Bài lưu trữ Triết học - Tôn giáo

4000 NĂM LỊCH SỬ CỦA CHÚA – THUỞ BAN ĐẦU (3): CÁC VĂN BẢN CỦA NGƯỜI CANAAN

Hà Thủy Nguyên
Written by Hà Thủy Nguyên

Thị kiến toàn diện này không chỉ giới hạn ở Trung Đông mà khá phổ biến ở thế giới cổ đại. Vào thế kỷ thứ 6 TCN, Pindar cũng cho thấy phiên bản kiểu Hy Lạp về niềm tin trong bài tụng ca của ông dành cho các môn thể thao Olympic:

Đấu tay đôi là cuộc đua, đấu tay đôi

Của con người và các vị thần

Từ một người mẹ, chúng ta đều hít thở

Nhưng sự khác biệt về quyền lực trong vạn vật

Khiến chúng ta xa cách;

Với người này không là gì cả, nhưng với người khác là bầu trời vĩ đại

Mãi mãi như vậy

Tuy nhiên chúng ta đều vĩ đại trong tâm

Hoặc trong thân thể như các đấng Quyền Năng.

Thay vì chứng kiến các vận động viên tự thân cố gắng để đạt được thành tựu tốt nhất, Pindar đã đặt họ ở thể chống lại sự vĩ đại của các vị thần, những đấng vốn là khuôn mẫu cho tất cả thành tựu của loài người. Loài người không bắt chước một cách tuân phục các vị thần như những thực thể xa xôi đến tuyệt vọng, mà sống theo các tiềm năng của bản chất thần thánh của riêng họ.

Thần thoại về Marduk và Tiamat có lẽ đã ảnh hưởng đến những người Canaan, những người đã kẻ một câu chuyện tương tự về Baal-Habad, thần bão và thần sinh đẻ, những người thường được đề cập đến trong các khái niệm gây nhiều tranh cãi kịch liệt trong Kinh Thánh.  Câu truyện về trận chiến của Baal với Yam – Nahar, vị thần của các vùng biển và các con sông, được kể lại trên các bản đất sét có từ thế kỷ 14TCN. Baal và Yam cùng sống với El, vị thần tối cao của Canaan. Trong triều đình của El, Yam đòi Baal phải đầu hàng. Với hai thứ vũ khí phép thuật, Baal đánh bại Yam và sắp sửa giết ông thì Asherah (vợ của El và mẹ của các vị thần) nói giúp rằng sẽ thật không cao thượng khi giết một tù nhân. Baal hổ thẹn và tha chết cho Yam, người đại diện cho đặc tính thù nghịch của biển và sông vốn liên tục gây ra lũ lụt trên Trái Đất, trong khi đó Baal, vị thần Bão tố lại khiến mặt đất phì nhiêu. Trong một dị bản của thần thoại, Baal hạ gục con rồng bảy đầu Lotan, kẻ được gọi là Leviathan trong tiếng Do Thái. Trong hầu hết các nền văn hóa, con rồng là biểu tượng cho sự tiềm tàng, sự vô định hình và sự bất phân. Baal do đó tạm dừng việc quay trở lại trạng thái vô định hình lúc ban sơ trong một hành động thực sự sáng tạo và được tưởng thưởng một cung điện tuyệt đẹp do các vị thần xây dựng để tôn vinh ông. Do đó, trong tôn giáo thời xưa, sự sáng tạo được xem như thần thánh: chúng ta vẫn sử dụng ngôn ngữ tôn giáo để nói về “truyền cảm hứng” sáng tạo, điều đã giúp dịnh hình nên thực tại mới và mang tới ý nghĩa mới cho thế giới.

Nhưng Baal lại phải trải qua một tình thế đảo ngược: ông chết và phải đi xuống thế giới của Mot, vị thần của cái chết và vô sinh. Khi nghe về số phận của con trai mình, đấng Tối Cao El bước xuống ngai vàng, mặc đồ tang và cắt cằm của mình nhưng ông vẫn không thể lấy lại con trai mình. Chính Anat, người yêu và em gái của Baal, đã rời bỏ cảnh giới thần thánh của mình để đi tìm linh hồn song sinh với bà, ham muốn Baal như con bê con đòi mẹ. Khi bà tìm thấy thi thể của ông, bà đã tổ chức một lễ tang để tưởng niệm ông, tóm cổ Mot, đâm hắn bằng thanh kiếm của bà, đốt cháy và nghiền nát hắn như ngô trước khi gieo hắn xuống đất. Những câu chuyện tương tự được kể về các nữ thần vĩ đại khác – Iana, Ishtar và Isis – những người tìm kiếm vị thần đã chết và hồi sinh trên đất. Sự chiến thắng của Anat, dẫu sao đi nữa, cũng phải được tôn vinh từ năm này qua năm khác. Sau đó, chúng tôi không chắc chắn, do chúng tôi không có đầy đủ các nguồn, bằng cách nào Baal được Anat hồi sinh và phục hồi. Sự sùng bái toàn thể và hài hòa này, tượng trưng cho sự hợp nhất tình dục, được hành lễ bởi các nghi lễ tình dục ở Canaan cổ đại. Bằng việc bắt chước các vị thần theo cách này, đàn ông và phụ nữ cùng chia sẻ cuộc đấu tranh của họ chống lại sự vô sinh và đảm bảo sự sáng tạo và sinh sản của thế giới. Cái chết của một vị thần, sự tìm kiếm của nữ thần và sự trở lại trong chiến thắng của thần thánh là các chủ đề tôn giáo liên tục xuất hiện trong nhiều nền văn hóa và sẽ tái diễn trong những tôn giáo Nhất Thần khác như Do Thái, Kito giáo và Islam.

Tôn giáo này trong Kinh Thánh được quy hết về cho Abraham, người đã rời bỏ Ur và cuối cùng định cư tại Canaan trong khoảng thời gian từ thế kỷ 20 đến 19 TCN. Chúng ta không có các ghi chép đương thời về Abraham nhưng các học giả nghĩ rằng ông có thể là một trong những thủ lĩnh lưu vong, đã dẫn dắt người dân của mình từ vùng Lưỡng Hà đến Địa Trung Hải vào cuối thiên niên kỷ thứ 3 TCN. Những người lưu vong này, một số được gọi là Abiru, Apiru hay Habiru có xuất xứ từ Lưỡng Hà và Ai Cập, nói ngôn ngữ Tây Semit, trong số đó có tiếng Hebrew. Họ không phải những người du mục sa mạc thông thường như người Bedouin, những người di cư thành từng nhóm theo mùa, mà khó để phân loại hơn, do đó cũng thường gặp xung đột với các nhà chức trách bảo thủ hơn. Dân trí của họ thường cao hơn người dân sa mạc. Một số phục vụ như lính đánh thuê, những người khác trở thành nhân viên chính phủ, những người khác làm việc như thương gia, người giúp việc hoặc thợ sửa chữa. Một số trở nên giàu có và sau đó có thể cố tìm cách chiếm được đất và định cư. Câu truyện về Abraham trong sách Sáng Thế cho thấy ông phục vụ vua Sodom như một lính đánh thuê và miêu tả những xung đột thường xuyên của ông với nhà cầm quyền Canaan và các vùng lân cận. Cuối cùng, khi vợ ông, Sarah, qua đời, Abraham đã mua đất ở Hebron, tức Bờ Tây ngày nay.

Văn bản Sáng Thế ký về Abraham và các con cháu chính tông của ông có thể chỉ ra rằng có ba làn sóng người dân Hebrew xưa định cư ở Canaan, Israel ngày nay. Một là có liên quan tới Abraham và Hebron đã diễn ra vào khoảng năm 1850. Làn sóng nhập cư thứ hai liên quan đến cháu trai của Abraham là Jacob, người đã đổi tên thành Israel (“Cầu Chúa cho thấy sức mạnh của ông!”), ông định cư ở Schechem, nay là thị trấn Nablus của Ả Rập ở Bờ Tây. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng các con trai của Jacob, người đã trở thành tổ tiên của mười hai chi phái người Israel, đã di cư đến Ai Cập do nạn đói nghiêm trọng xảy ra ở Canaan. Làn sóng định cư thứ ba của người Hebrew diễn ra vào khoảng 1200 TCN khi các bộ tộc tuyên bố rằng họ là hậu duệ của Abraham và rời Ai Cập đến Canaan. Họ nói rằng họ bị người Ai Cập bắt làm nô lệ nhưng đã được giải phóng bởi một đấng có tên Yahweh, vị chúa của thủ lĩnh Moses. Sau khi họ lên đường đi Canaan, họ đã liên minh với người Hebrew ở đó và được biết đến như những người Israel. Kinh Thánh chỉ ra rõ rằng những người chúng ta coi là người Israel cổ đại chỉ là liên minh giữa những bộ lạc khác nhau, bị ràng buộc bởi sự trung thành của họ đối với Jahweh, vị Chúa của Moses, dù cho điều này chắc chắn được rút ra từ những nguồn truyện cổ xưa hơn. Trong suốt thế kỷ 19, những học giả nghiên cứu kinh thánh của Đức đã phát triển một phương pháp phê phán phân biệt bốn nguồn khác nhau trong năm cuốn sách Kinh Thánh: Sáng Thế, Exodus, Leviticus, Những con số và Sự Phục Sinh.

Những điều này sau đó được liên hệ với văn bản cuối cùng mà chúng ta biết tới là Pentateuch (5 cuốn sách của Kinh Cựu Ước) trong suốt thế kỷ thứ 5TCN. Hình thức phê bình này đã đưa ra một loạt các phương pháp khắc nghiệt nhưng không ai đưa ra lý giải thỏa đáng hơn, điều này giải thích tại sao có hai tư liệu khác nhau về các sự kiện chủ chốt trong Kinh Thánh, như sự Sáng Thế hay Đại Hồng Thủy, và tại sao Kinh Thánh thỉnh thoảng lại tự mâu thuẫn. Hai tác giả Kinh Thánh đầu tiên mà tác phẩm của họ được tìm thấy trong Sáng Thế ký và Exodus, có lẽ được viết trong thế kỷ thứ 8, mặc dù một số sẽ cho rằng chúng được viết sớm hơn. Một người được gọi là “J” vì ông ta gọi Thiên chúa là “Yahweh”, người kia là “E” vì ông ta thích sử dụng thần thánh chính thức hơn “Elohim”. Vào thế kỷ thứ 8, những người Israel đã phân chia Canaan thành hai vương quốc riêng biệt. J viết tại vương quốc phía Nam của Judah, trong khi E đến từ miền bắc của Vương quốc Israel. Chúng ta sẽ thảo luận về hai nguồn của Pentateuch, Deuteronomist (D) và Priestly (P) trong lịch sử cổ xưa của Israel – ở Chương Hai.

Chúng ta sẽ thấy rằng trong nhiều khía cạnh cả J và E đều cùng chia sẻ những quan điểm tôn giáo với những người láng giềng ở Trung Đông của họ, nhưng những tư liệu về họ chỉ ra rằng vào thế kỷ thứ 8 TCN, những người Israel đã bắt đầu phát triển một thị kiến riêng biệt. Ví dụ như J, bắt đầu với lịch sử về Chúa bằng một sự sáng thế, khi được so sánh với Enuma Elish, thì thực là một sự hời hợt đến ngạc nhiên:

Vào thời điểm khi Đức Chúa Yahweh tạo ra thiên đường và mặt đất, chưa có cây bụi nào trên mặt đất cũng không có cây dại nào nứt lên, vì Đức Chúa Jahweh không tạo ra mưa trên mặt đất cũng như không có bất cứ người nào canh tác. Tuy nhiên, một trận lụt đã trào lên từ mặt đất và làm ngập nước toàn bộ mặt đất. Đức Chúa Trời đã tạo ra người nam (Adam) từ đất (Adamah). Sau đó, ngài thổi hơi thở của mình vào mũi của người nam và biến anh ta thành sinh vật sống.

Đây là một khởi nguyên hoàn toàn mới. Thay vì tập trung vào sự sáng thế và vào giai đoạn tiền sử như những dị giáo trước đó ở Trung Đông và Canaan, J quan tâm nhiều hơn tới thời đại lịch sử bình thường. Không có sự quan tâm thật sự tới sự sáng thế ở Israel cho tới thế kỷ thứ 6 TCN, khi tác giả mà chúng ta gọi là “P” viết ra câu chuyện vĩ đại của ông trong chương đầu tiên của Sáng Thế Ký. J không hoàn toàn làm rõ việc Yahweh là vị thần sáng thế duy nhất của thiên đường và mặt đất. Đáng chú ý nhất là, dẫu sao, quan điểm của J về một sự phân biệt nào đó giữa con người và thần thánh. Thay vì thần thánh như người sáng tạo ra mình, người nam (Adam), như chính cái tên đã thể hiện, thuộc về mặt đất (Adamah).

Không giống các láng giềng ngoại giáo, J không loại bỏ lịch sử người trần như một thứ thô tục, yếu ớt và không sáng suốt như thời kỳ thiêng liêng, nguyên sơ của các vị thần. Ông lướt nhanh qua các sự kiện thời tiền sử cho đến khi kết thúc giai đoạn huyền thoại, bao gồm những câu chuyện như đại hồng thủy và tháp Babel, và tới giai đoạn bắt đầu của lịch sử người Israel. Sự việc này bắt đầu đột ngột trong Chương Mười Hai khi Abram, mà sau này được đổi tên thành Abraham (Cha của một Đoàn người”), được ra lệnh bởi Đức Yahweh phải rời bỏ gia đình của mình ở Haran, hiện ở vùng đông Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, và di cư tới Canaan gần với Địa Trung Hải. Chúng ta được kể rằng cha của ông Terah, một người ngoại giáo, đã di cư về phía tây với gia đình của ông từ Ur. Bấy giờ, Đức Yahweh nói với Abraham rằng ông có một sứ mệnh đặc biệt: ông sẽ trở thành cha của một quốc gia hùng mạnh một ngày nào đó sẽ trở nên đông đúc hơn cả sao trên bầu trời và một ngày nào đó các hậu duệ của ông sẽ sở hữu vùng đất Canaaan. Tác phẩm của J là lời kêu gọi của Abraham khởi sắc cho lịch sử về vị Chúa này trong tương lai. Ở Trung Đông cổ đại, sức mạnh thần thánh (divine mana) được trải nghiệm trong các nghi lễ và thần thoại. Marduk, Baal và Anat không được kỳ vọng là có liên quan đến cuộc sống bình thường, tục tĩu của những người thờ phụng họ: hành động của họ được diễn xướng trong lúc thiêng liêng. Chúa của Israel dù sao đi nữa, cũng đã thực hiện quyền lực của mình hiệu quả trong các sự kiện hiện tại của thế giới thực. Ông ta đã được cảm nhận như một sự bắt buộc ở tại đây ngay lúc này. Sự khải lộ đầu tiên của ông bao hàm một mệnh lệnh: Abraham phải rời bỏ người dân của ông và du hành về vùng đất Canaan.

(Còn tiếp)

Người dịch: Hà Thủy Nguyên

Tác giả: Karen Amstrong

(Trích “A History of God – The 4000 year quest of Judaism, Christianity and Islam)

Share