Tôi đọcVăn chương - Cái đẹp

Trải nghiệm phân tâm học của tôi

chagall-pisa

Trước khi bước vào nghiệp phê bình, tôi chỉ đọc chơi, hay như ngày nay người ta thường nói, rong chơi trong sách. Ba bốn năm làm giáo viên trường Văn hóa Quân đội Lạng Sơn, ngoài bát phố thì chỉ có đọc sách. Tôi đọc triết học, khoa học, phân tâm học chỉ để thỏa mãn hiểu biết, một thứ “hiểu biết vị hiểu biết”, chẳng dùng để làm gì. Sau này, khi đã làm nghề, những hiểu biết vô tư ấy đôi khi lại mách tôi một hướng tiếp cận như một thứ trực giác lý thuyết. Rồi sau đó, khi nghiên cứu để viết bài thì chỉ là đọc thực dụng, đọc để viết và viết để đọc, một quá trình xoắn luyến vào nhau. Cho đến nay (2014), tôi làm phê bình phân tâm học được 20 năm. Đây là một hành trình trải nghiệm, trải và nghiệm. Trải là sống với và sống bằng công việc của mình, một hành động luôn ở thời hiện tại, ở đây và bây giờ, còn nghiệm là sau sống, có một khoảng cách, một độ lùi để nghĩ về cái đã sống qua. Nhưng khoảng cách ấy nhiều khi là không đáng kể,  nên trải và nghiệm gần như đồng thời, nhất là ở phân tâm học.

  1. Như nhiều “đến” khác trong đời mình, tôi đến phân tâm học cũng hoàn toàn tình cờ. Năm ấy, đề tài luận án phó tiến sĩ của tôi, Sự phát triển của ý thức cá nhân giai đoạn 1932 – 1945 qua văn xuôi Tự lực Văn đoàn, đã bảo vệ xong đề cương, nhưng khi trình lên Bộ duyệt thì bị gạt. Cô H., cử nhân vật lý học ở Ba Lan, phụ trách nhận hồ sơ ở Vụ Sau đại học, bảo: Đây là đề tài văn học không hợp mã số văn hóa. Tôi nói: “Văn xuôi Tự lực Văn đoàn” chỉ là tư liệu khảo sát, còn đối tượng nghiên cứu là “ý thức cá nhân”, một phạm trù văn hóa học cơ mà. Nhưng ngay cả anh Tô Ngọc Thanh, Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật là cơ quan đào tạo, cũng không đánh chiếm nổi cái lô cốt này. Anh đành bảo: Thôi, Thúy tìm đề tài khác vậy! Sau nhiều trắng đêm tìm đề tài, tôi chợt nhớ đến một đêm trắng ở Bắc Hà, Lào Cai, sau một tối xòe/ nhòe rượu, đã viết một mạch bài Tín ngưỡng phồn thực, nhìn từ góc độ văn hóa – lịch sử, trong đó có nhắc đến trường hợp thơ Hồ Xuân Hương. Một tia chớp xoẹt trong đầu: Sao không làm đề tài Lý giải cái dâm cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương từ tín ngưỡng phồn thực? Tôi bật dậy vớ lấy bút. Trong khi viết đề cương, một trực giác khác lại giúp tôi nối được các biểu tượng phồn thực trong thơ nữ sĩ với thuyết cổ mẫu của Jung. Từ đấy tôi rút ra kinh nghiệm: 1) hãy tin vào sự mách bảo của trực giác, nhất là trực giác lý thuyết và 2) trong phê bình văn học, lý thuyết dù quan trọng đến đâu thì bao giờ cũng là cái đến sau tác phẩm, nhằm soi chiếu, diễn giải tác phẩm, chứ không phải lấy tác phẩm minh họa cho lý thuyết. C. Jung cũng là một nhà phân tâm học lớn như S. Freud, nhưng, ở Việt Nam, ông ít được biết đến hơn. Trước hết, vì sau vụ ly khai Freud, bị thầy cấm dùng thuật ngữ phân tâm học, nên Jung phải dùng những từ khác ít quen thuộc hơn như tâm lý học phân tích hay tâm lý học các chiều sâu. Hơn nữa, quan niệm libido của Jung chủ yếu thuộc về phạm trù văn hóa (năng lượng sống chứ không chỉ là xung năng tính dục), nên người Việt chưa đủ thời gian để đi sâu. Tác phẩm Jung chỉ mới có một cuốn được dịch là Thăm dò tiềm thức (Sài Gòn, 1968). Cuối cùng, không khí văn hóa – xã hội bấy giờ cũng không thuận cho truyền bá phân tâm học và phê bình phân tâm.
  2. Sau 1954, ở miền Bắc, phân tâm học bị coi là một học thuyết phản động. Freud bị kết án là đã quy toàn bộ con người vào tính dục. Để đánh chặn từ xa, các sáng tác có liên quan đến phân tâm học trước 1945 bị mang ra đập tơi bời. Các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng như Số đỏ, Giông tố, Làm đĩ bị phê phán nặng nề. Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài (Sài Gòn, 1936) của Nguyễn Văn Hanh giải thích động cơ sáng tạo của Hồ Xuân Hương bằng ẩn ức tình dục bị cho là bóp méo, cố tình bỏ qua các nguyên nhân kinh tế và xã hội. Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) của Nguyễn Bách Khoa/ Trương Tửu thì bị phê là dung tục hóa nhà thơ thiên tài của dân tộc. Bởi thế, đầu năm 60, Nguyễn Đức Bính (anh em họ với Hoài Thanh Nguyễn Đức Nguyên), một giáo viên cấp 3 Hà Nội, một cây bút triển vọng của phê bình văn học, mới chỉ mon men nói đến Người Cổ Nguyệt, chuyện Xuân Hương, ca ngợi tính dục nguyên thủy, đã bị nhiều người có uy tín, như Chế Lan Viên chẳng hạn, đánh đến tịt ngòi. Thế là không ai dám ho he gì nữa. Vì thế, mãi đến đầu những năm 90, luận án của tôi là công trình đầu tiên trở lại phân tâm học. Bởi thế, nó được mọi người rất quan tâm. Thiện ý có, ác ý cũng nhiều. Cả trong Hội đồng lần ngoài Hội đồng. Thậm chí có cả thanh tra của Bộ Văn hóa xuống dự – kiểm vì Bộ vừa ban hành chỉ thị cấm các loại “ôm” như bia ôm, karaôkê – ôm… Hôm bảo vệ, anh Trần Lâm Biền làm một cái lễ, khấn vái lầm rầm, rồi thắp hương dọc theo lối vào từ cổng đến hội trường. Anh bảo đây là đất dữ, vốn là bãi tha ma cũ, còn có nhiều vong. Hội đồng thì đa số hoặc không hiểu vấn đề lắm, hoặc có hiểu nhưng vì lý do cá nhân nên phân vân giữa hai bó cỏ “ủng hộ”, và “phản đối”. May nhờ những phát hiện mới về thơ Hồ xuân Hương của luận án mà người ta ít nhiều quên đi lối tiếp cận phân tâm học của nó. Đặc biệt chỉ có Trần Quốc Vượng là chú ý tới phương pháp mới của luận án và hết sức ủng hộ lối tiếp cận này. Ông phát biểu: “Một chứng cứ hiển nhiên bằng cách tiếp cận liên ngành, lại tiếp cận thơ không chỉ với góc độ văn học và còn mở rộng sang lĩnh vực văn hóa học và sử học, Đỗ Lai Thúy đã góp phần xây dựng một môn học mới, mà tới khi tuổi “xế tà”, khi thành lập Trung tâm Văn hóa Việt Nam, tôi luôn mơ ước tới, đó là cái mà giới học giả Mỹ gọi là intellectual History, học giả Pháp gọi là Histoire mantal hay Histoire des mantalités,còn UNESCO và tôi thì gọi là lịch sử văn hóa với những cách tiếp cận mới, liên văn hóa – intercultural Studies”. Mặt mũi đỏ gay vì rượu, giọng nói hùng hồn, lại luôn chêm tiếng nước ngoài của Trần Quốc Vượng, tôi nghĩ, đã làm “tê liệt” đầu óc một số người trong Hội đồng. Luận án, cuối cùng, cũng được thông qua. Từ đó, và càng về sau này, tôi cho rằng giới nghiên cứu văn học, do chỉ biết nhìn xuống mảnh đất quen thuộc dưới chân, nên cái nhìn dễ trở nên chật hẹp, mòn nhẵn, tôi càng cố gắng không chỉ nhìn ra xung quanh để mở rộng tầm mắt, nhất là từ cái nhìn văn hóa, mà, quan trọng hơn,tìm kiếm những cái nhìn khác.
  3. Giải quyết đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương bằng cách phá bỏ lối tư duy nhị nguyên, biện biệt của những người đi trước để tiến tới lối tư duy nhất nguyên của Lão Tử, tôi muốn chứng mình rằng thơ Hồ Xuân Hương vừa thanh vừa tục, vừa dâm tục vừa không dâm tục. Lối tư duy này, về sau, tôi mới biết là rất hiện đại, không phải theo nguyên lý loại trừ hoặc là …hoặc là của vật lý học cổ điển, mà theo nguyên lý bổ sung vừa là… vừa là của vật lý học hiện đại. Có điều lạ lùng là thứ tư duy cực kỳ hiện đại này lại rất phù hợp với tư duy cổ đại([1]) trên cơ sở đực/ cái, âm/ dương, trong đó có tín ngưỡng phồn thực. Bởi vậy, tôi đã tạo ra một hệ pháp để đưa thơ Hồ Xuân Hương về với tín ngưỡng phồn thực với tư cách là một hoài niệm: thơ Hồ Xuân Hương→ văn hóa dâm tục → lễ hội phồn thực → thờ cúng sinh thực khí → tín ngưỡng phồn thực. Nhưng đây là đường dây lịch sử mà sự truyền thừa mang tính gián tiếp, hữu thức, còn một con đường khác mang tính trực tiếp, tức thời là vô thức tập thể tồn tại dưới hình thức các cổ mẫu. Các biểu tượng trong thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu là biểu tượng phồn thực. Tôi chia chúng thành hai loại: biểu tượng gốc phái sinh. Các biểu tượng gốc ứng với các cổ mẫu, còn các biểu tượng phái sinh thì là sáng tạo riêng của cá nhân nhà thơ. Một nhà thơ lớn thì bao giờ cũng biết kế thừa vô thức tập thể (truyền thống), nhưng cũng biết chống lại vô thức tập thể để có sáng tạo cá nhân. Là biểu tượng phồn thực, nơi cái thiêng và cái tục xoắn luyến vào nhau thiêng là tục, tục là thiêng, nên ở các biểu tượng thơ Hồ Xuân Hương thanh và tục cũng xoắn luyến vào nhau thanh là tục, tục là thanh, không thể tách bóc được. Điều này khiến tôi đi đến kết luận: thực chất thơ Hồ Xuân Hương là tính lấp lửng hai mặt. Tôi viết luận án này, thú thực, chỉ trong 2 tháng. Tháng 8 – 1995 mới nhận được quyết định cho làm luận án và tháng 11 thì hết hạn chế độ làm luận án đặc cách. Tôi viết như nhập đồng, cứ nửa tháng một chương dường như không kịp suy nghĩ gì cả. Bởi thế, sự “mạch lạc nội tại” nói trên chỉ là hậu nghiệm, là nhận thức muộn khi tôi chỉnh lại luận án để in thành sách Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực và đặc biệt sau nhiều năm trình bày chuyên đề này cho các học viên cao học. Hóa ra để hiểu được kỹ những gì mình viết ra cũng là một quá trình. Đặc biệt là ở những công trình viết như là sáng tác.
  4. Khi tôi bảo vệ xong, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, cựu giám đốc nhà xuất bản Ngoại văn, kiêm tổng biên tập tạp chí Etudes Vietnamiennes, muốn đọc luận án, bởi ông chính là người viết thư cho Vũ Ngọc Hải thứ trưởng Giáo dục can thiệp để tôi có quyết định viết luận án. Ông rất ngạc nhiên thấy tôi biết về Jung, lại còn biết vận dụng tâm lý học chiều sâu vào nghiên cứu nhà thơ đồng hương xứ Nghệ của ông. Ông còn ân cần dặn tôi nếu có ông bạn Việt kiều nào về nước hỏi xem luận án thì chớ có đưa, kẻo họ ăn cắp ý tưởng rồi đem công bố trước thì hỏng chuyện. Đặc biệt, ông còn viết cho tôi một bài nhận xét rất mạch lạc, nhưng không kém vẻ hấp dẫn để sau này nếu có dịp in sách làm lời giới thiệu. Sau này, khi thành lập trung tâm N – T (Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em), ông còn có ý định gửi tôi đi Pháp học phân tâm học. Một hôm, đọc xong bài Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm của tôi, ông bảo một nhà phê bình phân tâm học thực thụ phải có hiểu biết lâm sàng, thậm chí trước đó phải là một bác sĩ trị liệu. Nếu Thúy đồng ý, tôi sẽ gửi Thúy sang Pháp du học. Qua một vài ngày suy nghĩ, tôi cảm ơn và từ chối. Tôi muốn làm nhà phê bình văn học chứ không chỉ là một nhà phê bình phân tâm học, nhất là bác sĩ chữa bệnh tâm thần. Về sau, N – T có cho một vài người khác đi học phân tâm học ở Pháp, nhưng họ đều đã tốt nghiệp bác sĩ ở trong nước. Một lần, ngồi nghe một trong số những người đó thuyết trình luận án của mình ở Trung tâm Văn hóa Pháp, tôi bỗng nhớ tới một câu thơ của Tô Thùy Yên: “Đến ngã ba, đành theo một lối, Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia…”. Mà đời tôi sao lắm ngã ba thế!

Nguyễn Khắc Viện là bác sĩ nhi khoa nội trú ở Paris. Năm 1936, được học bổng sang Pháp du học, ông đã hứa với cha mình, hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, là sẽ học y khoa để về chữa bệnh cho đồng bào. Tốt nghiệp thì cũng là lúc chiến tranh thế giới thứ hai, cách mạng tháng Tám và sau đó kháng chiến bùng nổ, ông ở lại Pháp tham gia đấu tranh chính trị, làm chủ tịch Hội Việt kiều yêu nước. Năm 1963, bị chính phủ Pháp trục xuất, ông chọn về Hà Nội, làm Phó chủ tịch Ủy ban Liên lạc Văn hóa Đối ngoại, thành lập nhà xuất bản Ngoại văn và tạp chí Etudes Vietnamiennes để hoạt động. Chỉ đến khi nghỉ hưu, làm cố vấn cho nhà xuất bản, ông mới có thì giờ nghĩ đến chuyên ngành nhi khoa của mình,. Mà nói đến nhi khoa thì không thể tách rời tâm lý trẻ em, còn tâm lý trẻ em thì không thể tách rời phân tâm học. N – T, Trung tâm Tư nhân Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em đầu tiên ở Việt Nam, giai đoạn đầu chủ yếu nghiên cứu lý thuyết. Bác Viện (về sau có thêm bác sĩ Lê Văn Luyện, bác sĩ Đặng Phương Kiệt, anh Kiến Giang…) trình bày những kiến thức cơ sở, giới thiệu những cuốn sách kinh điển về tâm lý, trong đó có phân tâm học. Bác Viện đã viết một bộ sách (7 cuốn) cho nhà xuất bản Phụ nữ về tâm lý trẻ em dưới dạng phổ thông cho các bà mẹ đọc. Tôi đã được ông chống lưng để đứng ra giới thiệu bộ sách này ở Thư viện Hà Nội. Ông cũng tổ chức biên soạn Từ điển tâm lý và cho dịch cuốn Freud thực sự đã nói gì? do tôi biên tập. N- T càng phát triển thì một mặt phân tâm học càng được giới thiệu nhiều hơn và mặt khác những thực hành chữa trị cho trẻ em cũng được nhân rộng.

Sau khi bác Viện mất (1997), bà Nguyễn Thị Nhất, phu nhân của ông, lên làm giám đốc Trung tâm. Ban lãnh đạo cũ tan rã. N – T rời 46 Trần Hưng Đạo chuyển về Ngõ Quỳnh và chuyên về thực hành chữa trị. Bà Nhất tập hợp được một đội ngũ bác sĩ nhi khoa “chuyển ngành” sang tâm lý trẻ em. Bác sĩ Luyện vì lý do sức khỏe nghỉ hẳn. Còn bác sĩ Đặng Phương Kiệt thuê một phòng ở Triển lãm Giảng Võ để làm Phòng Tư vấn Tình dục. Đây có lẽ là phòng loại này duy nhất ở Việt Nam, dù những trục trặc tình dục ở ta cũng nhiều không kém gì thế giới. Ngoài ra, hàng tháng anh Kiệt còn tổ chức nói chuyện về phân tâm học, như ông Hoàng Thiếu Sơn nói về tiểu thuyết Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng, tôi nói về Hồ Xuân Hương và Hoàng Cầm, anh Kiến Giang giới thiệu cuốn Sự phát triển siêu cá nhân, về tính cách Việt… Anh Kiệt còn tổ chức cho anh Kiến Giang và tôi đi nói chuyện về phân tâm học ở một số tỉnh. Thỉnh thoảng, độ vài tháng, anh cho in một cuốn sách về nghiên cứu tình dục ở Việt Nam. Những hoạt động này tuy âm thầm và chỉ trong một phạm vi hẹp, nhưng dần dần đã thay đổi quan niệm của nhiều người, nhất là giới trẻ, về phân tâm học và khích lệ tôi đi tiếp vào phê bình phân tâm.

  1. Bút pháp của ham muốn là cuốn sách phê bình phân tâm học tiêu biểu của tôi. Ở đây tôi đã sử dụng rất nhiều lối vào: khám phá ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm nhờ mặc cảm Oedipe qua các bài thơ nói về “mối tình Em – Chị”, tìm hiểu cái đẹp của sự tàn lụi trong thơ Bà Huyện Thanh Quan bằng bản năng chết, giải thích hiện tượng cùng lúc viết những bài thơ trái ngược nhau đến 1800 của Chế Lan Viên bằng sự rối loạn đa nhân cách, chứng minh tính chất lưỡng phân, không triệt để của thơ tình Xuân Diệu và toàn bộ sáng tác của ông bằng tình yêu đồng giới… Rồi còn lý thuyết cổ mẫu với Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, lý thuyết phân thân (animas/animus và bóng âm) với Nguyễn Gia Thiều đối thoại với bóng. Như vậy, khác với trước 1945, phê bình phân tâm học chỉ có một lối: ẩn ức tình dục → dồn nén → giải tỏa/ thăng hoa, phê bình phân tâm hôm nay đã có nhiều đường vào. Chính sự đa dạng này tạo nên tính thuyết phục của phê bình phân tâm học của tôi.

Tuy nhiên, trong phê bình văn học của tôi không bao giờ chỉ có một phương pháp phê bình, mà bao giờ cũng có nhiều phương pháp. Trong số nhiều đó thì bao giờ cũng có một phương pháp chủ đạo, còn các phương pháp khác đóng vai trò bổ trợ. Phương pháp nào là chủ đạo thì không phải hoàn toàn do đối tượng quy định theo kiểu đất thì dùng cuốc, đá thì dùng choòng, mà do người viết muốn giải quyết vấn đề nghệ thuật nào ở tác phẩm. Trong Bút pháp của ham muốn thì phân tâm học là chủ đạo. Nhưng nhờ các phương pháp bổ trợ khác như phong cách học, thi pháp học, cấu trúc – ký hiệu… mà sự phân tích văn bản của tôi mang đến 2 hiệu quả: một là tạo ra những luận chứng quan trọng và khách quan cho các luận điểm phân tâm và hai là phát hiện ra những sáng tạo nghệ thuật từ cái nhìn phân tâm học, nên nhà phê bình không chỉ dừng lại ở tư cách nhà phân tâm nghiệp dư mà trở thành nhà phê bình nghệ thuật. Chỉ về sau này, tôi mới biết rằng đó là lối phê bình phân tâm học văn bản. Tôi đặc biệt tâm đắc với định đề của Lacan: “Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ”. Tìm được vô thức văn bản, chủ yếu qua các cấu trúc ngôn ngữ, người phê bình không còn phải trông chờ vào tiểu sử ấu thời của tác giả mà không phải lúc nào cũng có, mà có thì không phải lúc nào cũng đúng. Hơn nữa, từ đó, người ta có thể dùng phân tâm học để nghiên cứu các tác phẩm khuyết danh, hay cả cổ tích lẫn huyền thoại. Tuy nhiên, phân tâm học văn bản mà tôi theo đuổi là thứ phân tâm học được quan niệm: “Phân tâm học không phải một văn bản. Đó là một tiền văn bản. Nhà phân tâm học không phải chỉ lý giải một văn  bản của vô thức đã có sẵn, anh ta vừa lý giải vừa sản sinh ra nó” (Lacan/ Lê Đạt). Chỉ có như vậy nhà phê bình mới chuyển được từ phân tích văn bản sang khoái lạc văn bản.

Sự khoái lạc này hẳn chủ yếu do sáng tạo văn bản mà ra. Còn “cơ sở pháp lý” của sáng tạo này là do quan niệm “du hành lý thuyết” của Edward W. Said, tác giả cuốn Đông phương học (Orientalism). Các lý thuyết từ quốc gia này du hành sang các quốc gia khác đều có sự biến đổi, không còn y nguyên. Điều này tạo ra sự sai lệch với lý thuyết gốc. Sự “lệch chuẩn” này là tiền đề của sáng tạo. Người phê bình không sợ mình không đúng với lý thuyết gốc, mà nên sợ rằng mình không để lại một kết quả thực tế nào từ lý thuyết đó. Sự sai lệch này, theo tôi, có ba lý do: 1) Môi trường văn hóa và những định kiến tri thức của mình tất yếu sẽ làm “khúc xạ” lý thuyết, làm cho mình nhiều khi chỉ nhìn thấy cái gì mình muốn thấy (Dễ lòa yếm thắm trôn kim – Kiều); 2) Khi áp dụng một lý thuyết nào đó vào một đối tượng cụ thể thì bao giờ cũng có một sự “kháng cự” của đối tượng đó. Chính sự kháng cự này làm sai lệch lý thuyết; 3) Nhà nghiên cứu có cá tính mạnh, có óc tuởng tượng phong phú cũng không bao giờ chịu ngoan ngoãn khuôn mình vào lý thuyết để đánh mất mình.

Tuy vậy, sự khoái lạc văn bản hình như bao giờ cùng đi kèm theo sự cay đắng văn bản đúng như nguyên lý phân tâm học về sự tồn tại đồng thời những xu hướng tâm lý trái ngược nhau. Tôi đã được chính Hoàng Cầm cảm ơn vì đã phát hiện ra cho ông mặc cảm Oedipe ở ông, điều mà từ thời thơ ấu nhà thơ đã cảm mà không thấy, thấy mà không biết. Sự chứng thực này làm cho tôi càng tin tưởng vào phân tâm học. Bài viết về Chế Lan Viên thì gây ra các phản ứng khác nhau, người thì cho tôi “chạy tội” cơ hội cho nhà thơ Chiêm thành giả này, người khác thì kết tội tôi dám bảo nhà thơ đầu óc chói lòa nhất Việt Nam là rối loạn đa nhân cách. Còn tuyên huấn thì lại nhìn ở cạnh khía “Tháp Chàm bốn mặt”: Nhân kỷ niệm 10 năm tạp chí Sông Hương, bài viết này được đưa vào sách tuyển các bài phê bình, nhưng có người đã xuống tận nhà in đề nghị bóc, khiến tổng biên tập Quang Hà trở tay / thay không kịp. Cuối cùng, bài viết về Xuân Diệu gây ra một hiệu ứng lớn vì khi đọc xong bài này ai cũng cảm thấy như trong mình có một cái gì đó bị sụp đổ, một cái gì đó bị lấy mất đi. Việc in nó cũng không phải là dễ. Phan Thắng ở Văn hóa Nghệ An đã phải điện cho Hoàng Cát/ Cát vàng, một bồ trai của Xuân Diệu, để ngầm xin phép. Hoàng Cát lặng thinh. Phan Thắng hiểu im lặng là đồng ý. Khi bài in ra thì Cù Huy Hà Vũ kiện tôi đã bôi xấu bố anh, nhà thơ Huy Cận. Tôi có nhắn với anh hãy kiện Tô Hoài trước đã. Năm 2010, Bút pháp của ham muốn được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải với số phiếu bầu 11/12. Tôi không có thói quen hỏi xem ai đó không bỏ cho mình. Tuy vậy, một hôm ngồi uống với Đoàn Tử Huyến, anh bảo người không bỏ phiếu cho ông là một nhà thơ nổi tiếng. Nhưng, đáng chú ý hơn, là lập luận của ông ta: 1) ông không tin phương pháp phân tâm học và 2) với tư cách là học trò của Xuân Diệu về thơ và bình thơ mấy chục năm qua, ông quả quyết rằng Xuân Diệu không có tình yêu đồng giới. Tôi bèn nói với Huyến: Có thể với anh ấy thì Xuân Diệu không phải người đồng tính, vì anh ấy quá xấu trai mà!

  1. Người đầu tiên dịch phân tâm học sau 1975 ở miền Bắc hẳn là Đoàn Văn Chúc. Ông tên thật là Nguyễn Tăng Khiêm (1926 – 1996), học Cao đẳng Ngân hàng Đông Dương, tham gia kháng chiến chống Pháp, làm Văn nghệ Kháng chiến ở Sơn La cùng với Trần Dần, Trần Vũ. Sau Nhân văn Giai phẩm bị chuyển về làm ở Vụ Văn hóa Quần chúng cùng với Phùng Quán, rồi chuyển về dạy ở Trường Văn hóa. Ông là bạn thân của Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, là “Chúc bờ sông” trong lòng họ. Ông dịch Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức của Trần Đức Thảo (1917 – 1993) trước hết là vì lòng tự hảo và quý trọng một người cùng làng. Ở phần Ba của cuốn sách, Những nguồn gốc của khủng hoảng Oedipe, Trần Đức Thảo xuất phát từ sơ đồ của Freud, nhưng không cho rằng Oedipe là một bản nguyên có nguồn gốc từ quan hệ của đứa trẻ với cha mẹ đẻ của nó, mà là một dư sinh của những giai đoạn phát triển nhất định trong sự phát sinh loài. Cuốn sách viết bằng tiếng Pháp và được in ở Pháp, vậy mà cũng có kẻ tố lên là Trần Đức Thảo theo Freud, khiến ông phải làm tờ trình lên Ban Bí thư. Khi về nhà xuất bản Ngoại văn, tôi còn tìm thấy những tờ thanh minh này của Thảo nằm kẹp giữa trang sách nguyên bản. Năm 1997, tôi viết lời giới thiệu và nhờ nhà sách của Đoàn Tử Huyến in tác phẩm này. Cuốn sách bấy giờ, hầu như rất ít tác động xã hội, nhưng nhờ nó mà Trần Đức Thảo được giải thưởng Hồ Chí Minh. Mà được giải thưởng một cách tình cờ. Theo bà Nguyễn Thị Nhất, cũng là vợ của Trần Đức Thảo trước khi là vợ của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, những người làm triết ở Việt Nam thấy ngành mình chưa có ai được giải thưởng Hồ Chí Minh cả trong khi các ngành khác, như sử học chẳng hạn, người ta nhận giải ầm ầm, bèn tự đứng ra làm hồ sơ tiến cử ông Thảo, mà hồ sơ thì chủ yếu là cuốn sách triết học này([2]). Sau cuốn sách nói trên, Đoàn Văn Chúc tiếp tục Vật tổ và cấm kỵ (1998), một tác phẩm quan trọng của Freud. Tuy nhiên, say mê của Đoàn Văn Chúc không phải phân tâm học mà là xã hội học văn hóa và văn hóa học.

Một dịch giả khác cũng “đá gà đá vịt) vào phân tâm học là anh Kiến Giang. Sau 3 năm xà lim và 5 năm đập đá vì vụ “xét lại chống Đảng”, anh Kiến Giang được tha về. Không công ăn việc làm, anh được bác Viện giới thiệu sang Viện Thông tin Khoa học Xã hội làm tổng thuật, lược thuật để kiếm sống (Trong thời gian này, tôi cùng làm thuê cho Viện, nhưng theo một đầu mối khác nên không gặp anh). Sau đó, anh “làm thuê” cho chính bác Viện trong công việc viết sách (Thế giới thứ ba, 200 năm cách mạng Pháp, Từ điển Xã hội học…) hay dịch thuật dưới tên Nguyễn Khắc Viện hoặc các bút danh khác như Lê Dân, Lương Dân, Huyền Giang… Khi bác Viện mở Trung tâm N- T, anh được giao việc đọc sách rồi trình bày lại cho mọi người nghe, như Cái tôi và vô thức của Jung, Con người không thể đoán định trước của Lezoi – Gourhan. Rồi theo yêu cầu của bác Viện, anh dịch Freud thực sự đã nói gì? và đặc biệt là Sự phát triển siêu cá nhân… Bác Ngô Bình Lâm cũng được tôi nhờ dịch Phân tâm học về lửa của Bachelard. Còn bản thân tôi cũng dịch chương dẫn luận của Nước và những giấc mơ của tác giả này. Tôi còn dịch cuốn trò chơi tình ái của G. Tucci nghiên cứu Mật tông từ phân tâm học.

Có thể nói nhờ đi cùng với “phong trào” nghiên cứu, truyền bá, dịch thuật, phân tâm học này mà tôi đã làm bộ sách “Phân tâm học và…”. Cho đến năm 2009, bộ sách đã cho ra đời được 4 cuốn: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Phân tâm học và tình yêu, Phân tâm học và tính cách dân tộc. Tôi rất muốn làm thêm một cuốn nữa là phân tâm học và lửa, hoặc phân tâm học và nữ quyền luận cho đủ 5 cuốn vì tôi bao giờ cũng thích số lẻ. Hơn nữa, ở Việt Nam, phân tâm học cấu trúc/ giải cấu trúc của Lacan còn chưa được giới thiệu nhiều, đặc biệt chưa có các công trình sử dụng lý thuyết của ông vào nghiên cứu các hiện tượng văn hóa, văn học. Nhưng vì quá bận nên tôi chưa/ không thực hiện được.

Làm bộ sách phân tâm học này tôi không có mục đích gì to lớn, mà chỉ, như người ta thường nói “Trên đường nghiên cứu và học tập”. Nghiên cứu văn học, văn hóa Việt Nam hoặc nghiên cứu gì cũng vậy, hiểu biết lý thuyết là vô cùng quan trọng. Lý thuyết cho ta không chỉ một cái nhìn mới, một cái nhìn khác, sâu sắc hơn, mà còn cả phương pháp nữa. Mà phương pháp thì, như F. de Saussure nói, đẻ ra đối tượng. Tôi nhớ mình đã đọc Baudelaire, Balzac, Aragon do các nhà nghiên cứu Nga – Xô Viết và Việt Nam viết và đã có một hình dung vững chắc, ổn định về họ. Vậy khi ở nhà xuất bản Ngoại văn đọc những cuốn sách người Pháp viết về họ thì tôi lại thấy một Baudelaire, Balzac, Aragon khác, mà người này ít dính dáng đến người kia. Hóa ra, đó là sự khác nhau của phương pháp như là một thể hiện cụ thể của lý thuyết.Từ đó, tôi bắt đầu tìm hiểu các lý thuyết nước ngoài để làm mới nghiên cứu văn chương Việt Nam.

Từ những đọc, dịch, ghi chép, viết tóm tắt, nhận xét so sánh một cách hết sức vất vả của mình, tôi bỗng nghĩ đến việc làm sao cho độc giả khỏi phải đi lại “con đường lên núi Trọc” của mình. Tôi sưu tầm thêm các bản dịch của người khác, hệ thống hóa tư liệu thành các chủ đề, như giới thiệu các phương pháp nghiên cứu văn học (Sự đỏng đảnh của phương pháp), các phương pháp nghiên cứu văn hóa (Theo vết chân những người khổng lồ),về trào lưu hình thức Nga (Nghệ thuật như là thủ pháp), về phân tâm học (Phân tâm học và…). May nhờ có “nhà – xuất – bản – nhà” là Songthuy bookstore/ Trung tâm sách Thủy và anh bạn thân Nguyễn Tất Hòa ở nhà xuất bản Văn hóa Thông tin nên việc in ấn và phát hành đều suôn sẻ.

Tuy nhiên, một hiệu quả mà tôi không ngờ tới là sách bán rất chạy, có cuốn tái bản đến hai ba lần. Điều này không nói nên sách của tôi tốt, mà chỉ chứng tỏ rằng, sau một thời kỳ dài tiền lý thuyết, hoặc chỉ có lý thuyết tiền – hiện đại, bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu các lý thuyết hiện đại, như phân tâm học của Jung hay Lacan, cấu trúc luận, ký hiệu học, hoặc các lý thuyết hậu hiện đại như giải cấu trúc luận, mỹ học tiếp nhận, thông diễn học, nữ quyền luận…Có một ý tưởng mà tôi muốn gửi gắm vào những công trình giới thiệu này là văn học Việt Nam dù có đặc thù đến đâu thì trước sau gì vẫn phải đi trên con đường mà thế giới đã/ đang đi, khác chăng chỉ ở cách đi. Từ đó đi đến thức nhận: ta là ai và ta đang ở đâu trên hành trình của thế giới. Vì thế, nếu chủ động đi cùng thế giới thì sẽ tiếp nhận được tinh hoa, còn nếu để thế giới kéo theo một cách bị động thì sẽ bị dập vùi bởi những làn sóng nhồi đuôi tàu và khoản học phí phải trả là không hề nhỏ.

Ngày nay, sau 15 năm (1999 năm in cuốn sách biên soạn đầu tiên và 2014 khi tôi viết bài này) công việc giới thiệu lý thuyết đã đi những bước dài, có người chê những cuốn sách của tôi là đơn giản, không có hệ thống, rằng tôi không phải là chuyên gia lý luận văn học phương Tây nên không đủ tư cách làm điều này. Có thể ý kiến của họ cùng có cái đúng, nhưng trong lúc các “nhà” không làm gì cả, hoặc mải làm việc khác thì cũng nên để cho người khác làm. Hơn nữa, mỗi cuốn sách, đặc biệt là loại sách giới thiệu và truyền bá, đều có thời của nó. Tuổi vị thành niên này càng nhanh chóng trôi qua bao nhiêu thì càng chứng tỏ sự mau chóng trưởng thành của việc tiếp nhận và giới thiệu lý thuyết bấy nhiêu. Bởi vậy, tôi mong muốn sách của mình nhanh chóng bị bạn đọc vượt qua.

  1. Trong cuộc đời làm phê bình phân tâm học của mình, ngoài việc góp phần hình thành một lớp độc giả cho/ của phân tâm học, “công trình” mà tôi đắc ý nhất là có được một vài bạn – vong – niên. Tôi rất thích thứ chênh – lệch – bạn – bè này, bởi đây là một bổ xung cho nhau tuyệt vời, một hòa chứ không đồng. Bản thân tôi cũng đã được trải nghiệm thứ tình bạn này với các anh Đỗ Đức Hiểu, anh Kiến Giang, Lê Đạt. Nay tôi lại muốn được có nó, dù rằng giờ đây có sự đổi vai.

Người đầu tiên tôi muốn nói đến là Nguyễn Mạnh Tiến. Tiến làm luận văn thạc sĩ về quan niệm văn chương của hiện tượng học hiện sinh và đặc biệt thích và đọc nhiều về phân tâm học. Nhưng rồi bất ngờ Tiến chọn đề tài luận án văn học tộc người để đi sâu vào dân tộc học. Quyết định này đầy khó khăn vì bỏ một mảnh đất hứa hẹn thu hoạch ngay để khai phá một đất mới. Nhưng đây là một lựa chọn có tầm nhìn. Các tộc người miền Bắc Việt Nam hiện vẫn còn là một khoảng trống trên bản đồ dân tộc học Đông Nam Á. Một phần bao năm qua chiến tranh đã đóng cửa với các nhà dân tộc học nước ngoài. Phần khác, các tộc người ở đây tuy cũng đã được nghiên cứu, nhưng không như những thực thể tự trị, có cái lý tộc người riêng của họ, mà chỉ nhằm phục vụ chính/ đối sách chủ yếu theo cái nhìn từ đồng bằng của Việt tâm luận. Làm dân tộc học theo quan điểm nhân học văn hóa hiện nay, một hình thức hội nhập vào thế giới hiện đại, do vậy, rất có tiền đồ. Còn lý thuyết văn học thì … giỏi lắm cũng chỉ dừng lại ở thể loại truyền bá. Không có tư duy triết học, thứ mà chúng ta ‘thiên tiên bất túc”, rất khó có sáng tạo gì. Nhưng làm nghiên cứu thì lại không thể không có lý thuyết, dù là một lý thuyết du hành. Tiến đã chọn phân tâm học tộc người làm hướng tiếp cận của mình. Dân ca H’Mông nhìn từ tâm lý học tộc người cũng chỉ là một ga đi. Theo hướng này, một bạn trẻ khác của tôi là Đàm Nghĩa Hiếu cũng đang theo đuổi nhân học tộc người với đề tài luận án: Truyện cổ Bru – Vân Kiều nhìn từ tâm lý học tộc người. Một bạn trẻ khác là Ngô Thanh hẳn cũng vì thích phân tâm học mà đến với tôi với đề tài luận văn thạc sĩ: Dịch và vận dụng tiểu luận The Signification of the Phallus của J. Lacan vào nghiên cứu bản sắc giới trong tác phẩm của M. Duras. Hiện nay Thanh đang theo đuổi một cái nhìn mới và, quan trọng hơn, một lối viết mới trong văn chương nghệ thuật không như là một khoa học nhân văn, mà như là một nhân văn không gắn với khoa học.

Khác với các nhà khoa học cùng tuổi, hoặc thậm chí ít tuổi hơn, những người thường thích gắn mình với lớp nhà nghiên cứu đàn anh, đàn chú bằng việc viết tựa cho các tuyển tập của họ như các công trình của Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Huệ Chi…, hoặc tự khoe mình là học trò chân/ chính/ trực truyền của các thầy Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Hoài Thanh…, tôi lại thích chơi với các bạn trẻ hơn như Cao Việt Dũng,Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn… và cảm thấy an tâm nếu mình còn chơi được/ được chơi với những người chỉ mới sinh ra ở thập niên 80 này. Trong xã hội kinh nghiệm, hoặc xã hội toàn trị, tuổi tác, hoặc địa vị, càng cao thì càng giàu tri thức hoặc quyền lực. Nhưng trong xã hội hiện đại, với sự thay đổi nhanh chóng của tri thức (tư tưởng học thuật, khoa học, công nghệ) thì tuổi tác là một trở ngại cho việc tiếp thu cái mới, cái khác. Đây lại là ưu thế của tuổi trẻ. Nhất là lứa tuổi mang tính hệ hình. Tôi cho rằng, họ, những chàng trai đầu 8 ấy, là những người mở đầu cho một thế hệ đứt đoạn trong đời sống xã hội và tư tưởng học thuật Việt Nam. Tuy hơn họ đến gần bốn chục tuổi, nhưng tôi thuộc về họ. Thẩm quyền phán xét tôi, vì thế, chỉ thuộc về họ.

 

Trải nghiệm phân tâm học với tôi cũng là một trải nghiệm công cụ. Bởi với một nhà phê bình, lý thuyết chỉ là công cụ. Nhưng, phân tâm học là loại công cụ đặc biệt, có khả năng làm thay đổi thế giới và bản thân. Như bánh xe, như động cơ hơi nước, như thuyết tương đối… là những công cụ đã làm thay đổi con người với tư cách là kẻ sử dụng công cụ. Phân tâm học là một khoa – học – chủ – quan. Nhà phân tâm học trước sau gì rồi cũng phải tự phân tâm bản thân mình, vừa là để lấy mình hiểu người, vừa là để lấy người hiểu mình. Bởi vậy, đối với họ, vô thức không phải là một văn bản viết sẵn, mà là một văn bản chờ nhà phân tâm học đến bổ sung và viết tiếp. Coi mình là một văn bản, ít nhiều do mình sáng tạo nên, tôi cảm thấy mình được tự do khỏi những gì có sẵn và, do đó, có tự do để sáng tạo tiếp.

Hà Nội, 4 – 2014

Đỗ Lai Thúy

 

[1] H. Béla trong tác phẩm Câu chuyện vô hình và đảo (Nguyễn Hồng Nhung dịch, Tri thức, 2012) phân biệt giữa cổ đại nguyên thủy (con người/ tư tường). Ông rất đề cao cổ đại, coi đấy là một mẫu mực. Bởi, trước thời cổ đại thì con người còn ở tính trạng nguyên thủy, cổ sơ, đồng nghĩa với thấp kém. Còn sau thời cổ đại thì suy nghĩ của con người dựa trên nền tảng mâu thuẫn logic, nên phiến diện, hẹp hòi. Chỉ con người cổ đại, coi thế giới là sự tương đồng, mới có một cái nhìn tổng – thể – cá – nhân.

[2] Ngay sau khi bác sĩ Nguyễn Khắc Viện mất, bà Nhất, ngoài N – T ra, chỉ còn sống với hai tâm nguyện duy nhất: 1) Trần Đức Thảo được giải thưởng Hồ Chí Minh nhưng chưa được chôn ở Mai Dịch nên bà muốn vận động để ông được chôn ở Mai Dịch còn 2) bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã được chôn ở Mai Dịch nhưng chưa được giải thưởng Hồ Chí Minh thì sẽ làm mọi việc để ông nhận được giải này. Bên mộ bác Viện, bà đã khoét một hố nhỏ để chờ ngày đựng tro của mình, Bà muốn như Thái hậu Dương Vân Nga ở giữa hai vua. Không hiểu bây giờ (2014) bà còn nung nấu ý định ấy không.

Share
Share: