Giới thiệu sách Sách Việt hay

BHAGAVAD GITA : CA KHÚC VỀ ĐẤNG CHÍ TÔN

Hunters
Written by Hunters

Trong toàn thể mênh mông của Mahabharata, Bhagavad Gita, tức Chí Tôn ca, chiếm một chỗ biệt lập, nó chính là một trong những phần siêu hình tư biện của sử thi. Nhưng do cấu trúc và cảm hứng, nó đã làm thành một thực thể độc lập.

Những chương đầu của sử thi mô tả những nguyên nhân xa xôi, sau đó là những nguyên nhân trực tiếp dẫn tới hai dòng tộc họ hàng trở nên đối đầu nhau tại Ấn Độ khu vực Tây Bắc; Chí Tôn ca bắt đầu từ lúc cuộc chiến chuẩn bị mở màn. Thánh thi gồm cả thảy bảy trăm câu thơ, còn gọi là “Sách của Bhisma”.

Như những văn bản cổ của Ấn Độ cổ đại, tác phẩm này cũng có thể chẳng được viết ra liền một mạch. Thậm chí người ta còn tranh cãi về việc nó có được viết ra trong khuôn khổ của sử thi Mahabharata hay không. Cái tên mà người ta rất hay gọi nói: Bhagavad-gitopanishad, và cái hình thức rất giống các kinh Upanishad đã khiến nhiều người tự hỏi phải chăng thoạt kỳ thủy đây là một Upanishad, được gom nhặt từ nhiều trường đoạn, là đại diện của nhiều trường phái. Những sự lặp lại, những chủ đề xen kẽ, sự pha trộn giữa các triết lý của phái Samkhya và phái Vedanta đã phủ lên chúng ta bầu không khí của Upanishad. Người ta đã tranh luận xem đâu có thể là phần cũ, đâu là phần mới thêm vào sau đó. Người ta thổi phồng sự chia cắt này, nhưng cũng chẳng chắc chắn được gì hơn sự chia cắt các Upanishad. Người ta thậm chí còn đi đến chỗ giả dụ rằng phần văn bản nguyên thủy kết thúc tại câu 38 ở khúc hai. Thực tế chẳng có bất kỳ chứng cứ hay phương tiện nào để chứng minh được vấn đề này. Văn bản nguyên thủy có thể ngắn hơn; tác phẩm không thuần nhất, và chịu nhiều ảnh hưởng khác nhau; người ta chỉ có thể khẳng định như vậy thôi, không hơn, vì đây là điều thường thất ở các văn bản sử thi khác.

Cũng nên kể ra ở đây về một luận thuyết mới được bảo vệ trong một luận án ở Ấn Độ, ngược lại hoàn toàn, đã giới thiệu Chí Tôn ca như là một hạt ngọc của một Thần khải và rồi dần dần tụ tập, hình thành nên xung quanh cả một chuỗi ngọc chính là toàn bộ sử thi. Về thời gian, người ta cũng chưa có gì chắc chắn với Gita: quá trình sáng tác cả bản sử thi Mahabharata kéo dài từ sáu đến bảy thế kỷ. Tuy nhiên, có thể nhận định rằng triết lý của Chí Tôn ca gợi nhớ đến một vài kinh Upanishad, như Katha Upanishad – một kinh điển không hề mới, và đặc biệt nó có những phần lớn tương đồng với kinh Cvetacvatara; ta có thể đoán rằng chúng có thể được sáng tác trong vùng một khoảng thời gian, có thể là vào thời kỳ phát triển các hệ phái tôn giáo, chừng thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ 1 trước Tây lịch.

Tuy nhiên, vị trí mà Chí Tôn ca có được trong tư tưởng Ấn Độ, sự phổ biến của nó còn quan trọng hơn cả nguồn gốc của tác phẩm. Gần như tất cả mọi trường phái Hindu giáo đều coi đây là một Thánh thư tương đương với các kinh Vệ đà và Upanishad; người ta coi nó là cánh cửa dẫn đến Giác ngộ (Cruti) trong khi phần còn lại của Mahabharata thì dẫn tới Truyền thống (Smiriti).

Những triết gia vĩ đại của Ấn Độ đều gắn bó với nó; như bậc thầy Sankara của học thuyết Nhất nguyên luận, rối các triết gia thuộc trường phái Vedanta (hậu Vệ đà) như Ramanuja (thế kỷ 11) và Madhva (thế kỷ 14) đều có những bình luận nổi tiếng về Chí Tôn ca; và đến Abhinavagupta (thế kỷ 11), một bậc thầy brahman hệ phái Shiva ở Kashmir cũng viết tiểu luận về nó…

Bao thế kỷ đã trôi qua chẳng làm giảm đi sự quan tâm đến thánh thi nổi tiếng. Cho đến tận hôm nay người ta vẫn nghiên cứu nó, tụng đọc nó, thiền định về nó… Tư tưởng phương Tây vốn ảnh hưởng lớn đến nhiều triết gia, nhà cải cách tôn giáo Ấn Độ cũng luôn luôn hòa hợp với tri thức truyề thống của họ; dù cách tiếp cận với những văn bản truyền thống có khác nhau như thế nào thì sự chung thủy với các Upanishad và Chí Tôn ca vẫn chưa bao giờ phai nhạt…

Như đại tông sư Ramakrisna (chết năm 1886), người đã rao giảng tinh thần của Chí Tôn ca đi khắp thế giới, và với cả người đệ tử tiếp bước, một hiền nhân của Calcutta, triết gia Vivekananda, Chí Tôn ca cũng còn nguyên giá trị; thánh Gandhi cũng hiểu biết Gita một cách tuyệt vời; sự tiếp xúc với tư tưởng phương Tây đã mở ra cho ông, cũng như rất nhiều học giả Hinhdu khác một sự hiểu biết thuần khiết hơn, sâu xa hơn với Ấn Độ giáo. Cũng như vậy, thơ ca của thi sĩ vĩ đại (viết tiếng Bengali) Rabindranath Tagore đều mang dấu ấn sâu đậm tinh thần của Chí Tôn ca.

Aurobindo Gosh, thường được biết đến với tên Cri Aurobindo, cũng là người Bengali theo Brahman giáo, đã tham gia hoạt động chính trị. Nhưng, từ những năm đầu thế kỷ 20, tất cả tư tưởng của ông đã chìm đắm trong những cảm xúc bí nhiệm. Người ta nói rằng vào năm 1909, khi đang ở trong tù vì hoạt động chính trị, ông đã thấy được một mặc khải, rằng chính ông được hợp nhất với đấng Krisna trong Chí Tôn ca. Vậy là ông đã từ bỏ các hoạt động quen thuộc của mình, lui về ở ẩn tại Pondichery; ở đó, ông đã viết vô số các tác phẩm, bình luận, hầu hết là về Upanishad và Chí Tôn ca.

Cuối cùng, thánh kinh mà chúng ta đọc ngày nay cũng là sách kinh gối đầu của một giáo phái mà chúng ta gặp ở rất nhiều quốc gia, đó là giáo phái “ý thức của Krisna”, bậc thầy của họ, A.C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada năm 1972 đã dịch Chí Tôn ca ra Anh ngữ với tên gọi Bhagavad Gita as it is, rồi lại dịch sang nhiều thứ tiếng khác nữa, và tác phẩm đã trở thành kinh nhật tụng của tất cả các giáo đồ.

Chí Tôn ca mang hình thức của một đối thoại được một người thứ ba kể lại trong khuôn khổ một đối thoại nữa. Đây là cách thức đã có ở các Upanishad và đây là mẫu mực trong các văn bản sử thi. Người kể chuyện ở đây chính là Xangiaya, người đánh xe của vua Đơritaratra, tường thuật lại một cách trung thực cho vị vua nghe sự chuẩn bị của trận chiến và đặc biệt là khúc interlude này: cuộc đối thoại giữa hoàng tử thứ ba của họ Pandava, chàng Acgiuna, Cung thủ, con trai hợp pháp của Pandu nhưng thực ra lại là con của Ngọc hoàng Indra, với Krisna, người thực chất là hóa thân của thần Visnu, là thượng đế, là Đấng Chí Tôn, qua quan hệ dây mơ rễ má là một người bà con của Acgiuna, còn ở nơi đây tình nguyện làm người đánh xe cho chàng. Vì thế, thoạt đầu lời khuyên của Krisna với Acgiuna có những cẩn trọng, đắn đo trước sự hiện diện của những địch thủ chính là bạn bè và những người bà con; không vượt quá khuôn khổ bình thường mà phong tục thời đó qui định. Song le, rất nhanh chóng, từ khúc Ba, krisna đã rủ bỏ vị thế người phàm của mình để hiển lộ một tính cách tuyệt đối.

Trong Chí Tôn ca, khúc một gần như dành riêng cho việc mô tả các chiến sĩ và những xung đột tâm lý trong tinh thần của Acgiuna – những lo lắng, đắn đo tiếp tục kéo dài cho tới khúc cuối cùng.

Khúc hai mô tả phản ứng của Krisna. Những câu trả lời của Đấng Chí Tôn, cũng ở trên cùng một bình diện với những câu hỏi của Acgiuna, vốn dĩ thường rất ngắn, gần như chỉ là cái cớ để phát triển những ý kiến của Krisna; với một giọng điệu gần gũi với các Upanishad, chúng hiện ra như một sự ca ngợi hành động phù hợp với hoàn cảnh của cuộc sống. Cần biết rằng từ câu thứ 39 giọng điệu đã thay đổi và mang đậm chất rao giảng, giáo dục về hành động, bất động và sự chối bỏ kết quả của hành động.

Một trong những nét đặc sắc nhất của văn bản chính là vị trí quan trọng được dành cho Yoga, theo nghĩa hợp nhất trong thiền định: hợp nhất các giác quan, rồi đến tư tưởng. Ở đây, yoga bỏ đi rất nhiều ý nghĩa kỹ thuật để trở nên gần như bhakti, một sự tôn sùng mà nhiều giáo phái coi như một phương tiện siêu việt để đạt tới giải thoát.

Lồng trong một khung cảnh tư biện, sự rao giảng khá giản dị này pha trộn với rất nhiều những suy tưởng có nguồn gốc khác biệt. Sự tôn sùng bằng cách chú tâm đặc biệt tới mục đích duy nhất (giải thoát) này sẽ được tổ chức xung quanh một vài chủ đề: những lý thuyết samkhya vẫn còn chưa được hệ thống hóa mà người ta sẽ bắt gặp vào những thế kỷ sau, lý thuyết hành động với ý nghĩa “hiến sinh” và những “hành động tốt đẹp” khác… Vị trí mà truyền thống hiến tế chiếm giữ hãy còn khá lớn vì thực sự đã giành gần như trọn vẹn cả khúc Bốn và ở nhiều khúc khác vẫn có vô số câu thơ mà vai trò của hiến tế vẫn được ca ngợi.Sự tôn trọng truyền thống này không chỉ đi kèm với sự ca ngợi giác ngộ như là phương tiện cứu rỗi mà còn kèm theo với một thái độ được kết hợp đồng thời giữa nhập định và chối từ kết quả của hành động. Sự giới thiệu khái niệm nhập định đã đánh dấu ảnh hưởng của những học thuyết yoga; ở đây, vấn đề không còn là ý nghĩa giáo huấn nữa mà là khái niệm kỹ thuật dùng để chỉ ra phương pháp dẫn tới sự tập trung các quan năng của con người. Nhập định và các quá trình tập luyện yoga khác sẽ dẫn tới sự tập trung đó, và vượt qua đó, tới một cái nhình viên mãn về Hiện thực.

Hiện thực ấy, như người Ấn vẫn nói, chẳng khác gì ngoài Brahman, như các Upanishad vẫn mô tả. Tới đó, một lần nữa, bình diện mô tả lại thay đổi: ở bên kia Brahman bất diệt nhưng phi nhân tính, còn có nữa cả một nền tảng, là một Đấng thần thánh, Chí tôn, Tuyệt đối, được nhân hình hóa ra vô số những hiển lộ như chính Đấng Chí Tôn đã tự giảng một cách khoan khoái và sau này Acgiuna nhắc lại; đó là chủ đề của các khúc Mười và Mười Một. Với Đấng Tối Thượng này, ta dâng hiến hết mình trong sự buông bỏ tuyệt đối; sự tiến triển của tư tưởng trong những ca khúc này và mối liên quan giữa chúng có thể được cảm thấy khá rõ.

Từ khúc Mười Ba, những suy ngẫm triết học đề cập đến lý thuyết về nhận thức và trò chơi với ba phẩm tính của Tự nhiên sẽ tiếp tục cho đến hết tác phẩm. Ngay cả khúc Mười tám vốn được coi như dành cho sự buông bỏ để giải thoát cũng được xây dựng trên nền tảng là sự phân biệt ba phẩm tính. Chỉ đến lúc cuối cùng giọng điệu của tác phẩm mới lại mang dáng vẻ bhakti để ca tụng tình yêu bất biến mà Đấng Chí Tôn dành cho các đồ đệ chung thủy của mình.

Đọc mười tám khúc của Chí Tôn ca, ta mới mường tượng được mức độ mà tác phẩm được cấu tạo – giống như trường hợp của chính Mahabharata – từ những mảng khác nhau mà ở đó sự tư biện rốt cục chỉ đóng một vai trò rất phụ.

Trải dài theo cái cách không hẳn là của sử thi anh hùng mà của cả Upanishad, những đoạn văn nối nhau theo một trình tự khá trừu tượng. Cấu trúc chung dễ dãi, cấu trúc riêng ở các ca khúc cũng vậy. Những chủ đề cứ trở đi trở lại trùng lắp, nhiều khi được xử lý theo một cách khác.

Còn về những phần tư biện, một cách đại thể chúng giống như điều mà ta có thể tóm tắt là: để đánh giá được chân giá trị của toàn thể, thì nhất thiết không bao giờ được quên tính cách phục vụ cho toàn bộ sử thi của chúng.

Sự giáo huấn rất đỗi quan trọng đối với tư tưởng tôn giáo Ấn Độ cũng có thể được tóm tắt trong một vài từ. Nó liên quan chủ yếu đến sự chối từ kết quả của hành động – hành vi được hiểu theo nghĩa truyền thống là việc thiện. Nhưng sự chối từ thành quả của hành động cũng chẳng bắt buộc phải kéo theo sự bất động; với một trái tim chẳng quyến luyến đến họ hàng mà chỉ chú tâm vào điều mà Đấng Chí tôn nói mỗi người cần phải cố gắng – theo bản chất, nghĩa là địa vị của mình – mà hoàn thành bổn phận cá nhân. Và vì thế, chàng dũng sĩ Acgiuna đã phải rũ bỏ hết những ngần ngại và cảm thương mà lăn mình vào đám đông, tìm lấy chiến thắng trên sa trường.

Anne – Marie Esnoul và Oliver Lacombe

Trích từ sách “Chí Tôn Ca”, bản dịch của Cao Huy Đỉnh – Nguyễn Quế Dương – Phạm Thủy Ba

Share