Bài độc quyền Dịch thuật

CÔNG NGHỆ TRONG PHÒNG HỌC ĐANG KÌM HÃM NGƯỜI HỌC RA SAO (PHẦN II)

Avatar
Written by Thư Sinh

Một báo cáo năm 2019 từ Trung tâm Chính sách Giáo dục Quốc gia tại Đại học Colorado về việc học cá nhân hóa (một thuật ngữ được định nghĩa một cách mơ hồ, gần như đồng nghĩa với công nghệ giáo dục) đã đưa ra một lời buộc tội toàn diện. Bản báo cáo đã nêu ra những “giả định giáo dục đáng nghi vấn ẩn mình trong các chương trình có ảnh hưởng lớn, sự ủng hộ mang tính tư lợi của ngành công nghiệp công nghệ, các mối đe dọa nghiêm trọng đối với quyền riêng tư của sinh viên và thiếu sự hỗ trợ nghiên cứu.”

Đánh giá từ các bằng chứng, những sinh viên có học lực yếu nhất có thể bị tổn hại nhiều nhất hoặc, trong trường hợp nhẹ nhất, không được hưởng lợi ích gì từ việc lạm dụng công nghệ. Nghiên cứu của OECD cho thấy “công nghệ rất ít hữu dụng trong việc xóa nhòa sự chênh lệch về kỹ năng giữa những học sinh giỏi và kém. Ở Hoa Kỳ, khoảng cách về điểm kiểm tra giữa những học sinh thường xuyên sử dụng công nghệ và những người không sử dụng là lớn nhất ở bộ phận học sinh đến từ những gia đình thu nhập thấp. Một hiệu ứng tương tự đã được phát hiện ra đối với các khóa học “đảo ngược”, trong đó các sinh viên theo dõi các bài giảng ở nhà nhờ công nghệ và sử dụng thời gian trên lớp để thảo luận và giải quyết vấn đề. Một tiết học toán kiểu đảo ngược ở đại học đã mang lại lợi ích ngắn hạn cho học sinh da trắng, học sinh nam và những người vốn đã mạnh về toán. Những người khác thấy không có lợi, với kết quả là khoảng cách kết quả học tập trở nên rộng hơn.

Thậm chí, rắc rối hơn là ở chỗ, có những bằng chứng về việc các sinh viên học lực yếu đang dành nhiều thời gian hơn cho các thiết bị kỹ thuật số so với những bạn đồng môn giỏi hơn họ. Các học sinh trung học trong các khóa học cải thiện điểm (credit recovery) trực tuyến một cách nghịch lý lại thường là những thành viên nghèo của các nhóm thiểu số (hoặc cả hai). Các trường bán công “ảo”, nơi cung cấp các lớp học trực tuyến và thường tạo ra kết quả ảm đạm. Một mạng lưới trường bán công quốc gia có tên là Các trường công lập Rocketship, phục vụ các cộng đồng thu nhập thấp, phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ, với cả những học sinh mẫu giáo dành 80 đến 100 phút mỗi ngày trước màn hình. Một nghiên cứu cho thấy trong các trường học phục vụ nhóm dân tương đối giàu có, 44% học sinh lớp Bốn không bao giờ sử dụng máy tính, so với 34% ở các khu vực nghèo hơn.

Những nguy cơ của việc dựa dẫm vào công nghệ cũng đặc biệt rõ rệt trong giáo dục xóa mù chữ và ở các cấp lớp đầu đời. Thật không may, nếu đánh giá từ những quan sát của tôi về các lớp học tại các trường học nghèo như trường Kevin tham dự, thì đó lại chính là cách thức và thời điểm mà các thiết bị điện tử được sử dụng. Phần lớn thời gian học ở trường tiểu học – ba giờ trở lên, tại một số trường học – được dành cho việc “đọc hiểu” và phần còn lại cho toán học. Đặc biệt là ở những trường có điểm môn đọc hiểu và toán chuẩn hóa thấp, các môn như khoa học xã hội và khoa học tự nhiên hầu hết đã biến mất khỏi chương trình giảng dạy. Và hình thức lớp học tiêu chuẩn là để học sinh luân chuyển qua các “trung tâm”, tự trau dồi các kỹ năng đọc hiểu và toán học trong khi giáo viên làm việc với một nhóm nhỏ. Trong các lớp học tôi đã từng đến dự, ít nhất một trong những trung tâm như vậy luôn bao gồm việc hoạt động trên một thiết bị kỹ thuật số.

Tại sao các thiết bị này lại rất vô ích đối với việc học? Nhiều lý giải khác nhau đã được đưa ra. Khi sinh viên đọc văn bản từ màn hình, nó được hiển thị, họ tiếp thu ít thông tin hơn so với khi họ đọc nó trên giấy. Một thủ phạm thường được nhắc đến khác là sự mất tập trung mà các thiết bị gây ra – cho dù đó là một sinh viên đại học đang lướt Instagram hay một học sinh lớp Một như Kevin dùng ngón tay vẽ những đường màu hồng sáng. Nhưng tồn tại những lý do sâu sắc hơn.

Một là động lực. Nếu Kevin được một giáo viên thay vì iPad yêu thay vì iPad cầu kết hợp 8 và 3, khả năng cao hơn là cậu bé sẽ lưu tâm khi cố gắng làm điều đó. Nhà khoa học tâm lý nhận thức Daniel Willingham cho biết: “Được học từ một người mà bạn có quan hệ cá nhân với họ luôn cho kết quả khác biệt. Điều đó khiến bạn quan tâm hơn một chút về những gì họ nghĩ, và nó khiến bạn sẵn sàng nỗ lực hơn một chút.”

Ít nhất đã có một doanh nhân giáo dục đồng ý. Larry Berger là Giám đốc điều hành của Amplify, một công ty phát triển các chương trình giảng dạy kỹ thuật số nâng cao về toán, khoa học và xóa mù chữ cho trẻ từ mẫu giáo đến lớp Tám. Berger quan sát thấy rằng mặc dù công nghệ có thể vô cùng đáng tin cậy trong việc truyền đạt thông tin, nhưng nó không hữu hiệu trong việc chứng minh “tính hữu dụng xã hội” của kiến ​​thức. “Về khoản đó,” anh nói, “bạn phải có được kiến ​​thức đó trong bối cảnh xã hội với những đứa trẻ khác và một giáo viên, và lý tưởng là một giáo viên mà bạn mong muốn sẽ trở thành vào một ngày nào đó.” Trong khi điều đó có thể là một vấn đề ở những trường học sử dụng ít công nghệ, nó có thể đáng ngại hơn ở các trường như mạng lưới Rocketship, nơi một hoặc hai giám sát viên chỉ được đào tạo ở mức tối thiểu phải quan sát tới 90 học sinh trong thời gian của “Phòng thí nghiệm Học tập.” Các trường đã đạt được kết quả kiểm tra ấn tượng, đặc biệt là môn toán, nhưng một cuộc điều tra của NPR năm 2016 đã thấy một môi trường mang tính đàn áp tại nhiều trường Rocketship. Theo một số phụ huynh và giáo viên, kỷ luật khắc nghiệt đã được áp dụng để ép học sinh hoàn thành nhiệm vụ…

(Còn tiếp)


Natalie Wexler

Nguồn: Technology Review

Dịch bởi: Thái Thanh.

Share