Chưa phân loại

Tổng kết chương trình Idea Hunting năm 2013

308605_10150317216152477_363665110_n

Idea Hunting là một chuỗi chương trình do Book Hunter Club tổ chức với nội dung diễn thuyết  thể hiện ý tưởng, mổ xẻ các ý tưởng và tác động của chúng tới xã hội. Mục đích của Idea Hunting là giới thiệu các ý tưởng, các trào lưu đến với giới trẻ; bên cạnh đó khuyến khích tinh thần học tập và nghiên cứu nghiêm túc trong giới trẻ.

Ra mắt vào tháng 4.2013, đến nay Book Hunter Club đã thực hiện được 12 buổi Idea Hunting, trong đó có 11 buổi do các thành viên tự tìm hiểu và trình bày, 1 buổi do chuyên gia trình bày.

Sau đây là điểm lại và tổng kết các nội dung của chuỗi sự kiện Idea Hunting trong năm 2013:

1. Review sách “Trí tuệ giả tạo – Internet đã làm gì chúng ta”

Người trình bày:  Nup Hero (chief)

Nội dung trình bày và thảo luận: Con người thường coi công cụ là vật vô tri, đánh giá thấp ảnh hưởng của công cụ lên cách tư duy và hành động của chúng ta. Cách suy nghĩ đó thật sai lầm. Internet đang dần làm biến mất một kiểu tâm trí cũ “bình thản, tập trung, tuyến tính và lỗi thời” vốn đã tồn tại 500 năm từ thời Gutenberg để sang một kiểu tâm trí mới “nhanh hơn, nhiều hơn, tốt hơn”.

Socrates đã từng nói : khi nào con người ghi chép lại suy nghĩ của mình, họ sẽ không cần dùng nhiều đến bộ nhớ của mình nữa. Con người bắt đầu “gợi lại tư duy không phải đến từ bên trong họ, mà từ những nguồn bên ngoài”. Tính trí thông minh, ký ức, cảm xúc; vốn là những thứ thuộc về con người, làm nên con người đang ngày càng được đưa ra bên ngoài, lưu trữ trên những tấm silicon vô tri. Liệu điều này có tốt dành cho tư duy, có tạo nên một con người có cuộc sống trọn vẹn và hạnh phúc hay không?

Con người ngày càng hình thành một mối gắn kết chặt chẽ với các công cụ của mình. Chúng ta vẫn luôn coi các thành tựu công nghệ, các công cụ là phần mở rộng của loài người; nhưng điều ngược lại cũng đúng, chúng ta cũng là phần mở rộng của máy móc. Đồng hồ là một ví dụ. Chúng ta luôn có một chiếc đồng hồ sinh học trong bản thân của mình, nhưng từ khi có đồng cơ cơ học, chúng ta ít để tâm, ít chú ý đến chiếc đồng hồ sinh học của mình mà có xu hướng răm rắp nghe theo chiếc đồng hồ cơ học : giờ này đi ngủ, giờ này đi ăn, giờ này làm việc…

2. Review sách “Nghệ thuật và vật lý” – Một tiến trình tương tác thay đổi tư duy của văn minh phương Tây

Người trình bày: Hà Thủy Nguyên (chief)

Nội dung trình bày và thảo luận: Có một sự tương đồng của Vật lý và Nghệ thuật về mặt Không gian – Thời gian – Ánh sáng. Mỗi khi một nhà khoa học nghi ngờ về thực tại và tìm được cách lập luận hoặc minh chứng cho điều họ suy nghĩ về thực tại, thì nghệ sĩ trước đó nhiều năm đã có nhiều tác phẩm thể hiện ý tưởng về điều đó. Có lẽ vì vậy mà tác giả chủ yếu viết về nghệ thuật thị giác – một loại hình nghệ thuật gần gũi nhất với việc “nhìn” thế giới. Khi cái nhìn về thế giới thay đổi thì cách nghĩ của cả thế giới sẽ thay đổi theo: Từ thần quyền đến tuyến tính, từ tuyến tính đến độc tôn Kito giáo, và từ Kito giáo lại quay lại tuyến tính, và đến bây giờ chúng ta đang bàn với nhau về phi tuyến, và về không gian cong.

Cuốn sách nói về sự tương phản của não phải và não trái, Dionysus và Apollo… lần lượt thay nhau thống trị con người. Nhưng rõ ràng, với việc thay đổi cách nhìn thế giới trước thông qua nghệ thuật như hội họa, âm nhạc và văn chương đã tạo ra tiền đề cho các cuộc cách mạng về tư duy trên thế giới.

Mặc dù trước tuyết tương đối rộng của Einstein, các họa sĩ đã tiên cảm được nhiều điều và đi trước khoa học, nhưng sau đó, khoa học phát triển mạnh mẽ hơn rất nhiều và đã bỏ rơi nghệ thuật. Nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật thị giác chỉ còn là sự mô phỏng của các học thuyết khoa học mới.

3. Văn học giả tưởng – Một tiến trình đi tìm thực tại khác

Người trình bày: Hà Thủy Nguyên (chief)

Nội dung trình bày và thảo luận:  Văn học giả tưởng là thể loại tác phẩm văn học mà trong đó tác giả thể hiện sự lý giải về bản chất của thế giới, thực tại và con người thông qua hệ thống biểu tượng của riêng mình hoặc đi xa hơn, họ đưa ra những giả thuyết về tương lai. Điều này khiến các nhà văn giả tưởng gần gũi với các triết gia siêu hình. Thế giới được  mô tả trong các tác phẩm này không đơn thuần là sự tưởng tượng, mà: hoặc là được hình tượng hóa, hoặc là họ thiết kế nên một thế giới của riêng mình như một gợi ý cho tương lai.

Một lịch sử về cách thức con người đi tìm thực tại khác được trình bày từ thời kỳ của Thần thoại (myth) đến Huyền thoại (legend), sau đó là lịch sử của chuyện Khoa học viễn tưởng bắt đầu từ thời Shakespeare, cho đến tiểu thuyết huyền ảo (fantasy) và tiểu thuyết kỳ ảo (mystic).

Khi nhân loại đã có sự hiểu biết về thực tại, khi chúng ta chấp nhận thế giới siêu nhiên với một niềm tin chắc chắn dựa trên các minh chứng về khoa học, vậy thì những điều huyền bí có còn dọa dẫm được, những thế giới kỳ diệu liệu còn có gây được sự tò mò và thích thú? Như vậy, văn học giả tưởng sẽ phải có một hướng đi hoàn toàn mới. Trong khi điện ảnh, với những bộ phim khoa học viễn tưởng như “Matrix”, “Avatar”, “Inception” đã chạm tới lý thuyết toàn ảnh thì văn học giả tưởng vẫn đang mơ hồ với cảm hứng xưa cũ. Cần một sự xích lại gần, đến mức sát nhập khoa học viễn tưởng và viễn tưởng thần thoại để lý giải và mô tả một vũ trụ toàn ảnh. Đó mới thực sự là bước tiến lớn. Và sau đó, biết đâu, nguồn cảm hứng mới của văn học giả tưởng lại là xây dựng một mô hình Utopia kiểu mới và tiếp tục hành trình mà khoa học đến giờ vẫn chưa giải quyết được: Chúng ta sinh ra từ đâu? Vũ trụ này khởi nguồn như thế nào? Liệu có chăng một Đấng Tối Cao bao trùm toàn vũ trụ? Tuy nhiên, dự đoán vẫn chỉ là dự đoán, bởi để có thể viết những tác phẩm lớn lao như vậy đòi hỏi ở nguời viết một trí não rất lớn với sự hiểu biết thông thái đặc biệt, và cũng đòi hởi ở người đọc một tri thức sâu sắc, rộng mở.

4. Review sách: “Wrong – Why expert keep failing us”

Người trình bày: Nup Hero (chief)

Nội dung và thảo luận: Trong cuốn sách mới nhất “Wrong: Why Experts Keep Failing Us — and How to Know When Not to Trust Them” của mình David Freedman đã bắt đầu bằng một loạt những thống kê đáng giật mình : đến 2/3 những bài báo khoa học được đăng trên những tạp chí y khoa hàng đầu thế giới đã bị bác bỏ chỉ sau vài năm được công bố; đến 90% kiến thức y khoa mà bác sĩ đang sử dụng là sai (dù sai hoàn toàn hay một phần). Rằng mỗi năm Hoa Kỳ bỏ ra đến 95 tỷ $ tiền cho việc nghiên cứu y học, nhưng tuổi thọ dân chúng Mỹ chỉ nhích chút xíu so với năm 1978; còn chưa kể đến việc tỷ lệ chết do hút thuốc lá hiện tại thấp hơn năm 1978 nhiều. Nhưng đó chẳng phải là vấn đề riêng của ngành y khoa, mà là vấn đề chung của các chuyên gia rất nhiều ngành khác : từ nhà khoa học, kinh tế học, quản trị doanh nghiệp, phân tích tài chính, tư vấn tình cảm…

Cuốn sách cũng chỉ ra rất nhiều nguyên nhân của việc rất nhiều bài báo khoa học, công trình nghiên cứu, xuất hiện trên những tạp chí chuyên ngành uy tín hàng đầu thế giới nhưng chứa đầy lỗi; từ những lỗi phổ biến như cố ý bỏ qua những công trình, số liệu có kết quả trái ngược với giả thuyết của mình; hay dùng những phương pháp đo đạc sai lầm đến những việc nghiêm trọng hơn như cố ý chỉnh sửa hay làm giả số liệu vì những mục đích cá nhân hay chính trị.

Và các nhà báo cùng truyền thông đại chúng chỉ làm tình hình trở nên tồi tệ hơn. Vốn không có nhiều chuyên môn trong các lĩnh vực khoa học, nhưng các nhà báo lại rất nhanh nhạy trong việc “tìm kiếm”, phát hiện ra các công bố dễ gây chú ý trong công chúng. Và họ ưa chuộng các cách sử dụng ngôn từ một cách đơn giản thái quá, hay diễn đạt hoàn toàn theo ý của họ nhằm dễ dàng được người đọc chú ý hơn là những phát biểu khoa học mang tính nửa vời. Những cái tít với những lời khuyên chắc nịch, ngắn gọn rất dễ gây được sự chú ý của người đọc; thì phần lớn lại là những bài có tỷ lệ sai cao nhất

000020

5. Review sách “Zorba Phật” – Con người mới, tôn giáo mới

Người trình bày: Hà Thủy Nguyên (chief)

Nội dung trình bày và thảo luận: Con người trong nhiều ngàn năm lịch sử đều bị phân chia Thiện – Ác, vật chất – tinh thần, tội đồ hoặc thánh nhân… dựa trên các chuẩn mực đạo đức được đưa ra từ các nhà chính trị, các triết gia, các giáo phái. Từ đó tâm trí con người bị phân tách thành hai nửa luôn đối kháng, hoặc thế này, hoặc thế khác. Để tồn tại một cách an toàn trong xã hội, con người buộc phải lựa chọn phần “Thiện” (theo tiêu chuẩn) và kìm hãm phần “Ác”(cũng theo một tiêu chuẩn nào đó), nhưng những phần bị kìm hãm chưa bao giờ mất đi mà  ngược lại, quay lại chi phối con người. Osho cũng đã từng thuyết giảng: “Không thể lấy đá đè cỏ, vì chỉ cần nhấc đá ra, cỏ sẽ mọc mạnh mẽ hơn”. Để kìm hãm thành công, con người trở nên khắc nghiệt, không chỉ khắc nghiệt với bản thân mình, mà còn khắc nghiệt với người khác. Vui đùa trở thành trò ngớ ngẩn trong xã hội cũ, nhưng Osho cho rằng những con người đó mới là những kẻ “tâm thần phân liệt”, “ốm yếu, bệnh hoạn”, “bất nhân tính”.

Trong suốt nhiều thế kỷ, con người hoặc quá phụ thuộc vào Tôn giáo, hoặc quá chống đối tôn giáo, cực này hay cực kia, con người vẫn cứ là cực đoan. Cho dù tuân phục hay chống đối, con người cũng thất bại trong nỗ lực sống một cuộc sống thật sự. “Thời khắc đã điểm bởi vì phương Đông đã thất bại, phương Tây đã thất bại. Cần thiết một sự tổng hợp cao cả hơn để Đông và Tây có thể gặp mặt, để tôn giáo và khoa học có thể gặp mặt. Tôn giáo thất bại bởi vì nó thuộc thế giới bên kia và bỏ mặc thế giới này… bởi bỏ mặc thế giới này là bỏ mặc gốc rễ của chính bạn. Khoa học đã thất bại bởi nó bỏ mặc thế giới bên trong và bạn không thể bỏ mặc những bông hoa… Bây giờ chúng ta cần loài người mới mà khoa học và tôn giáo trở thành hai khía cạnh của một con người. Và cây cầu sẽ trở thành nghệ thuật. Chính vì vậy tôi nói rằng con người mới sẽ là huyền môn, thi ca và khoa học. Giữa tôn giáo và khoa học thì chỉ nghệ thuật mới có thể là cầu nối – thi ca, âm nhạc, điêu khắc…”

Sự ra đời của con người mới chỉ có được trong sự tái sinh của mỗi chúng ta, giống như Jesus Christ được tái sinh vậy: lần sinh đầu tiên là sự sống cơ thể; lần tái sinh, chúng ta sinh ra như linh hồn với sự hài hòa trong cơ thể. Và sự tái sinh này chỉ có thể xảy ra bởi chính chúng ta, những người sẵn sàng đạp bỏ cách sống nô lệ, cách sống người máy, siêu việt khỏi tâm trí. Khi trở về với chân ngã, hưởng thụ cuộc sống trên thế giới này bằng ý thức của linh hồn, bằng ý thức Thượng Đế, con người mới có thể làm chủ được chính mình. Và với người có thể làm chủ chính mình, họ không bao giờ thống trị người khác, như Đức Phật từ bỏ ngai vị vua chúa, như Jesus Christ khẳng định rằng “Ta không làm hoàng đế ở nước của con người”. Vì tôn trọng bản thân mình, họ có khả năng tôn trọng người khác; vì yêu bản thân mình, họ có khả năng yêu người khác; vì họ đã là toàn bộ, họ không còn hứng thú viết chiến tranh và chiếm đoạt. Từ đó, cộng đồng lý tưởng trong mơ như Utopia mới có thể hình thành.

6. Review sách  “Sex, time and power” –  Tình dục tác động đến sự phát triển của văn minh nhân loại

Người trình bày: Phương Mạnh Nguyễn (hunter)

Nội dung trình bày và thảo luận: Đàn ông có tỉ lệ hồng cầu nhiều hơn phụ nữ 15%. Phụ nữ không thể biết họ thiếu sắt. Rất nhiều phụ nữ mang thai mặc dù ăn uống đủ vãn thiếu. Vì sao lại không có cơ chế báo động giống như báo động thiếu muối, nước…. Điều này không hề có ở các loài động vật có vú khác khi mang thai. Thuyết của tác giả: sự khác biệt về tỉ lệ sắt giữa hai giới tính chính là động lực đằng sau rất nhiều bước tiến hóa của xã hội loài người. Tác giả tìm ra sự liên quan giữa nghệ thuật, lịch, hôn nhân,…, với  trăng và kinh nguyệt, giới tính và cái chết, đám ma và sự nuôi nấng của bố mẹ…

Việc hành kinh để lại nhiều dấu vết gây thu hút động vật săn mồi. Một hệ quả nữa: đàn ông không hành kinh dẫn đến có cảm giác chế ngự được thiên nhiên. Phụ nữ chấp nhận định mệnh hơn đàn ông do cảm thấy bất lực không thể chế ngự được cơ thể mất máu.

Vượn người không phải mối đe dọa cho động vật. Nhưng người tinh khôn lại khiến nhiều loài tuyệt chủng. Sự săn bắn tăng đột biến. Vì sao con người lại tiến hóa sự khát máu này? Thay vì đánh nhau, đàn ông chọn ra người giỏi nhất bằng việc đi săn đem thịt về. Theo thời gian, thịt chuyển thành tài nguyên, quyền lực, tiền. Bring back the bacon – thành ngữ phương Tây. Khung cảnh ngày nay: bàn ăn, trên bàn có thức ăn – thịt, nến – lửa, đều là gợi lại ký ức từ thời hang động.

Sau khi con người biết về thời gian, con người có reason – biết về if – then. Từ đó có kiểu biết đặc biệt là wisdom – trí khôn. Trải qua thời gian, người đàn ông tiếp tục sử dụng if – then để đoán, khám phá thế giới, tích thêm trí khôn. Tư duy trừu tượng if then  sử dụng chủ yếu não trái, có phương pháp lược giản hóa, phân tích theo các bước tuần tự, linear. Đây là có chế thúc đấy lý luận, logic, lý trí, nghệ thuật và khoa học.Người đàn ông liên tục nhìn vào tương lai cho đến khi phát hiện ra sự thật: anh ta rồi sẽ chết.

Người phụ nữ chắc là giới nhận ra sự liên quan tới cái chết trước, nhưng thái độ của phụ nữ tới cái chết là chấp nhận nhiều hơn đàn ông. Phụ nữ thường vẽ hình tròn biểu tượng cho thời gian, còn đàn ông vẽ mũi tên. Phụ nữ tự tử nhiều hơn, đàn ông giết người nhiều hơn. Phụ nữ kết nối với con suốt 9 tháng mang thai và biết được một phần của mình sẽ sống tiếp. Đàn ông bị ngắt kết nối với con và không biết điều này.

7. Review sách “Bi kịch” – Đánh thức sự hoài nghi

Người trình bày: Hà Thủy Nguyên (chief)

Nội dung trình bày và thảo luận: Tác giả kể về một mẩu tin ông đọc trên báo về cái chết của 19 người Trung Quốc làm nghề bắt sò, và bài báo sử dụng từ “tragedy”. Điều này khiến ông gợi ra sự tương phản với bi kịch cổ điển. Trong bi kịch cổ điển từ Athen cho đến thời đại của Shakespeare, Racine, John Milton… bi kịch “không phải là cái gì xảy ra hằng ngày. Nó là một ý niệm được gắn với một hình thức kịch đặc biệt được trình diễn vào những buổi lễ hội tôn giáo của người Athens cổ đại và trong triều đình của những ông vua và những quý tộc hiện đại. Từ “tragedy” có gốc từ tiếng Hy Lạp, kết hợp “tragos” (con dê) và “ode” (bài ca). Lý do vì sao thì đến giờ vẫn là ẩn số. Các nhà phê bình sau này cho rằng con dê là tượng rưng cho chân lý về sự sa ngã của con người cao thượng, lúc đầu có vẻ tử tế nhưng sau hóa ra lại bạc ác.

Liệu có sự mâu thuẫn giữa bi kịch và lịch sử khi nhìn nhận về các sự kiện? Gốc của từ “history” có nghĩa là “điều tra”. Bi kịch có vai trò minh họa những câu chuyện bên trong của lịch sử, về cuộc đời các nhân vật kiệt xuất, hay số phận các phong trào cách tân. “Ở đâu có sự tổn thất đáng sợ về mạng sống, thì có vẻ ở đó bi kịch và lịch sử được hòa trộn”. Bởi thế, Aristote cho rằng: “bi kịch vừa có tính triết lý hơn vừa nghiêm túc hơn lịch sử’. vì “thi ca nói nhiều hơn về những cái phổ quát, còn lịch sử nói nhiều hơn về đặc thù. Tức là Aristote muốn nhấn mạnh đến tính nguyên nhân – kết quả của sự kiện lịch sử thông qua các cốt chuyện. “Nó cho ta biết chân lý  về cách thức sự việc sẽ diễn ra – có khả năng xảy ra, theo cách không thể tránh khỏi”.

Điều bi kịch quan tâm là sự đau đớn của kẻ khác, và những câu hỏi đau đớn mà điều này đã nêu ra. Chúng ta khi xem kịch không chỉ theo dõi sự đau đớn của chủ thể mà theo dõi cả cách phản ứng của các nhân vật khác trước đau đớn đó.Có sự thù hằn lớn gữa các triết gia và các kịch tác gia bi kịch. Bi kịch đặt ra hoài nghi với các ý niệm, các tư tưởng lớn mà triết học đề cao. Những điều triết học trừu tượng hóa thi bi kịch lại cụ thể hóa và hạ bệ chúng. Nhiều nhà triết học như Brecht hoặc Roland Barthes thì cho rằng bi kịch với tính không thể tránh được khổ đau là một chướng ngại cho tiến bộ chính trị.

Thế giới hiện đại với sự phẳng của nó đã nảy sinh hiện tượng những nhân vật mới phản kháng lại sự tầm thường của chính họ, nhấn mạnh vòa việc trèo lên những đỉnh cao và lặn xuống độ sâu – những nhân vật được là bi kịch. Từ Ibsen trở đi, nảy sinh ra một dạng giả bi kịch, cố gắng tái lặp lại những hành động anh hùng của bi kịch cổ điển. Nhưng sự tái lặp không đạt đến điều gì cả, không tạo ra gì cả, không bảo tồn gì cả. Trái lại, mỗi khi bạn lặp lại một từ, nó mất đi một ít nghĩa. Đây là huyền thoại hiện đại về entropy, tức ý niệm rằng năng lượng và nghĩa luôn hạ xuống, hay không bao giờ làm mới lại chính chúng đến cùng một điểm như nhau được

Nhà văn Đặng Thân, nhà nghiên cứu  văn hóa Nguyễn Đức Mậu đã từng tham dự Idea Hunting tại Book Hunter Club

Nhà văn Đặng Thân, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đức Mậu đã từng tham dự Idea Hunting tại Book Hunter Club

8. Nhân bản học của Rene Decartes

Người trình bày: Dũng Lê (hunter)

Nội dung trình bày và thảo luận: Decartes cho rằng “  không có sự vật xa xôi nào mà người ta không tìm kiếm ra được ,  không có sự vật bí hiểm nào mà người ta không khám phá ra được  “ . Vi vậy theo ông “  không nên đặt cho trí tuệ con người một giới hạn nào cả “ . Khát vọng của con người là vô biên , nhưng ông cũng cho rằng cần phải có thượng đế tượng trưng cho sự hoàn hảo và tối cao  tuyệt đối . Theo ông , thượng đế là có thực, bởi vì mọi người mọi dân tộc ở dạng này hay dạng khác đều có ý tưởng về ngài . Chỉ nhờ có thượng đế thì mọi vật mới tồn tại và phát triển như chúng hiện có , trong đó có con người .

Descartes thừa nhận mọi tư tưởng của con người xuất phát từ ba nguồn gôc chính : Thứ nhất xuất phát từ thế giới bên ngoài , chúng là kết quả tác đôngj của sự vật lên giác quan của chúng ta như lửa , nước. Thứ hai : một số tư tưởng đơn thuần do hoạt động trí tuệ của con người tạo ra , chẳng hạn như thiện , ác , cái đẹp , cái xấu …Thứ ba : đó là tư tưởng bẩm sinh của con người , tính xác thực của tư tưởng này là hiển nhiên và được mọi người thừa nhận , đó là các tiên đề toán học các mệnh đề logic .Từ ba nguồn gốc này thì ông suy ra trong tư tưởng của con người có cái gì thì thì sự vật cũng có cái đấy , có sự khập khiễng giữa tư tưởng bên trong và tư tưởng bên ngoài . Vói lập trường trên thì Descartes đã khẳng định sự khác nhau cơ bản giữa các vật do thượng đế sáng tạo ra ở chỗ : một số các sự vật là những trí tuệ hay nói cách khác đó là những thực thể tư duy , một số khác là những vật thể .

Ông cho răng linh hồn con người là bât diệt , không chết cùng thể xác nhưng nó cần kết hợp với thể xác để có những tình cảm những nhu cầu và để trở thành một con người thật . Sự kiện linh hồn và thể xác vận hành hòa hợp với nhau đã nảy sinh ra một vấn đề : Làm thế nào mà hai thực thể không có đặc điểm chung nào lại có thể phối hợp hoạt động một cách nhịp nhàng như thế . Thoạt đầu Descartes cho rằng tuyến yên trong bộ não chịu trách nhiệm phối hợp hoạt động của thể xác và tinh thần . Chính ở đâu mà linh hồn vừa “ tạo chuyển động “ vừa “ bị chuyển động “ bởi các dây thần kinh lan ra khắp cơ thể và truyền các tín hiệu giữa thân xác và tinh thần . Tuy nhiên kết luận ấy cũng nhanh chóng bị lãng quên . TRong một lá thư gửi cho công chúa Elizabeth của Bohemia , Descartes phải nhìn nhận rằng sự tương tác giữa linh hồn và thân xác là một mầu nhiệm . Theo luận giải triết học của Descartes thì nguyên nhân của mọi hoạt động tương hỗ giữa tinh thần và thể xác chính là ý nguyện cuar thượng đế , đấng có quyền năng ban phát cho muôn loài các năng lực cần thiết cho cuộc sống của chúng . Xét theo quan diểm đó những nguyên nhân phức hợp về mặt thể chất không phải là căn nguyên thực sự . Thượng đế chính là căn nguyên duy nhất và tối hậu của mối tương tác giữa tinh thần và thể xác . Tuy nhiên ý muốn của thượng đế trong việc tạo ra sự hòa điệu giữa tinh thần và thể xác cũng không phải là tùy tiện . Theo Descartes : “ chuyện một chuyển động nhất định trong não chỉ tạo ra một cảm giác nhất định là một tính chất của hệ thống tối ưu có thể được thiết kế để bảo đảm duy trì con người được khỏe mạnh . Sự tương quan tinh thần – thân xác nơi chúng ta là vì lợi ích của chúng ta bởi lòng nhân từ của thượng đế “

9. Luật bản quyền và Sở hữu trí tuệ có thực sự tăng cường sự bảo vệ và kích thích sáng tạo?

Người trình bày: Nup Hero (chief)

Nội dung trình bày  và thảo luận: Lịch sử của luật bản quyền và luật sở hữu trí tuệ. Cho đến nay các khái niệm này đều bị lạc hậu so với tốc độ phát triển của thông tin. Có một điều luật mới được đưa ra cho thời đại Internet đó là luật truy cập thông tin. Nhưng điều luật này thay vì bảo vệ quyền lợi cho tác giả thì lại biến thành sự bảo hộ cho sự độc quyền.

Tại sao nước Mỹ có được kho kiến thức khổng lồ như ngày nay? Được biết, nước Mỹ là nước lớn cuối cùng tham gia Công ước Bern. Điều này nói lên rằng, trước đó, Mỹ không tham gia Công ước Bern để có thể dễ dàng “ăn cắp” kiên thức và công nghệ từ Châu Âu. Khi “ăn cắp” đủ rồi, Mỹ có thể tự sáng tạo các công trình riêng, nước này mới tham gia Công ước Bern để bảo hộ cho các sản phẩm của mình. Vậy nên, một trong cách chính sách để phát triển Khoa học Công nghệ nên có là “ăn cắ p”.

Chế độ “siêu sao” hay cái gọi là tầng lớp tinh hoa được đưa ra để thiết lập hệ thống này chặt chẽ hơn. Tầng lớp tinh hoa nắm giữ các viện hàn lâm, tầng lớp siêu sao thống trị trong giới truyền thông chính thống. Họ tôn vinh các dạng kiểu mẫu và kiếm lời về cho các nhà độc quyền. Bởi thế không có sức sống ở các hệ thống này, không có sự thúc đẩy sáng tạo mang lại lợi ích thật sự cho đời sống con người.

10. Tại sao xã hội trong hai triều đại Lý Trần lại đạt được sự thịnh vượng

Người trình bày: Hà Thủy Nguyên (chief)

Nội dung trình bày và thảo luận: Thời kỳ cầm quyền của nhà Lý (1009-1225) và nhà Trần (1226-1400) là hai triều đại thịnh vượng nhất trong lịch sử Việt Nam từ trước đến nay. Nhiều sách sử cho rằng triều đại nhà Lê mới là triều đại mạnh nhất, nhưng đa số người đọc đã bị nhầm lẫn giữa hai khái niệm: sự thịnh vượng và tập trung quyền lực. Triều đại nhà Lê là quãng thời gian quyền lực của vua đạt đến tối cao, tuy nhiên điều này không có nghĩa rằng đời sống của dân chúng đạt được sự thịnh vượng. Ngược lại trong giai đoạn Lý – Trần, mặc dù quyền lực của triều đình không bao trùm lên toàn bộ đời sống nhưng đời sống xã hội lại vô cùng phát triển. 

Những chứng cứ về sự thịnh vượng của hai triều đại này được khảo sát qua các vấn đề: thủ công mỹ nghệ, công thương nghiệp, nghệ thuật quân sự, văn học nghệ thuật, tư tưởng và giáo dục. Ngoài ra, còn một điều khác đáng lưu ý là hai triều đại này ít bị ảnh hưởng Hán hóa so với các triều đại khác trong lịch sử.

Nguyên nhân khách quan cho sự thịnh vượng này đó là trong thời đại bấy giờ, lãnh thổ Đại Việt được ổn định và đó cũng là thời điểm mà Trung Quốc suy vi.  Nguyên nhân chủ quan đến từ các chính sách hợp lý thời Lý Trần bao gồm: Hệ thống tư tưởng Tam giáo đồng nguyên; chính sách phân quyền và tự trị cho vương tôn quý tộc; chính sách ngụ binh ư nông; chính sách đặt chuẩn cho từng lĩnh vực đời sống; chính sách tự do cho công thương nghiệp.

11. Kể chuyện Tự nhận thức

Người trình bày: Phạm Khánh Hòa (hunter)

Nội dung trình bày và thảo luận:

Chuyện số 1:
“Cứ mỗi sáng sớm, loài Gà lại gáy gọi bình minh lên. Ngày lại ngày qua ngày, mặt trời ló dạng lên sau loạt tiếng gáy râm ran của Gà. Rồi loài gà tin rằng, nhờ có Gà gọi, mặt trời mới mọc lên và mang ánh sáng cho mặt đất…”
Chuyện số 2:
Một lần chèo thuyền ở trên sông, khi thấy tay chèo bị “gãy” khi ngập vào nước, Descartes đã rút ra rằng: “que thẳng ở trong nước thành cong, các giác quan tôi lừa dối tôi. Không có phương pháp chung nào chứng minh rằng mọi kinh nghiệm của tôi chỉ là giấc mơ hay ảo giác”
Những câu chuyện như trên có thể phát triển lên để rút ra được một số khẳng định cơ bản trong sai lệch nhận thức. Khi liên hệ sát với thực tế và các hiện tượng, thói quen phổ biến như:
• Tranh luận
• Thần tượng, cả tin
• Ra quyết định
• Xem xét các lý thuyết khoa học
• …
mỗi người sẽ tự rút ra được những chiêm nghiệm và giải pháp sửa đổi cho riêng mình.

Suy luận xa hơn, kinh nghiệm vốn chỉ là hình chiếu lịch sử của một hiện tượng xảy ra được ghi nhận vào trong trí nhớ của con người, với rủi ro không ghi nhận đủ thông tin. Thêm nữa, tư duy lý tính (logic) của loài người cũng được chứng minh là bị giới hạn, và không thể đạt đến chân lý. Do đó những hiểu biết trong đầu bạn, dù là qua đúc rút cá nhân, lịch sử kinh nghiệm hay qua sách vở đều có khả năng sụp đổ. Nếu thực sự sau buổi idea hunting bạn mới làm quen với cảm giác này, có thể hơi có chút lạ lẫm, hoang mang. Nhưng việc từ bỏ Chủ nghĩa kinh nghiệm, và thừa nhận luôn luôn có rủi ro tất yếu về việc thiếu thông tin khách quan, sẽ giúp bạn mở mắt hơn với sự thật, và đưa ra các hành động chính xác hơn khi tự tư duy của bạn thu nhận thông tin, ứng dụng quy luật và đưa ra quyết định. Về biểu hiện bên ngoài, bạn sẽ có thái độ lắng nghe, cầu thị, hợp tác và học tập cá nhân tốt hơn.

Ở một mặt khác, có thể coi môn Nhận thức luận, hoặc coi quá trình nhận thức là “suy nghĩ về suy nghĩ”, là tìm ra phương pháp tư duy hiệu quả nhất, trước khi bạn áp dụng tư duy để giải quyết mọi vấn đề cuộc sống. Đồng thời, ý thức hướng nội là biểu hiện và công cụ giúp mỗi người trưởng thành nhanh hơn, xích lại gần hơn với sự thật. Do đó mở rộng nhận thức là quá trình tiên quyết để phát triển mỗi cá nhân chỉ ở mức “học vẹt nói leo thích thể hiện” lên thành “học, chọn lọc, tiếp thu thông tin mới, ứng dụng , tạo ra các sản phẩm phù hợp hơn với tình hình thực tế và chất lượng hơn do phù hợp với nhu cầu đối tượng mục tiêu”.

DSC_1159

Giáo sư Đỗ Lai Thúy trong buổi Idea Hunting “Thơ như mỹ học của cái khác”

 

12. Thơ như là Mỹ học của cái khác (Big Idea Hunting)

Diễn giả: Nhà phê bình văn học – PGS.TS Đỗ Lai Thúy (mentor)

Nội dung diễn thuyết và thảo luận: Công trình gồm 3 phần: Tiểu luận “Thơ như là mỹ học của cái khác” (80 tr); “Chân trần đến cái khác” (300 tr) nghiên cứu về 9 nhà thơ cách tân; “Đường đến cái khác (100 tr) tuyển thơ 27 nhà thơ. Sự chuyển đổi hệ hình mỹ học được tác giả nghiên cứu thông qua sự chuyển đổi của các mô hình ngôn ngữ như: Thơ tiền hiện đại từ nghĩa -> chữ (nghĩa là tính thứ nhất, có nghĩa rồi thì tìm chữ); hiện đại chủ nghĩa thì chữ -> nghĩa (chữ là tính thứ nhất, chữ phát sinh nghĩa); hậu hiện đại thì là một hệ thống quay vòng chữ <> chữ.

Trên thế giới, chủ yếu ở phương Tây thế kỷ 20 đã tạo ra những đảo lộn lớn về nhận thức thực tại. Trước hết trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đặc biệt là vật lý học. Bức tranh hoàn vũ do cơ học cổ điển Newton (1642-1727) dựng lên, coi thực tại là thế giới vật lý, tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người. Ý thức người, do vậy chỉ là sản phẩm của cái thế giới khách quan đó nên có khả năng phản ánh nó, và phản ánh một cách trung thực. Thế giới vật lý được xây dựng từ những “viên gạch” là các nguyên tử rắn đặc và không thể phân chia. Nhưng đến đầu thế kỷ, với sự ra đời của thuyết tương đối của Einstein (1879 -1955) và cơ học lượng tử của Bohr (1855-1962) và Heisenberg (1901-1976), thì bức tranh thế giới Newton sụp đổ, hay đúng hơn mất tính tất yếu và phổ quát, trở nên tương đối chỉ còn là cái đúng trường hợp.

Thời gian và không gian trước đây, chẳng hặn, được coi là sân khấu cho vật chất tồn tại và trình diễn, thì nay chỉ còn là những thuộc tính của vật chất, phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào người quan sát. Còn nguyên tử thì không phải là một hạt rắn đặc, mà là một “vũ trụ” rỗng không, trong  đó những “hạt” hạ nguyên tử nhỏ xíu tương tác lẫn nhau và chỉ xuất hiện, tồn tại và biến mất trong phần triệu giây. Như vậy, thế giới từ vật thể đã chuyển thành quy trình, thành sự rung động hoặc những vật động toàn thể (holomouvement). Hơn nữa, người ta cũng không thể cùng lúc xác định được vị trí và tốc độ của chúng, mà tùy vào sự đo đạc để biết được chỉ một trong hai tham số đó. Như vậy, thế giới không còn tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người, mà chỉ tồn tại vì và cho con người, theo nguyên lý vị nhân. Thế giới lúc này là một tập hợp những khả năng hay những thế giới song song ở không gian đa chiều và chỉ khi có sự tương tác với ý thức người thì một trong những khả năng, hoặc thế giới, mới biến thành hiện thực, tức trình hiện trong không gian ba chiều của chúng ta. Tuy nhiên, những tương tác như vậy, cả ở ý thức lẫn trong thế giới hạ nguyên tử, là hoàn toàn ngẫu nhiên, nên thực tại trở nên bất định, hỗn độn, không còn dễ nắm bắt được bản chất của chúng, hay đúng hơn “những” bản chất của chúng. Hoặc đơn giản chỉ vì chúng không có bản chất cố định bất biến. Sự khủng hoảng thực tại này kéo theo một khủng hoảng khác là sự biểu đạt thực tại mà triết học và nghệ thuật đều đã trải qua và đang cùng nhau tìm cách giải quyết.

Qúa trình khủng hoảng thực tại và sự tìm kiếm các phương thức biểu đạt thực tại mới diễn ra ở vật lý học và triết học như thế nào thì cũng y như vậy ở nghệ thuật. Vừa như một hiện tượng tương tác nhân quả vừa như một hiện tượng đồng thời. Có điều ở nghệ thuật, nhất là hội họa, thì quá trình này tỏ lộ hơn. Bởi lẽ, xưa nay người ta vẫn cho rằng nghệ thuật ra đời, trước hết, là để phản ánh cái thực tại khách quan đó. Hơn nưa, các phương tiện biểu đạt của nghệ thuật lại rất cụ thể, trực quan. Vì thế, trước khi đến với văn chương, cụ thể là thơ, như một nghệ thuật ngôn từ, có thể đến với hội họa để cảm nhận rõ hơn quá trình này. Bởi lẽ, ngôn ngữ hội họa vốn mang tính trực cảm, lại không có nghĩa tự thân, nên dễ đổi mới, và đổi mới trước ngôn ngữ thơ. Vì thế, không phải ngẫu nhiên, mỗi khi ngôn ngữ thơ bị xơ cứng, trì độn thì nhà thơ thường phải cầu viện đến ngôn ngữ hội họa (đôi khi cả âm nhạc nữa) để làm mới ngôn ngữ của mình.

Sự thay đổi hệ hình trong thơ Việt nói chung là rất khó khăn, một phần do sự thành công vang dội của Thơ Mới, phần khác do những hoàn cảnh kinh tế xã hội đặc biệt. Ở miền Bắc và sau đó trên phạm vi cả nước chỉ đến Đổi Mới thì thơ mới dần dần được chấp nhận. Trong khi đó vào những năm 56 – 63 ở thành thị miền Nam thì sự chuyển đổi hệ hình thơ đã thành công. Và hiện nay, thơ cả nước đang đứng trước cơ hội làm cuộc chuyển đổi hệ hình lần thứ hai: thơ hậu hiện đại. Trong số tạp chí này, Sông Hương xin giới thiệu với bạn đọc 2 trích đoạn rút ra từ tiểu luận “Thơ như là mỹ học của cái khác” viết về Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng như là hai nhà thơ có đóng góp lớn vào việc thay đổi hệ hình mỹ học thơ Việt.

Chỉ ở thời hậu – Nhân văn, tức khi phong trào Nhân văn Giai phẩm bị đập tan, Trần Dần, Lê Đạt cùng bạn bè ông bị đẩy ra ngoài lề xã hội, không còn được tham dự vào các cuộc hành hương trẩy hội của cách mạng, không được nói thứ ngôn ngữ chính thống và chính thức của cách mạng, thì bây giờ, trong sự “cô đơn toàn phần” (chữ của Đặng Đình Hưng), các ông mới được/ phải nói thứ ngôn ngữ riêng của mình và của thơ, một thơ không có bất kỳ một tính từ nào đi kèm, mới toàn tâm, toàn sức cho cuộc cách mạng thơ đích thực. Bởi lúc này, thơ và cách tân thơ với các ông là lý do tồn tại, là lẽ sống duy nhất: Thơ hay là Chết! Và chính nhờ sự tập trung năng lượng này, Trần Dần, Lê Đạt đã vượt qua được mô hình Nghĩa -> Chữ, chuyển sang mô hình: CHỮ -> NGHĨA

 

 

Share
Share:

1 comment

Leave a reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *