Bài lưu trữ Văn chương - Cái đẹp

Cả một mùa thu đã quá giang

Hunters
Written by Hunters

Câu trên được Đặng Tiến trích trong bài “Thi giới Đinh Hùng”: “Hoa quay đầu, cánh bướm cũng vu quy/Cả một mùa thu đã quá giang”. Theo tôi đây là bài có giá trị nhất của cả tập Thơ thi pháp và chân dung, gần như đưa ra cả một lý thuyết về đọc và hiểu Đinh Hùng, trong hoàn cảnh có rất ít người nghiên cứu Đinh Hùng. Bài này cũng là nơi Đặng Tiến thể hiện ác cảm với Hoài Thanh-Hoài Chân, những người không thích thơ Đinh Hùng (“âu đó cũng là một vinh hạnh cho Đinh Hùng”): “Tôi không dám nghĩ Hoài Thanh và Hoài Chân dốt thơ, nhưng các ông ấy có ít chìa khóa quá – nếu không phải chỉ có một chìa khóa passe-partout” (tr. 396). Chàng Hoài Điệp Thứ Lang theo Đặng Tiến (Đặng Tiến lại theo lời Trần Phong Giao) có vẻ rất buồn phiền vì vụ không được Hoài Thanh đoái hoài. Đúng đấy, thế là may đấy…

Bao năm nay người ta cứ khen ngợi ca tụng Thi nhân Việt Nam, trong các lý do có một điều luôn được nhay đi nhay lại: Hoài Thanh (và Hoài Chân) có con mắt xanh, chọn được toàn người làm thơ hay. Lập luận này rất yếu. Những người theo dõi thơ hồi đó tôi thấy ai cũng nói tới các nhân vật ấy cả, loay hoay xoay trở thì đằng nào cũng đâu có thể không kể đến những Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư vân vân và vân vân. Tôi cũng nghe nhiều người nói để hiểu hết thơ trước 1945 chỉ cần đọc ba quyển Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng, Chương Dân thi thoại của Phan Khôi và Thi nhân Việt Nam là đủ. Đúng là giản tiện hóa vấn đề một cách sâu sắc.

Còn câu trích ở cái trước nằm trong cặp: “Vèo trông lá rụng ngoài sân/Công danh phù thế có ngần ấy thôi”: từ “vèo” càng cho thấy rõ hơn Tản Đà phóng túng và chơi nghịch với từ ngữ câu chữ thế nào: tất nhiên không phải là “vèo trông”, mà là trông lá rụng vèo. Từ ngữ thì đơn giản không cầu kỳ nhưng sự kỳ diệu của thiên tài (Tản Đà có phải là thiên tài thơ ca cuối cùng của Việt Nam không nhỉ?) khiến cho một đời Tản Đà làm ra vô vàn câu thơ hay. Cách làm thơ này gần với Lý Bạch, tức là đặt trong sự đối sánh với “kiểu Đỗ Phủ”, trường phái đại ý chưa đúc được chữ khiến quỷ thần phải kinh sợ thì còn chưa ăn thua. Đọc thơ Đỗ Phủ rất mệt, nhất là bài gì 500 câu làm khi đi từ huyện gì đến huyện gì (thơ Đường xếp xó lâu lắm giờ đúng là chẳng còn nhớ gì).

Trong bài “Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi – tập thơ Việt Nam đầu tiên” đặt ra một vấn đề. Tôi đặc biệt quan tâm đến điều này là vì khi xử lý thơ Nguyễn Công Trứ tôi cũng nhận ra vấn đề tương tự và cũng có cách giải thích tương tự. Rất có thể cần phải đặt lại toàn bộ câu hỏi. Đặng Tiến, dẫn cả Trương Chính và Cao Huy Đỉnh, cho rằng Nguyễn Trãi làm thơ dựa trên “lời ăn tiếng nói của nhân dân” (tr. 108). Tiếp theo là một bảng dài hai cột đối chiếu nhiều câu thơ của Nguyễn Trãi so với ca dao, tục ngữ.

Nghe rất có lý phải không? Nhưng không thuyết phục: người ta sẵn sàng nghĩ như vậy vì trong tâm thức ca dao tục ngữ là những gì lúc nào cũng ở đó, có trước tất cả, một thứ ngôn ngữ nguyên thủy, sơ khai. Nhưng điều này chỉ là một thứ huyền thoại do tâm lý dựng nên. Có vô số câu ca dao rất mới: “Hỡi cô tát nước bên đàng/Sao cô tát ánh trăng vàng đổ đi” (mà trong tập sách chính Đặng Tiến cũng trích) hay “Trên trời mây trắng như bông/Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây”. Nghe cũng xa xôi từ thuở nào, nhưng nhiều người rất biết câu đầu là của Bàng Bà Lân (tại nhà bác địa chủ này Vũ Hoàng Chương Nguyễn Bính Tô Hoài đã được một đêm muỗi đốt sưng chân và nhiều thứ khác nữa; sau này BBL cũng vào Nam), câu thứ hai của Ngô Văn Phú.

Như vậy khẳng định Nguyễn Trãi là nhà thơ nhân dân vì ngôn ngữ ông ấy dùng thuộc ca dao là suy luận không ổn: không có gì chứng minh rằng không phải ngược lại: ca dao lấy ngôn từ của Nguyễn Trãi làm chất liệu. Giải quyết đến nơi đến chốn vấn đề này theo tôi là bất khả, vì ngôn ngữ học Việt Nam, rất kỳ cục, gần như không hề để tâm nghiên cứu từ nguyên và tiến triển của từ ngữ, thành ngữ.

+ Viết nốt về quyển sách của Đặng Tiến: bài có giá trị nữa sau bài về Đinh Hùng là “Quang Dũng một thoáng mơ phai” (bài “Những đóng góp của Thế Lữ vào phong trào Thơ Mới” cũng có nhiều ý hay, chẳng hạn khi phân tích hai câu thơ “Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng/Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt” và liên hệ Thế Lữ với Villon: “Où sont les neiges d’antan?” – câu đúng phải là “Mais où sont les neiges d’antan”, rút từ bài “Ballade des dames du temps jadis”).

Theo Đặng Tiến: “thơ Quang Dũng chủ yếu là thơ kháng chiến, mà ít người cách mạng nhớ đến. Còn kẻ ngâm nga, ngược lại không lấy gì cách mạng cho lắm” (tr. 243). Đặng Tiến cũng nhấn mạnh yếu tố truyền miệng của thơ Quang Dũng, cũng như văn xuôi Quang Dũng, mà ít người nói tới. Về văn bản chắc Đặng Tiến không biết sự tồn tại của một tập sách nhỏ in khoảng những năm 1990, hình như phụ san một tờ tạp chí nào đó (Tác phẩm mới?) chuyên đề Quang Dũng, có tiểu sử, bình luận, giai thoại và đặc biệt in khá nhiều thơ, trong đó chắc chắn có “Quán bên đường” (Hồn lính vấn vương vài sợi tóc/Tôi thương mà em đâu có hay) và nhất là vài bài thơ thuộc giai đoạn sáng tác đầu tiên. Trong bài lần này Đặng Tiến nhắc tới bài “Giang hồ” làm năm 1942 (Lá tím lá xanh đường gội nắng/Hoa vàng nhạt nhạt nhớ phiêu lưu/Lối đi khắc khoải lời chim nói/Ve vãn tương tư mảnh gió chiều), nhưng không thấy nói đến mấy bài có trong tập sách trên, như “Cố quận” và nhất là “Chiêu Quân”, chính là bài có những câu như “Tuyết lạnh che mờ trời Hán quốc/Tỳ bà lanh lảnh buốt cung thương” hay “Quân vương chắc cũng say và khóc/Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng”, rồi “Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang”, bài này được bác Goldmund khen hay nhưng vẫn sáo và non lắm 🙂

Quyển sách trên bây giờ lưu lạc đâu tôi cũng không biết, ngày xưa hình như mua được từ một gánh hàng đồng nát.

Một yếu tố nữa là hiện tượng không có văn bản chính xác nhiều bài thơ của Quang Dũng, vì người ta truyền miệng nhau là chính: những câu trong bài “Đôi mắt người Sơn Tây” mà Đặng Tiến trích trong bài cũng đều khác ít nhiều với các bản mà tôi từng đọc và còn nhớ. Vài ví dụ: “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng” thì tôi nhớ “Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng”, “Mẹ tôi em có gặp đâu không/Những xác già nua ngập cánh đồng/Tôi cũng có thằng con bé nhỏ/Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông” thì tôi nhớ “Bao xác già nua ngập cánh đồng/Tôi có một thằng con nhỏ nhỏ”, tôi không nhớ có hai câu “Bóng ngày mai quê hương/Đường hoa khô ráo lệ”, còn hai câu “Bao giờ ta gặp em lần nữa/Thuở ấy thanh bình chắc nở hoa” thì tôi nhớ “Bao giờ gặp lại em lần nữa/Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca”. “Đôi bờ” thì mãi sau này tôi mới tình cờ đọc được trên Internet.

Cao Việt Dũng

Nguồn Nhị Linh Blog

Share

Leave a Comment