Giới thiệu tác giảTôi tìm hiểu

William Shakespeare – nhà văn mở đầu kỷ nguyên Phục Hưng ở Anh

Rhys Ifans stars in Columbia Pictures' "Anonymous."

William Shakespeare (1564 – 1616) là nhà văn và nhà soạn kịch vĩ đại của nước Anh. Ông được xem là một trong những cha đẻ của tiếng Anh, của nước Anh thời Phục hưng, và là xuất phát điểm của nền văn chương Anh – Mỹ. Trước Shakespeare, tiếng Anh còn là một ngôn ngữ pha trộn hỗn tạp, chưa thống nhất và nghèo vốn từ. Ở Anh, nền học thuật và nghệ thuật không phát triển, mà chỉ tồn tại những hình thức văn nghệ dân gian. Sân khấu kịch không có tính nghệ thuật, mà chỉ được dùng để mua vui cho quần chúng và tuyên  truyền chính trị. Thêm vào đó, cả Giáo hội lẫn động cơ chính trị của các lực lượng khác đều gây cản trở đáng kể cho sự phát triển nghệ thuật và văn học.

Trong bức tranh u ám đó, sự xuất hiện của Shakespeare và các tác giả khác, như Francis Bacon và Ben Jonson (cộng sự thân thiết của ông), đã đặt những viên gạch móng để thay đổi hoàn toàn văn hóa Anh, rồi sau đó là châu Âu lục địa. Riêng Shakespeare đã phát minh ra 1700 từ tiếng Anh, định hình ngôn ngữ tiếng Anh, định hình các chuẩn mực của thể loại thơ ca và bi kịch. Trước “Romeo & Juliet”, lãng mạn chưa bao giờ được xem là một chủ đề có giá trị đối với bi kịch. Shakespeare cũng là nhà viết kịch đầu tiên sử dụng độc thoại để khám phá tâm trí nhân vật, thay vì chỉ để truyền đạt thông tin về các nhân vật và sự kiện như trước đó. Có thể nói nếu không có Shakespeare, sẽ không có những thành tựu của nền văn chương Anh – Mỹ mà chúng ta đang thấy.

Tuy nhiên, danh tính thật sự của Shakespeare là một vấn đề phức tạp. Từ thập niên 1920, đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra “giả thuyết Oxford về tác quyền của Shakespeare”, trong đó họ cho rằng Shakespeare là một bút danh chung mà nhiều người ẩn danh cùng sử dụng để xuất bản các vở kịch của mình, để tránh những đe dọa về mặt chính trị. Theo những người theo “giả thuyết Oxford”, tác giả chính của đa số các vở kịch kí tên Shakespeare là Edward de Vere, bá tước thứ 17 của Oxford. Những nghiên cứu theo giả thuyết này đã tạo thành cảm hứng cho bộ phim “Anonymous” (2011), một tác phẩm tái hiện số phận chính trị và cuộc đời sáng tác của Edward de Vere dưới bút danh Shakespeare.

Tìm hiểu thêm tại đây: http://bookhunterclub.com/anonymous-chi-y-tuong-la-bat-tu/

Shakespeare sống và sáng tác khi nước Anh đang bước vào thời Phục Hưng. Chịu ảnh hưởng từ phong trào Phục Hưng ở Firenze (Italy), phong trào Phục Hưng ở Anh (1485 – 1660) cũng gắn liền với việc khôi phục các giá trị văn hóa thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, như khoa học và nghệ thuật, đồng thời thúc đẩy chủ nghĩa hoài nghi trong triết học. Hầu hết cuộc đời của ông nằm trong “thời Elizabeth I”, giai đoạn thường được mô tả là một trong hai thời kì hoàng kim thịnh trị của nước Anh. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ 20, các sử gia hiện đại đã tỏ ra hoài nghi về lời mô tả này. Họ cho rằng nó xuất phát từ guồng máy tuyên truyền chính trị đương thời, nằm trong tay nữ hoàng Elizabeth I và phe cánh của bà – những người vừa giành chiến thắng chung cuộc sau một chuỗi chính biến liên miên – thay vì xuất phát từ những sử liệu chính xác.

Nhìn vào các dữ liệu lịch sử, có thể thấy triều Elizabeth I không giống một triều đại màu hồng. Nước Anh thời đó là một bức tranh phức tạp với nhiều mảng màu đan xen.

Trước tiên, phải kể đến mảng màu hỗn loạn và đẫm máu của khung cảnh chính trị. Châu Âu không giống như những quốc gia độc lập và có chủ quyền, mà giống như những sứ quân đang tranh chấp. Quan hệ ngoại giao giữa các sứ quân này chủ yếu được ấn định bằng hai việc: hôn nhân và tôn giáo. Các sứ quân chia thành hai khối lớn: khối Công giáo, thừa nhận quyền lực tối cao của Giáo hội Công giáo Roma, cùng quyền can thiệp của Giáo hội vào chuyện nội chính; và khối Kháng cách, không thừa nhận quyền lực của Giáo hội, và lợi dụng phong trào cải cách tôn giáo để kết liên minh. Thường xuyên, vận mệnh của một quốc gia lệ thuộc vào việc người đứng đầu hoàng tộc lấy một người Công giáo hay một người Kháng cách, hoặc người nối ngôi được nuôi dạy theo đức tin Công giáo hay Kháng cách. Bản thân nền chính trị nước Anh vận hành bằng ba nhánh quyền lực song song tồn tại: Giáo hội, hoàng gia và Quốc hội. Nhưng trong thực tế, phe quí tộc nào nắm được nhiều ghế hơn trong cả ba nhánh quyền lực này sẽ chiếm được toàn bộ nước Anh, và tùy ý hành xử chuyên chế, bao gồm cả việc đàn áp triệt để phe đối lập nhân danh tôn giáo, bịa đặt tội trạng để xét xử, và ngụy tạo lịch sử.

Mảng màu thứ hai là màu son phấn nữ giới tô hồng chính trường. Đầu thời Elizabeth I, nước Anh nằm giữa cuộc tranh giành của bốn nữ nhân: Elizabeth I, Jane Grey, Mary I và Mary Stuart. Chính trường Anh trở thành một cuộc tranh đấu dưới thể chế mẫu hệ thần quyền, khi cả bốn nữ nhân trên đều giành quyền lực chính trị thông qua cách hoạt động truyền thông để sỉ nhục đối thủ và đánh bóng bản thân, nhân danh tôn giáo, bằng phe cánh tôn giáo, và bằng truyền thông tôn giáo. Bộ máy tuyên truyền thánh hóa phe thắng cuộc và bôi nhọ phe thua cuộc một cách không giới hạn. Chẳng hạn, những sử liệu được viết bởi phe Elizabeth I lặp đi lặp lại một khung cảnh, trong đó dân chúng đứng bên đường để vỗ tay khi bà đi qua, khi bà nói một vài lời hay, hoặc khi một đối thủ chính trị của bà chết. Trong văn chương, nghệ thuật Anh cho đến đầu thế kỉ 20, Jane Grey liên tục được mô tả như là một thánh nữ, và là một trong những phụ nữ uyên bác nhất của thời đại, dù không ai đưa ra được bằng chứng để chứng minh việc này. Lý do duy nhất có thể chứng thực của việc phong thánh Jane Grey là việc bà “tử đạo” Kháng cách, do bị Mary I xử tử sau chin ngày lên ngôi, dù án tử này trước tiên xuất phát từ việc tranh giành quyền lực chính trị. Bản thân Elizabeth I cũng tránh kết hôn, phần để tránh bị phe thất sủng đảo chính khi bà dứt khoát đưa ra sự lựa chọn liên minh bằng hôn nhân chính trị, phần để xuất hiện trong mắt công chúng như một nữ thần kì diệu, huyền bí, tuyệt đối thiêng liêng và không vấy bẩn. Triều chính Anh trong giai đoạn này được mô tả như một tôn giáo thờ nữ thần, với cảnh Walter Raleigh trải cái áo đắt tiền lên vũng nước để nữ hoàng bước qua, hoặc cảnh công chúng coi những tiến bộ của nước Anh là “phép màu của Chúa” dành cho nữ hoàng. Cùng thời điểm này, một trật tự chính trị có màu sắc tương tự, mang tên đạo Mẫu, tình cờ nổi lên ở các địa phương ven biển Việt Nam, và cũng gây ra những xung đột chính trị, tôn giáo lớn.

Mảng màu thứ ba là tiếng ồn của đám đông dân chúng. Mọi biến cố chính trị của thời điểm đó đều có sự góp mặt của đám đông, và được thực hiện phần nào nhân danh đám đông. Hầu hết chước tác quan trọng của Elizabeth I là những bài diễn văn để đọc trước đám đông. Để điều khiển đám đông, người ta dùng báo chí, và sau đó là kịch, nhờ thế mà hoạt động in ấn và sân khấu bắt đầu phát triển.

Tuy nhiên, bức tranh nước Anh của giai đoạn này cũng có những mảng màu tươi sáng. Không lâu trước đó, việc thừa hưởng một nền giáo dục tốt, bao gồm khả năng đọc, hiểu nhiều ngoại ngữ, đã trở thành một chuẩn mực của giới quý tộc Anh, áp dụng cho cả nam và nữ. Trong thực tế, chuẩn mực này có thể đã ra đời vì một lí do thực tiễn: giúp các nhà quí tộc thành công trong một nền chính trị được định đoạt bằng hôn nhân với ngoại quốc, vào thời điểm mà cả châu Âu phát sốt vì nghệ thuật, khoa học và triết học Phục Hưng. Thêm vào đó, chiến thắng của phe Kháng cách trước phe Công giáo cũng giúp nới lỏng phần nào không khí kiểm duyệt truyền thống. Và như đã nói ở trên, việc các phe phái lạm dụng báo chí và kịch nghệ để tuyên truyền chính trị đã cung cấp một nguồn tài chính để phát triển ngành sân khấu và ngành in. Việc tịch thu các tài sản từng thuộc về Giáo hội Công giáo Roma trên đất Anh, cùng việc khai phá các thuộc địa Bắc Mỹ đã tạo ra nguồn thu để phát triển kinh tế. Cũng trong thời Elizabeth I, Chứng thực Hoàng gia được ban cho công ty Đông Ấn Anh. Những giao lưu giữa Anh và châu Âu lục địa cũng giúp các thành tựu của phong trào Phục Hưng đến được với các cư dân sống gần thượng tầng xã hội. Bản thân Shakespeare, khi sống dưới sự bảo trợ của bá tước Southampton, đã được Giovanni Florio, một người Ý lưu vong dưới quyền bá tước này, hướng dẫn tìm hiểu văn chương Phục Hưng của Ý và Pháp. Những tiền đề kinh tế, chính trị và văn hóa ấy đã trở thành nền tảng, mà trên đó Shakespeare, Bacon và Ben Johnson xây dựng thời đại của mình.

Cũng như mọi quốc gia khác, ở Anh, phong trào Phục Hưng khởi đầu bằng dịch thuật. Bản thân Shakespeare cũng đóng một vai trò không nhỏ trong công đoạn này, khi tham gia dịch nhiều tác phẩm triết học sang tiếng Anh, trong đó có triết học hoài nghi của Montaigne. Ngoài ra, ông còn cùng các cộng sự dịch nhiều tác phẩm thuộc thể loại thơ ca và bi kịch, qua đó du nhập các thể loại này vào Anh.

Một chuyển động khác của thời đại, có thể đã để lại dấu ấn trực tiếp lên những tác phẩm của Shakespeare, là sự trở lại của khoa học trong nền văn minh phương Tây. Năm 1543, 20 năm trước khi Shakespeare ra đời, Copernicus đề xướng thuyết Nhật tâm. Năm 1580, Giordano Bruno – tu sĩ, triết gia duy vật, nhà toán học và nhà thiên văn, người bị Rome thiêu sống năm 1600 vì bác bỏ giáo lí của nhà thờ – đã du hành đến Anh để thuyết giảng học thuyết của Copernicus. Học thuyết này nhanh chóng lôi cuốn nhiều người Anh đương thời, trong đó có Thomas Digges. Shakespeare có nhiều liên hệ với gia đình Digges: Leonard Digges, con trai Thomas, từng sống cùng căn hộ với Shakespeare và viết lời giới thiệu cho sách của ông. Năm 1597, chương trình giảng dạy của đại học Gresham ở London bao gồm ba môn Thiên văn học, Địa lý và Y dược. Trong cùng giai đoạn này, Francis Bacon mở đầu cho chủ nghĩa duy nghiệm (empiricism) và phương pháp khoa học (scientific knowledge). “New Atlantis” của Bacon, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đầu tiên của văn chương Anh, phác thảo một tương lai mà Bacon mơ ước, trong đó tri thức và tinh thần khoa học được đề cao. Làn sóng của cảm hứng khoa học và hoài nghi này đã ảnh hưởng đến Shakespeare khi ông sáng tác. Dan Falk, một ký giả khoa học say mê Shakespeare, đã đề cập đến hiện tượng này trong bài viết trên The Telegraph:

“…Chúng ta có thể cảm giác thấy điều này trong cách một vài nhân vật của ông chống lại sự mê tín dị đoan: Trong “King Lear”, Edmon đã cách chức những người đổ lỗi sự bất hạnh cho thiên đường cứ thể như là tội lỗi của “chàng công tử bột tuyệt vời nhất thế giới”. Trong “Julius Caesar”, Cassius tuyên bố rằng: “Lỗi lầm, thưa Brutus, không phải vì những ngôi sao của chúng ta, mà bởi chính chúng ta, những gì chúng ta tôn thờ”.

Cũng trong bài viết này, Dan Falk cũng chỉ ra các dấu ấn về ảnh hưởng của khoa học đương thời trong tác phẩm của ông, mà đặc biệt là thiên văn học. Không ít các chi tiết trong kịch bản của Shakespeare có đề cập rất nhiều đến bầu trời sao, và đây cũng là thời ở Anh, người ta bắt đầu quan tâm nhiều đến khoa học. Trong vở “Hamlet”, Shakespeare có nhắc đến một ngôi sao chiếu sáng “ở phía Tây của cực Bắc”. Đây chính là ngôi sao Tycho, một ngôi sao mới xuất hiện trên bầu trời vào năm 1572, lúc đó ông chỉ khoảng 8 tuôi. Ý tưởng về ngôi sao này không thể được lấy từ các ghi chép Hy Lạp và La Mã cổ xưa, mà hẳn phải đến từ thời đại của ông. Bài viết còn đặt ra giả thuyết rằng vở kịch “Hamlet” có thể là một ẩn dụ về giới nghiên cứu thiên văn học lúc bấy giờ, trong đó Hamlet là đại diện cho nhà thiên văn học Thomas Digges – người giới thiệu thuyết nhật tâm với nước Anh, còn các nhân vật phản diện khác đại diện cho những người đã cản trở quá trình này. Khi Digges đưa thuyết nhật tâm đến Anh, một đồ thị vẽ vũ trụ với mặt trời và các hành tinh, cùng khoảng không được nối ra vô hạn thể hiện cho vũ trụ vô biên cũng được công bố. Và câu văn kinh điển của Shakespeare: “Ta có thể ẩn mình trong vỏ hạt dẻ nhưng vẫn là hoàng đế của vũ trụ vô biên” được gợi hứng từ chính tinh thần của Thomas Digges.

Ngoài những bi hài kịch chính trị và thói hoài nghi khoa học, còn có một hương vị chung khác thấm đẫm trong cả thời Elizabeth I lẫn những tác phẩm của Shakespeare. Đó là không khí ma thuật đậm đặc. Trong bức tranh nước Anh thế kỉ 16 mà chúng ta đã xem xét, đám đông mê tín nhìn mọi công lao của nữ hoàng như những “phép màu nhiệm”, và phong trào Kháng cách Anh quốc dường như vận hành giống hệt phong trào đạo Mẫu nổi lên cùng thời ở Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, màu sắc ma thuật trên chính trường Anh đương thời không chỉ là một phỏng đoán dựa trên sử liệu, mà còn là một thực tế. John Dee –gia sư và cố vấn thân cận của nữ hoàng Elizabeth I, nhà thiên văn, nhà hàng hải, thần đồng Toán học Anh quốc và người phát minh ra thuật ngữ “Đế quốc Anh” – là kẻ dành hầu hết thời gian trong cuộc đời mình để nghiên cứu các huyền môn, thuật giả kim và bói toán. Bị ám ảnh về việc học cách giao tiếp với các thiên thần để đoán trước đoạn kết của nhân loại, Dee không phân biệt được sự khác nhau giữa toán học và việc nghiên cứu ma thuật, triệu hồi thiên sứ hay bói toán. Dee được xem là hình mẫu mà Shakespeare dựa vào để thiết kế nhân vật chính của vở “The Tempest”: nhà quỉ thuật Prospero. Tương tự, không khí ma thuật cũng thấm đẫm trong một loạt các vở kịch khác của Shakespeare, khi ông đưa các hồn ma làm nhân vật quan trọng trong vở “Hamlet”, “Julius Caesar”, “Macbeth” và “Richard III”, hay đưa các phù thủy làm nhân vật chính trong vở “Macbeth”.

Như đã nói ở trên, Shakespeare chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hoài nghi: hoài nghi về định mệnh con người. Không ít lần, ông thốt lên trong các vở kịch của mình rằng thế giới là một vở kịch hoặc một trò chơi để rồi tất cả đều sẽ trở nên vô nghĩa khi khép màn. Ông đã viết trong vở “Macbeth” như sau:

“Ngày mai, rồi ngày mai, lại ngày mai

Lê lết theo nhịp đời nhỏ mọn ngày qua ngày

Tới thanh âm cuối cùng của thời khắc ghi dấu ;

Và tất thảy ngày hôm qua đều nhen nhóm cho những kẻ khờ

Con đường tới cái chết tối tăm. Tắt thôi, tắt thôi, hỡi nến nhỏ !

Đời này có gì ngoài một bóng ma lang thang, một diễn viên nghèo nàn,

Khuệnh khoạng và u sầu trên sân khấu

Để rồi đi đến vô thanh. Đó là câu chuyện

Được kể bởi gã ngốc, ồn ào và điên loạn,

Phô bày điều vô nghĩa.”

(Bản dịch Hà Thủy Nguyên)

Trong dòng chảy định mệnh ấy, câu hỏi “To be or not to be” trở thành mấu chốt và tình yêu trở thành cứu cánh duy nhất dù rất đau khổ. Trong nỗi ám ảnh về thuyết định mệnh này, tinh thần hoài nghi được bộc lộ: nghi ngờ số mệnh, nghi ngờ vai trò của con người trong thế giới. Nhận thức về tính hư vô của đời người chính là tột đỉnh của hoài nghi vậy.

 Xem một đoạn trích tái hiện lại cảnh lần đầu vở “Hamlet” được diễn cho Nữ hoàng Elizabeth I xem trong phim “Anonymous”: 

Và đương nhiên, không thể phủ nhận lòng yêu thích tri thức của William Shakespeare. Trước khi trở thành một nhà viết kịch, ông là một người truy tìm hiểu biết, một dịch giả để truyền tải văn minh nhân loại về với nước Anh. Dày đặc trong các tác phẩm của ông là những kiến thức về lịch sử, thần thoại, khoa học, tôn giáo, triết học… Bản thân các bài thơ và đoạn thoại trong kịch của ông cũng được viết bằng những thể thơ rất khó từ bi kịch Hy Lạp cổ điển. Để viết được những vẫn thơ bay bổng và chuẩn mực như vậy, vốn kiến thức về nghệ thuật cổ Hy Lạp cũng rất đáng ngưỡng mộ. Và chính Shakespeare, trong vở kịch của mình cũng thốt lên những lời sùng kính đối với tri thức: “Ngu dốt là lời nguyền của Thượng Đế, tri thức là đôi cánh đưa ta bay tới Thiên đường” (Trích vở “Henry VI).

Đối mặt với một bề dày lịch sử và văn hóa được chứa đựng trong các tác phẩm của Shakespeare là một thách thức với người đọc hiện đại vốn đã quen với lối ngôn ngữ dễ dãi của tiểu thuyết hiện đại và sân khấu – điện ảnh phục vụ đại đọc. Người ta đã từng chuyển những vở kịch của Shakespeare sang một thứ ngôn từ hiện đại để dễ dàng cho người đọc tiếp cận, thế nhưng, đồng thời cũng làm mất đi những ẩn chứa mang tính lịch sử và văn hóa trong đó. Bởi thế, để đọc và hiểu Shakespeare, chúng ta cần có sự hiểu biết và nhận thức nhiều hơn cái đọc bề mặt ngôn từ. Thay vì kéo Shakespeare gần lại với chúng ta, hãy mở rộng bản thân đến gần “vũ trụ vô biên” để hiểu hơn về ông.

Nguyễn Vũ Hiệp

Mua tổng tập Shakespeare bằng tiếng Anh tại đâyhttp://www.hangcao.info/san-pham/complete-works-william-shakespeare/

Share
Share: