần lưu ý nhất đến từ kín đáo, vì ngay sau đó Basil có nói rằng chính nhờ [sự] kín đáo mà cuộc sống này bớt buồn tẻ. Và mục đích của dịch giả ở câu này nhằm truyền đạt yếu tố tình yêu và kín đáo đến độc giả. Nếu độc giả đọc mà vẫn hiểu anh Basil yêu chàng Dorian và anh Basil yêu một cách kín đáo chẳng để Dorian biết, thì đã coi như dịch giả truyền tải được ý đồ mình, vậy là đã thành công.

Và đó là tất thảy ý kiến tôi nhận được cho đến nay. Vài ý kiến là hiểu lầm, một ý kiến là hiểu đúng nhưng vì văn Oscar Wilde quá đa nghĩa nên độc giả không trùng hướng cảm thụ với dịch giả. Dầu vậy như đã nói bên trên, The Picture of Dorian Gray là tác phẩm khó bậc nhất trong văn học Anh, Oscar Wilde thì viết đa nghĩa dẫn đến mỗi người hiểu một ý, nên khó có thể chiều lòng 100% độc giả hoặc truyền tải 100% ẩn ý của Wilde.

Lời cuối cùng, dịch giả xin cảm ơn tất thảy những ý kiến gửi về, tôi đều ghi nhận và sẽ cùng với nhóm làm sách Book Hunter suy xét để có thể tạo ra một dịch phẩm tốt hơn nữa trong lần tái bản tới. Rất mong được các độc giả gần xa gửi ý kiến về thêm.

Nguyễn Tuấn Linh 

24/10/2018

Share
Share: