Chính trị - Kinh tếTôi đọc

Trật tự thế giới trong thời đại chúng ta (phần 1)

Book Hunter trật tự thế giới mới

Lời người dịch: Trong việc định hình cho một trật tự thế giới mới, Henry Kissinger kết luận rằng theo đuổi quyền lợi quốc gia (theo kiểu Mỹ) và tuân thủ tinh thần trọng pháp trong hợp tác quốc tế (theo kiểu châu Âu) là điểm chính yếu. Thực ra, viễn kiến này chỉ đúng trong một chừng mực giới hạn.

 

Về mặt học thuyết, ông không nhận ra vai trò của các mạng lưới dân sự trong việc tăng cưồng hiệu năng phát triển cho các thể chế quốc nội và quốc tế; hiệu ứng lan toả của soft law trong tiến trình thành lập luật quốc tế. Về mặt thực tế, ông không hề đề cập đến vai trò năng động của châu Mỹ La tinh là một hậu phương chiến luợc của Hoa Kỳ.

Nếu đặt phần kết luận này trong bối cảnh quốc tế cực kỳ bất ổn và dồn dập như hiện nay: Pháp bị tổn thương, Liên Âu trên đà tan rã và văn minh phương Tây tàn lụn, thì Kissinger có hai thiếu sót chính:

Một là, bốn trụ cột nền tảng của các nước phương Tây là dân chủ đại nghị, kinh tế thị trường, thể chế pháp quyền và xã hội dân sự không còn đứng vững. Dù phương Tây có ý thức là phải cải cách toàn diện, nhưng suy trầm kinh tế kéo dài, nợ công chồng chất, khí hậu biến đổi khắc nghiệt, nạn khủng bố lan tràn nghiêm trọng, làn sóng di dân ào ạt và dân số lão hoá đáng ngại, tất cả trở lực này làm cho tình hình trầm trọng hơn.

Hai là, chính quyền ở các nước nghèo (như tại châu Phi) còn phải đấu tranh chống bất công xã hội, tham nhũng, bảo vệ môi trường, kiểm soát an ninh nội địa và gia tăng hợp tác khu vực và quốc tế. Chính quyền ở các nước độc tải (như tại Việt Nam) không muốn thay đổi chính thể trong khi dân chúng không quan tâm đến chính sự, nên triển vọng dân chủ hoá và phát triển càng bi quan hơn.

***

Trong những thập niên sau Thế chiến thứ hai, ý thức về một cộng đồng thế giới dường như đã khởi sự phát sinh. Khi các khu vực công nghiệp tiên tiến của thế giới đã cạn kiệt do chiến tranh, thì các khu vực kém phát triển bắt đầu tiến trình giải phóng khỏi ách thuộc địa và xác định lại bản sắc. Cả hai xem hợp tác là cần thiết hơn là đối đầu. Thực vậy, nhờ không bị chiến tranh tàn phá, được đẩy mạnh bởi nền kinh tế cạnh tranh và lòng tự tin dân tộc, Hoa Kỳ tự đề ra những lý tưởng và cách áp dụng các lý tưởng này mà họ xem là có thể áp dụng cho toàn thế giới.

Board game hại não hàng đầu hiện nay

Khi bắt đầu nắm ngọn đuốc soi đường để lãnh đạo quốc tế, Hoa Kỳ đã mang thêm một tầm vóc mới trong việc mưu tìm một trật tự cho thế giới. Là một quốc gia được thành hình có thể hiện rõ nét về một lý tưởng cai trị theo tinh thần tự do và đại nghị, Hoa Kỳ đã xác định được sự trổi dậy của mình với sự lan toả của tự do và dân chủ. Hoa Kỳ cũng tin là những sức lực này có đủ khả năng đạt được một nền hòa bình lâu dài và công chính mà từ trước đến nay thế giới thất bại. Với một phương sách truyền thống để mang lại một trật tự, châu Âu xem các dân tộc và các quốc gia luôn cạnh tranh nhau, đây là một đặc điểm cố hữu; cách này nhắm làm hạn chế các hiệu ứng do những tham vọng đang cạnh tranh, nó dựa trên một tình trạng quân bình của một cán cân quyền lực và một tinh thần hòa hợp của các chính giới biết nhận thức.

Quan điểm khá phổ biến của Hoa Kỳ là họ xem con người vốn có tính thuần lý và có khuynh hướng thiên về các thỏa hiệp để hòa hợp, sống theo cảm tính thông thường và ứng sử sòng phẳng. Do đó, sự lan toả về dân chủ là một mục tiêu bao quát cho một trật tự quốc tế. Các thị trường tự do sẽ làm thăng tiến cá nhân, làm giàu cho xã hội, và sự tương thuộc kinh tế sẽ thay cho truyền thống ganh đua quốc tế. Theo quan điểm này, Chiến tranh Lạnh đã gây ra do các lầm lạc của chủ nghĩa Cộng sản; sớm muộn gì thì Liên Xô cũng sẽ trở lại với cộng đồng của các quốc gia. Sau đó, một trật tự cho thế giới mới sẽ bao gồm tất cả các khu vực trên toàn thế giới; các giá trị và mục tiêu chung làm cho các tình hình trong từng quốc gia sẽ nhân bản hơn và các xung đột giữa các quốc gia sẽ giảm đi.

Qua nhiều thế hệ và trong nhiều phương cách, các sự nghiệp nối tiếp tạo trật tự cho thế giới đã thành tựu mỹ mãn. Các thành công này được thể hiện trong nhiều quốc gia có chủ quyền độc lập mà họ cai trị hầu hết các lãnh thổ trên thế giới. Sự phổ cập dân chủ và cai trị có tham gia của quần chúng đã trở thành một khát vọng chung, nếu đó không phải là một thực tế phổ quát; thì các mạng lưới thuộc phương tiện truyền thông trên bình diện toàn cầu và các mạng lưới tài chính hoạt động trong thời gian đích thực, cả hai làm cho sự tương tác giữa con người trong một tầm vóc quy mô thành khả thi, thành quả này đã vượt ra ngoài trí tưởng tượng của các thế hệ trước đây; những nỗ lực chung về vấn đề môi trường, hoặc ít nhất là một động lực để thực hiện công việc này còn tồn tại; và một cộng đồng quốc tế hợp tác trong các lĩnh vực từ thiện, y tế và khoa học chuyên chú hơn về trị liệu các loại bệnh tật và tai họa, vì cả hai được suy đoán là một loại định mệnh đã an bài.

Hoa Kỳ đã đóng góp đáng kể cho sự tiến triển này. Sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ mang đến một lá chắn an toàn cho các nơi còn lại trên thế giới, cho dù các nơi thụ hưởng có yêu cầu hay không. Bằng sự che chắn qua một hình thức bảo đảm quân sự đơn phương của Hoa Kỳ, nhiều nước phát triển đã liên kết trong một hệ thống của liên minh; các nước đang phát triển đã được bảo vệ để chống lại các mối đe dọa, mà đôi khi họ không nhận ra, thậm chí ít khi họ thừa nhận.

Hoa Kỳ đã đóng góp về mặt tài chính, thị trường và canh tân mọi mặt cho một nền kinh tế toàn cầu phát triển. Có lẽ từ năm 1948 đến cuối thế kỷ này đã đánh dấu một khoảnh khắc ngắn ngủi trong lịch sử của loài người, nhưng người ta có thể nói về một trật tự của thế giới còn phôi thai này bao gồm một loại hỗn hợp của chủ nghĩa lý tưởng theo kiểu Mỹ và các khái niệm truyền thống về một tình trạng quân bình của cán cân quyền lực.

Tuy nhiên, thành công của Hoa Kỳ đã tạo ra một điều không thể tránh được là toàn bộ sự nghiệp này cuối cùng bị thách thức, đôi khi chỉ vì do nhân danh cho trật tự của thế giới. Mối liên quan của hệ thống (trong châu Âu) theo thoả ước Westphalia có tính phổ quát và bắt nguồn từ hình thức luật thủ tục, có nghĩa là, nó mang một giá trị trung dung. Quy luật của hệ thống này có thể áp dụng cho bất kỳ nước nào: không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác; bất khả xâm phạm biên giới; tôn trọng chủ quyền tối thượng của các quốc gia; thúc đẩy việc tuân thủ luật quốc tế. Sự yếu kém hệ thống theo thoả ước Westphalia là mặt trái của sức mạnh này. Khi các quốc gia đã kiệt sức do sự đổ máu, nên lúc phác thảo quy luật, châu Âu không đề ra một ý nghĩa cho một chiều hướng lãnh đạo. Hệ thống này đề cập đến các phương pháp phân bổ và duy trì quyền lực, không tìm giải đáp cho vấn đề tạo ra tính chính thống.

Trong việc xây dựng trật tự cho thế giới, một câu hỏi quan trọng đặt ra không thể tránh được có liên quan đến bản chất của các nguyên tắc thống nhất trong trật tự này – một quy định trật tự nằm trong sự phân biệt chủ yếu giữa phương sách của phương Tây và không phải của phương Tây. Kể từ thời Phục Hưng, phương Tây đã tận tâm theo đuổi một khái niệm là thế giới đích thực có tính cách ngoại tại đối với người quan sát, những kiến thức này bao gồm các dữ liệu có ghi chép và phân loại – nếu càng chính xác hơn thì càng tốt – và sự thành công của chính sách đối ngoại này lệ thuộc vào việc đánh giá thực trạng và xu hướng trong hiện tại. Hoà bình theo tinh thần thoả ước Westphalia thể hiện được cách nhận xét về một thực tại, – đặc biệt trong các tình trạng thực thế của quyền lực và lãnh thổ – như là một khái niệm quy định theo quan điểm thế tục vượt qua các nhu cầu tôn giáo.

Trong các nền văn minh huy hoàng đương đại khác, đối với một quan sát viên thì tình trạng thực tế được cảm nhận là do một đặc tính nội tại, nó được định nghiã bởi niềm tin do tâm lý, triết học, hoặc tôn giáo. Theo quan điểm Nho giáo, thế giới bao gồm các nước chư hầu trong hệ thống phân cấp đã được xác định gần giống như văn hóa Trung Quốc. Hồi giáo phân chia có hai trật tự thế giới, một thế giới hòa bình theo cách của Hồi giáo, và một thế giới của chiến tranh, đó là nơi sinh sống của người không phải là tín đồ Hồi giáo.

Như vậy, Trung Quốc cảm thấy không cần phải đi ra nước ngoài để khám phá một thế giới mà họ coi thế giới như đã định sẳn, hoặc được quy định một cách tốt đẹp nhất bằng việc trao dồi luân lý của Trung Quốc, trong khi đạo Hồi có thể đạt được sự hoàn thành lý thuyết của trật tự thế giới của họ chỉ bằng cách chinh phục hoặc cách giáo hoá trên toàn cầu, mà các điều kiện khách quan của việc này là không có. Ấn Độ giáo nhận thức về chu kỳ lịch sử, thực tế kinh nghiệm và thực tại siêu hình vượt khỏi kinh nghiệm thế tục, tôn giáo này xem thế giới trong tín ngưỡng của mình là một hệ thống hoàn chỉnh, không cần rộng mở cho những người tân tòng do việc đi chinh phục hay do cách cải đạo.

Có một sự khác biệt tuơng tự đã chi phối đến thái độ đối với khoa học và kỷ thuật. Phương Tây thỏa mãn trong khi chế ngự được thực tế bằng kiểm nghiệm, khám phá những ảnh hưởng lan rộng của thế giới, nên họ thúc đẩy khoa học và kỷ thuật. Các nền văn minh truyền thống khác, mà mỗi một nền văn minh này đã tự xem mình là trung tâm của một trật tự cho thế giới theo cách của riêng mình, họ không có cùng một loại động lực khích lệ tương tự và bị tụt hậu về mặt kỷ thuật khi so với phương Tây.

Giai đoạn này đã kết thúc. Các nơi khác còn lại trên thế giới đang theo đuổi khoa học và kỷ thuật, và vì họ không bị cản trở bởi các mô hình được lập sẳn, có lẽ họ có nhiều năng lực và linh hoạt hơn so với phương Tây, ít nhất là ở các nước như Trung Quốc và các “con hổ châu Á”.

Trong thế giới của khoa địa chính trị, một trật tự được các nước phương Tây thành lập và tuyên bố là có giá trị phổ quát đang đứng ở một bước ngoặt. Một giải pháp đơn giản có thể được toàn thế giới cùng thông hiểu, nhưng lại không có sự đồng thuận về cách ứng dụng; thực sự, những khái niệm như dân chủ, nhân quyền, và luật quốc tế tạo ra nhiều cách diễn giảng khác nhau đến độ mà các bên tham chiến thường xuyên dựa vào các khái niệm này để chống nhau khi gây chiến. Dù các quy luật của hệ thống đã được ban hành, nhưng cũng đã có chứng minh là việc chấp pháp không hiệu quả. Việc duy trì về mối quan hệ đối tác và cộng đồng được đem ra thay thế, tại một vài khu vực có những biện pháp mạnh hoặc ít nhất là cùng song hành để thử thách các mức độ giới hạn.

Người ta cảm nhận là các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị trong một phần tư thế kỷ qua được đã gây ra, hoặc ít nhất, gọi là có tiếp tay do các ý kiến và cách thực hành theo kiểu cuả phương Tây. Cùng với các bùng nổ trong các trật tự cuả khu vực, các trận tắm máu trong các giáo phái, khủng bố, và chiến tranh kết thúc với chiến thắng trong điều kiện ngắn hạn -, tất cả các giả thuyết lạc quan của thời kỳ ngay sau khi Chiến tranh Lạnh cần được đặt thành vấn đề: liệu sự lan toả của dân chủ và các thị trường tự do sẽ tự động tạo ra một thế giới kết hợp toàn diện, hòa bình và công chính không?

Một động lực đối kháng đã phát sinh ở một số nơi trên thế giới để xây dựng tấm chắn chống lại những gì được coi là một chính sách đã gây ra khủng hoảng của phương Tây phát triển, trong đó bao gồm cả các khía cạnh của toàn cầu hóa. Các kết ước về an ninh đã thể hiện qua những điều kiện vững chắc, nhưng đến nay thì vấn đề đang được đặt lại, đôi khi ngay trong nước mà khả năng phòng thủ của họ đúng ra phải cố đẩy mạnh.

Khi các nước phương Tây giảm các kho vũ khí hạt nhân hoặc hạ thấp vai trò của vũ khí hạt nhân theo học thuyết chiến lược một cách đáng kể, thì các nước trong cái gọi là thế giới đang phát triển lại dồn hết năng lực để theo đuổi mục tiêu này. Các chính phủ, một khi đã bám chặt (ngay cả thỉnh thoảng có khi bị lúng túng) vào sự cam kết của Mỹ để theo đúng với quan điểm của Mỹ về một trật tự cho thế giới, họ đã bắt đầu tự hỏi là liệu rằng Mỹ còn đủ kiên nhẫn để xem kết quả về những công trình của mình không.

Theo quan điểm này, chấp nhận “quy luật” của phương Tây về một trật tự của thế giới khó kết hợp thêm với các trách nhiệm không thể đoán trước, – một lối giải thích làm phân hoá rõ rệt một số đồng minh lâu đời của Mỹ. Thực vậy, ở một số nơi, trong khi họ không tuân theo các chuẩn mực phổ quát (chẳng hạn như về nhân quyền, cách áp dụng luật thủ tục, hoặc tạo bình đẳng cho nữ giới) thì các quan điểm ưu tiên cuả các nước Bắc Đại Tây Dương xem đây là một đặc điểm tích cực và trọng tâm của một hệ thống có giá trị tương ứng. Nhiều hình thức cơ bản của bản sắc được tuyên dương như là cơ sở mà họ dành độc quyền quan tâm.

Kết quả là không hẳn thuần về một tình trạng đa cực của quyền lực, nhưng là một thế giới của các thực tế có nhiều mâu thuẫn ngày càng gia tăng. Người ta không nên giả định rằng hãy phó mặc cho vấn đề này được tự tung tự tác, đến một điểm nào đó, các xu thế này sẽ hòa giải một cách tự động hướng về một thế giới của sự quân bình và hợp tác, hoặc thậm chí hướng về bất kỳ một trật tự nào đó.

Đỗ Kim Thêm dịch, Phía Trước
Henry Kissinger

Còn tiếp…

_________

Nguyên tác: Conclusion: World Order in Our Time? p.p. 361- 374 in: World Order – Reflections on the Character of Nations and the Course of History, 2014, Allen Lane

Share
Share: