Chưa phân loại

Hoàng hôn của các vị thần – P1 – Phụ chương: Lý Triều bản kỷ

Hà Thủy Nguyên
Written by Hà Thủy Nguyên

Để nhìn thấy tổng thể hơn các nhân vật của Hoàng hôn của các vị thần, chúng tôi xin được cung cấp Phụ chương: Lý Triều bản kỷ và Trần Triều bản kỷ.

 

PHỤ CHƯƠNG 1: LÝ TRIỀU BẢN KỶ

Tại độ 0 của thời gian và không gian, Mad tọa thiền bán sen ung dung ngồi ngắm những dòng sự kiện trôi nổi. Đây là nơi cô thường trốn vào mỗi khi thấy dòng đời ngoài kia nhạt nhẽo và vô vị. Những cuộc đấu tranh chính trị, những tuyên bố hùng hồn của đám văn sĩ, những cuộc mưu sinh rẻ tiền… thường xuyên làm cô chán. Hồi trước, cô hay ngồi “bế quan” ở nhà để luyện công phu xem phim. Còn từ ngày có khả năng nhìn lại được các hồi ức kiếp trước, Mad xem phim ngay từ trong bộ nhớ cả vạn năm của mình cho tiện. Một trong các bộ phim dài tập của thế giới hồi ức là nhà Lý.

Nhà Lý là triều đại đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Các vua Lý, cùng với quan quân, linh thần phò tá đã cùng nhau gây dựng một triều đại vừa thịnh vượng cũng vừa mơ mộng vào bậc nhất trong suốt chiều dài  lịch sử. Dưới thời Lý, kinh đô được dời  về Thăng Long, một vùng đất có mạch phượng hoàng. Những nền tảng đầu tiên của nền văn hóa được thiết lập, bộ luật đầu tiên được viết, một hệ thống thần Phật mới được sắp xếp một cách rất quy củ.

Không quá mải mê xây dựng quân sự, Lý triều tập trung nhiều vào các giá trị văn hóa. Các vua Lý chỉn chu gây dựng từ phong cách ẩm thực cho đến những đường nét kiến trúc, cho đến xây dựng một lớp học giả trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa thấu nhân tâm. Nhưng việc này chỉ duy trì được vài đời đầu nhà Lý mà thôi.

Về cách tổ chức chính quyền, nhà Lý chủ trương tản quyền. Thay vì quyền lực tập trung vào trung ương, vua Lý phong vương cho hoàng tộc, cắt cử trấn giữ các vùng, cho phép các phiên vương này tổ chức chế độ và quân đội riêng. Cách làm này cho thấy các vua Lý rất lười thâu tóm, nhưng lười một cách hợp lý. Vì lúc bấy giờ Đại Việt chưa phát triển, đi lại khó khăn, trung ương không thể kiểm soát địa phương. Thế nên, thay vì kiểm soát địa phương thì các vua Lý chỉ kiểm soát những kẻ đứng đầu địa phương.

Hệ thống các thần linh cai quản địa phương cũng được bố trí tương tự. Nhưng để tránh sự tranh chấp giữa các thần, các vua Lý đưa đạo Phật dựa trên con đường của Thích Ca Mâu Ni để xoa dịu.

Các vua Lý đời đầu, từ Lý Thái Tổ, đến Thái Tông, Nhân Tông, Thần Tông đều có xuất xứ đều là những bạch vĩ hồ xuất thế, nên coi trọng văn hóa hơn hết, lại giỏi mưu lược, nhờ thế mà quốc gia vững bền. Sau đó, những vị vua khác tầm thường hơn. Đến thời Huệ Tông, Chiêu Hoàng, dù cố gắng gây dựng lại thời hoàng kim, nhưng thời đại đã xoay vần.

  1. THÁI TỔ LÝ CÔNG UẨN

Lý Công Uẩn xuất thân là trẻ mồ côi. Mặc dù nhiều sử gia cho rằng Uẩn là con trai riêng của Thiền sư Vạn Hạnh nhưng điều này không đúng. Khi Uẩn ra đời trong chùa Cổ Pháp, Thiền sư Lý Khánh Văn đã biết trước do sự báo mộng của nhiều vị thần linh, liền nhận làm con nuôi.

Lúc bấy giờ, Vạn Hạnh đang thống lĩnh giới học giả Phật giáo ở khu vực đồng bằng Sông Hồng. Vạn Hạnh vốn là một con linh miêu thành tinh, đầu thai nhiều kiếp, lắm mưu nhiều kế, thông hiểu kỳ môn độn giáp, biết nhiều phép thuật lạ đời. Thiền sư Khánh Văn sớm đã biết thân phận thật sự của Vạn Hạnh, nhưng vẫn đánh liều gửi Lý Công Uẩn đến cho Vạn Hạnh, để Vạn Hạnh nhận làm đệ tử và dậy dỗ.

Lý Công Uẩn thông thạo kinh sử, thuộc làu kinh điển Phật giáo nhưng không gia nhập Phật giáo. Nhưng điểm đặc biệt hơn cả, Uẩn giỏi luyện phép thuật và từ sớm đã mày mò tìm hiểu bản chất của thực tại. Tự ý thức được khả năng của mình, Uẩn vẫn luôn tự cho mình là người có thể xoay chuyển thời đại.

Thuở bé, tính Uẩn vốn nghịch ngợm, nên bị thày Vạn Hạnh trách phạt. Vạn Hạnh trói cứng Uẩn lại ngoài sân. Nửa đêm muỗi đốt chi chít. Uẩn thấy thầy đang tọa thiền trong nhà, liên cất giọng ngâm thơ:

“Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên,
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên.
Dạ thâm bất cảm trường thân túc,
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên.”

Tức là

“Lấy trời làm gối, đất làm chăn

Mặt trời, mặt trăng nằm cùng ta ngủ một giấc dài

Đêm khuya không dám duỗi chân dài ra

Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng ngửa”

Khi pháp thuật ngày càng mạnh, Uẩn luyện được thân rồng. Thân rồng này vốn là tiền kiếp Hiên Viên Hoàng Đế của Uẩn. Hoàng Đế cũng là vị vua đầu tiên thiết lập văn hóa của Trung Hoa. Đến nay, Uẩn vẫn tiếp tục làm công việc đó.

Uẩn khi còn làm Điện tiền chỉ huy sứ, tức Bộ trưởng Bộ Công An dưới thời Tiền Lê, Vạn Hạnh đã tung tin bằng một lời sấm về việc nhà Lý sẽ lên thay các vua Lê. Lê Ngoạ Triều tiêu diệt hết tất cả những người họ Lý ở Đại Việt trừ Uẩn. Ấy là bởi Ngọa Triều nghĩ rằng Uẩn chỉ là con nuôi của họ Lý. Hơn thế nữa, Uẩn thường tỏ ra mẫn cán và trung thành, lại suốt ngày chỉ biết đắm đuối chạy theo Phất Ngân Công Chúa – em gái của Ngọa Triều. Ngọa Triều khinh Uẩn là kẻ chỉ biết “nhi nữ tình trường” nên không đề phòng.

Chi Hậu Đào Cam Mộc, đại thần của nhà Lê, kéo bè kết đảng, cố lôi kéo Uẩn vào cuộc đảo chính này. Uẩn trù trư không quyết, tỏ vẻ sợ hãi và khuyên Mộc nên biết an phận. Vạn Hạnh và Mộc càng tung tin đồn về lời sấm. Lời sấm khiến Ngọa Triều bất an, tìm mọi cách ám sát Uẩn. Uẩn vì bảo vệ mình, hàng đêm dùng phép thuật tấn công Ngọa Triều. Không bao lâu, Ngọa Triều qua đời.

Do Đào Cam Mộc và Vạn Hạnh thể hiện âm mưu đảo chính quá rõ ràng, triều đình không nể phục. Được sự bảo đảm của công chúa Phất Ngân, Uẩn được các quan trong triều đưa lên ngôi. Lúc này, Vạn Hạnh và Mộc dù không phục nhưng đành phải chịu.

Khi Uẩn mới lên ngôi vua, rồng thần các nơi đến tấn công, gây lũ lụt khắp nơi. Uẩn tức giận, hóa thành Rồng Vàng, giết sạch những rồng thần nổi loạn. Đồng thời, Uẩn cắt đứt mạch biển khắp các dải từ Tô Mậu(tức Quảng Ninh bây giờ) đến Diễn Châu. Từ đó, dưới triều đại của Uẩn, nhân dân sống trong cảnh mưa thuận gió hòa.

Trước đó, khi còn làm Điện tiền chỉ huy sứ, Uẩn thường xuyên đi công cán các vùng. Đi đến đâu tiêu diệt thần, quỷ đến đó. Thần, quỷ nào quy phục thì cho xây đền, chùa thờ phụng. Thần quỷ nào bất tuân thì giết, bắt đầu thai làm người. Nhờ vậy, con đường đến ngôi báu của Uẩn không gặp cản trở gì.

Uẩn rất nhiệt tình với công cuộc xây chùa. Chùa của Uẩn khác với các hệ thống Chùa khác trên thế giới. Bố trí chùa thường được cấu trúc theo hình chiếc đinh ba. Chiếc đinh ba là biểu tượng sức mạnh của thần Shiva ở Ấn Độ và thần Poseidon ở Hy Lạp. Chiếc đinh ba biểu thị cho sự phát triển không ngừng. Bằng cấu trúc chùa này, Uẩn nhanh chóng chiếm các mạch khí ở miền Bắc. Hơn nữa, Uẩn chỉ tôn thờ tinh thần Thích Ca, các vị Phật khác c như A Di Đà, Văn Thù, Quán Âm Bồ Tát… có vị trí kém xa. Hơn nữa, có muốn chiếm được mạch khí Uẩn tạo ra cho Thích Ca cũng thất bại vì luồng khí từ những ngôi chùa hình đinh ba phóng ra quá mạnh. Bằng cấu trúc này, Uẩn đã lấy công làm thủ, chủ động tấn công mọi kẻ dám xâm phạm các thánh địa mà Uẩn thiết lập.

Ở một kiếp xa xôi, khi còn là thần Hy Lạp, Uẩn là Dionysus, vị thần sáng tạo ra quy trình làm rượu nho. Uẩn và Dionysus cùng thống nhất ở quan điểm kiến tạo nền văn hóa. Đó là, ẩm thực tạo nên các tập quán đầu tiên. Cho nên, thay vì xây dựng đội ngũ học giả, Uẩn quan tâm đến việc tạo ra các món ăn độc đáo, ngon lành ở các vùng trong cả nước. Thay vì tuyển đầu bếp trong cung, Uẩn chọn những đầu bếp trong dân gian về nấu, mỗi tháng lại thay đầu bếp một lần. Nhờ vậy, Uẩn vừa được ăn các món ngon mà người dân cũng vừa có được cơ hội thưởng thức, đầu bếp nhờ thế cũng dần nâng cao tay nghề. Tương tự như với ẩm thực, các ngành như kiến trúc, âm nhạc cũng được Uẩn đưa ra quy trình tương tự.

Thời Hán Vũ Đế, Uẩn đã từng là Đông Phương Sóc. Đông Phương Sóc giỏi tài thuyết khách, pháp thuật cao cường, tính tình lại phóng đãng, bất chấp chính tà. Chính Đông Phương Sóc đã tạo dựng nhiều nền tảng của việc tu luyện tiên thuật ở thời Hán. Vì thế, đến thời làm Lý Công Uẩn, người này bất chấp chính tà, không quan tâm đến khẩu thiệt thị phi, hành vi vừa bí hiểm lại vừa có phần không đoan chính, nhưng người đời không ai là không thấy bị thu hút và thuyết phục.

Dưới thời của Uẩn, nhà Tống ở phương Bắc chỉ coi Đại Việt như một châu phủ, vẫn miệt thị gọi là An Nam, coi Uẩn như Tiết độ sứ. Uẩn chẳng quan tâm, mặc vua Tống gọi Uẩn là gì thì cứ gọi. Vua Tống sắc phong cho Uẩn làm vương, Uẩn cũng nhận. Nhưng tuyệt nhiên, Uẩn không bao giờ lên phương Bắc triều kiến, lại không bao giờ cống nạp. Sứ thần phương Bắc mỗi khi tới Đại Việt, được tiếp đón đúng lễ nhưng không nồng nhiệt.

Phần lớn thời trị vị, Uẩn dành để đi đàn áp quỷ thần, sưu tầm món ăn ngon, nhạc hay và vui vầy với Phất Ngân công chúa. Những việc này quả thật là không thể được ghi chép trong chính sử.

Lời bình của Mad: Thiết nghĩ, Uẩn sống đời của bậc đế vương đúng nghĩa. Một đời của Uẩn, đi lên từ đứa trẻ mồ côi không danh phận, giữa lúc đảo chính ầm ầm vẫn ung dung ngồi cười nhìn bàn cờ thế sự, đến lúc lên ngôi vua không kẻ nào dám bất tuân. Một khi đã tàn sát thì phải tàn sát một cách “epic” như trận đánh với Phục Hy. Một khi đã hưởng thụ thì rượu phải thực say, đồ ăn phải thực ngon, nhạc phải thực hay, cảnh phải thực đẹp. Một khi đã phong hậu thì phải phong một lúc 6 hoàng hậu, nhưng chỉ biệt đãi mỗi Phất Ngân. Vua tính lười biếng nhưng lại được người đời ca ngợi là nhân đức, thâm hiểm nhưng được người đời cho là có lòng với Phật pháp. Nếu so với mưu đồ của Vạn Hạnh thì Uẩn còn cao minh hơn một bậc.

 

  1. VẠN HẠNH THIỀN SƯ

Vạn Hạnh vốn họ Nguyễn, là thiền sư nổi tiếng thời Lê Đại Hành. Mỗi lời Vạn Hạnh nói ra đều được các vị vua thời Tiên Lê coi là sấm. Vạn Hạnh vốn là một con linh miêu thành tinh đầu thai. Trước đó, Vạn Hạnh đã từng là Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị và Ngô Dụng, quân sư của Tống Giang.

Vạn Hạnh thực tình không muốn Uẩn lên ngôi nên sớm tung tin ra lời sấm trong thiên hạ. Thực chất là muốn mượn tay Ngọa Triều để giết Uẩn. Khi Uẩn phát hiện ra thân phận thật của mình, quyền năng cũng theo đó mà tăng nhanh. Vạn Hạnh không còn kiểm soát được nữa, lúc này nhận ra mưu đồ của Thiền sư Lý Khánh Văn thì đã quá muộn.

Bài kệ cuối cùng của Vạn Hạnh như sau:

“Thân như bóng chớp có rồi không

Cây cối xanh tươi thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”

Đây là sấm ký cuối cùng cho chính bản thân mình! Bao công lao gây dựng của Vạn Hạnh ở Đại Việt đến phút cuối lại bị Uẩn cướp trên bàn tay. Thôi thì đành tự an ủi bản thân đó là do lẽ thịnh suy, rồi tự khích lệ mình không nên sợ hãi. Sự an ủi và khích lệ này cho thấy Vạn Hạnh đã lo lắng lắm rồi. Sau này, Vạn Hạnh đầu thai làm Hồ Chí Minh, báo chí nhà nước cũng coi lời ông Hồ như lời sấm. Nhưng dù cố cướp lấy họ Hồ, mèo già vẫn cứ là mèo già, không thể trở thành cáo được.

 

  1. LÊ PHẤT NGÂN – LÝ HUỆ TÔNG

Lê Phất Ngân vốn là công chúa con vua Lê Đại Hành, chị gái của Ngọa Triều. Trong số 6 hoàng hậu, Uẩn yêu thương Phất Ngân và đãi ngộ bậc nhất. Không phải vì để lấy lòng tôn thất nhà Lê cũ mà vì tấm chân tình của Phất Ngân dành cho Uẩn.

Phất Ngân từ thuở xa xưa đã từng là Đông Hải Long Vương. Dưới thời Hán Vũ Đế, Phất Ngân là Bình Dương công chúa. Mặc dù Bình Dương công chúa là vợ của Vệ Thanh tướng quân nhưng thường xuyên qua lại tình tứ với Đông Phương Sóc, tức Lý Công Uẩn. Ở Olympus, Phất Ngân đã từng là vị phán quan Radamathys, có khả năng nhìn xuyên thấu tâm can của mọi linh hồn và thiêu rụi các linh hồn tà niệm bằng chiếc gương hủy diệt.

Phất Ngân tính tình hiền lành, coi trọng nhà Lê, cũng không coi trọng nhà Lý, chỉ một lòng theo Uẩn, bảo vệ và chăm sóc cho Uẩn. So với quyền năng của Uẩn, Phất Ngân vượt trội hơn rất nhiều, nhưng rất ít khi thi triển. Chỉ khi nào Uẩn gặp nguy hiểm, Phất Ngân mới ra tay cứu đỡ.

Sau khi Uẩn qua đời, Uẩn vội vã chạy sang nước Anh để đầu thai. Một mình Phất Ngân phải xoay sở giữ cơ đồ nhà Lý. Nhưng đến thời Thần Tông, vua quá ham thích săn tìm vật kỳ lạ trong thiên hạ, lại trọng dụng đám chồn tinh, mèo tinh đầu thai. Chúng chui rúc vào triều đình, bòn rút ngân quỹ, lộng hành càn quấy. Do đó, các vị quan lại xuất thân thì hồ tinh không còn được trọng dụng nữa. Văn hóa dần suy đồi. Quyền lực nhà Lý suy giảm. Đến thời Cao Tông tầm thường, nhỏ nhen, bắt đầu mua quan bán tước, triều đình suy vi cực đỉnh. Quách Bốc nổi loạn, định cướp ngôi nhà Lý.

Phất Ngân thấy cảnh ấy, trước đó đã đầu thai làm Hạo Sảm, con trai của Cao Tông, để giữ cơ đồ mà Uẩn gây dựng. Hạo Sảm phải chạy loạn Quách Bốc, đến nương nhờ họ Trần ở Thiên Trường. Tại đây Hạo Sảm quen biết Thủ Độ và Trần Thị Dung. Hạo Sảm yêu thích Dung, lấy Dung làm vợ. Không ngờ Dung là hậu kiếp của Nữ Oa, vốn ôm thù Uẩn giết chồng mình là Phục Hy, nên cố tình quyến rũ Hạo Sảm nhằm trả thù họ Lý. Nữ Oa hơi sai lầm, vì Uẩn vốn cũng chẳng quá coi trọng nhà Lý, nên đã đầu thai tuốt ở bên Anh.

Lúc đó, một thân một mình Hạo Sảm, tức Huệ Tông đương đầu với kẻ địch, không người trợ giúp. Bên ngoài, nhà Trần tước bỏ mọi quyền lợi chính trị của Huệ Tông, bên trong Trần Thị Dung hành hạ tinh thần của Huệ Tông, ngang nhiên tình tự cùng Thủ Độ trong cung cấm.

Huệ Tông uất hận phát điên, tìm kiếm các pho bí kíp pháp thuật để chống lại Dung. Nhưng cứ mỗi khi luyện công thì lại thấy cảnh Thủ Độ và Trần Thị Dung ân ái. Huệ Tông tẩu hỏa nhập ma, điên điên khùng khùng.

Sau khi Huệ Tông gả Chiêu Hoàng cho Trần Cảnh, Thủ Độ đến tìm Huệ Tông bức tử. Huệ Tông giận dữ nhưng lúc này cũng đã mệt mỏi lắm rồi. Thôi đành buông xuôi, kết thúc một thời làm vua đau khổ.

Sau này, ở thời Hậu Lê, Phất Ngân đầu thai làm vua Lê Chiêu Thống, cũng một lòng muốn giữ cơ đồ của Thái Tổ Lê Lợi. Nhưng tính toán của Chiêu Thống không đọ được với những kẻ gian hùng lúc bấy giờ như Nguyễn Hữu Chỉnh và Quang Trung Nguyễn Huệ. Lê Chiêu Thống muốn bán nước cho nhà Thanh để bảo toàn cơ đồ, mượn tay nhà Thanh triệt hạ Chỉnh và Huệ. Chỉ tiếc là nước chẳng còn gì mà bán.

 

Lời bình của Mad: Hoàng hậu như Phất Ngân quả là đã vượt trên phận vị của Hoàng hậu. Ở thời bình, nhân cách như vậy thực là thanh cao, thoát tục. Nhưng ở thời loạn, Huệ Tông đâu còn có thể có cách nào khác ngoài phát điên. Có khi nhờ phát điên mà bảo toàn được nhân cách.

 

 

  1. NHÂN TÔNG LÝ CÀN ĐỨC

Nhân Tông Lý Càn Đức là con trai của vua Thánh Tông và nguyên phi Ỷ Lan. Vị vua này lên ngôi từ khi còn trẻ, nguyên phi Ỷ Lan buông rèm nhiếp chính. Về sau ở thời Trần, Càn Đức đầu thai làm Trần Cảnh, cũng lên ngôi từ khi mới 7 tuổi, triều chính đều do một mình Thủ Độ cáng đáng. Nhìn chung, đây là một vị vua có truyền thống ngồi hưởng thụ. Trước đó rất xa xưa, Càn Đức đã từng là Trụ Vương lừng lẫy, dám ngạo nghễ sờ vú Nữ Oa giữa đền thờ.

Càn Đức lười học hành kinh sử nhưng lại giỏi dùng người. Dưới thời Càn Đức, Văn Miếu được thành lập, thành nơi trung tâm học tập của toàn quốc. Đồng thời, Càn Đức bắt đầu tổ chức các khoa thi đầu tiên. Được sự hỗ trợ của Nguyên phi Ỷ Lan, Thái sư Lý Đạo Thành, Thái Uý Lý Thường Kiệt, Càn Đức cho soạn bộ luật đầu tiên có tên là Hình Thư, rồi đặt ra tiêu chuẩn cho sách vở ghi chép khoa học.

Khi Càn Đức còn nhỏ tuổi, nhà Tống đem quân sang xâm lược. Đi cùng với quân Tống là những thế lực thần linh hắc ám từ phương Bắc, Càn Đức đã cho phép một nhóm 8 người tên là Bát Long, vốn là 8 vị địa tiên, học trò của Đông Du Bát Tiên, đánh lại kẻ địch. Tám vị vị địa tiên đó được nhắc tới trong cuốn “Điệu nhạc trần gian”.

Khi Càn Đức lớn lên, yêu ma vẫn hoành hành, quỷ thần vẫn nổi dậy. Càn Đức tiếp tục sự nghiệp đàn áp của Công Uẩn nhưng tinh vi hơn nhiều. Thay vì tàn sát, Càn Đức thiết lập hệ thống Tứ Trấn Thăng Long, gồm đền Bạch Mã thờ Long Đỗ, đên Voi Phục thờ Linh Lang, đền Cao Sơn thờ Cao Sơn, đền Trấn Vũ thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Hệ thống tứ trấn này không tạo ra hệ thống tứ giác như vuông, chữ nhật, hình thang hay hình thoi. Vì bản chất, Tứ Trấn này là neo đỡ cho một vòng xoáy lấy chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột là tâm. Vòng xoáy này là lan tỏa dạng năng lượng của Càn Đức ra bốn cõi, trấn áp được quỷ thần.

Càn Đức hành xử ôn hòa, với bất cứ ai cũng khen ngợi, ca tụng, nhưng thực tình thì không có mấy. Lúc bấy giờ, từ Nguyên phi Ỷ Lan cho tới Lý Thường Kiệt, Càn Đức không thân thiết với bất cứ ai. Mỗi khi chán nán, Càn Đức thường gọi Lý Công Uẩn hiện về, cùng nhau trò chuyện đàm đạo, rất tâm đầu ý hợp.

Mạch đất phượng hoàng ở Thăng Long mà Uẩn gây dựng, nhờ có Càn Đức mà vững bền. Hệ thống văn hóa, chính trị, thần quyền của Uẩn thiết lập, nhờ có Càn Đức mà ngày càng phát triển. Nhưng lẽ đời, cực thịnh thì sẽ dẫn đến suy. Sau Càn Đức, các đời vua sau đã đánh mất dần tinh thần của Công Uẩn vậy.

Ở thời các vị thần Olympus, Càn Đức chính là thần Hermes, vị thần trộm cắp và kinh doanh. Vị thần này không chỉ là người đưa tin cho Zeus mà còn là vị thần dẫn độ buôn bán vong linh cho Hades. Chính quyền năng của Hermes đã khiến các vong linh của Thăng Long lúc bấy giờ ngoan ngoãn đầu thai theo quy trìn không có tình trạng vong linh đứng ngồi la liệt đầy đường như hiện nay.

 

  1. THÁI ÚY LÝ THƯỜNG KIỆT

Thái Uý Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn. Thương Kiệt từ bé đã không phân biệt được rõ giới tính, nên sau này, khi vào triều, dễ dàng nhận lời thách thức của vua Thánh Tông, dẫn đao tự cung để đạt được quyền lực quân sự tối thượng.

Thường Kiệt hết lòng hỗ trợ Càn Đức giữ vững bờ cõi. Khi nhà Tống rục rịch binh lính chuẩn bị sang tấn công Đại Việt, Thường Kiệt đã táo bạo đề xuất: “Ngồi im đợi giặc chi bằng đánh giặc trước”. Tập kích bất ngờ, Thường Kiệt nhanh chóng chiếm được Châu Khâm, Châu Ung, Châu Liêm (tức Quảng Đông, Quảng Tây), nhưng không đóng quân lại lâu. Thường Kiệt mang theo quân lương rất lớn, phát chẩn cho ba châu này, rồi viết “Phạt Tống lộ bố văn” tuyên truyền khắp nơi. Do đó, lòng dân Tống thầm oán trách vua Tống, còn lòng quân Tống thì chán nản, không muốn chến tranh với Đại Việt.

Sau khi rút quân về, Thường Kiệt vội vã lập phòng tuyến sông Cầu. Không chỉ tuyển mộ binh hùng tướng giỏi, Thường Kiệt còn thu nhận cả những nhân tài trong dân gian đặc biệt giỏi bố trí các cơ quan kỹ thuật để đặt bẫy ở phòng tuyến. Ngoài ra, Thường Kiệt đặc biệt trọng dung nhóm tám người Bát Long để đánh lui các thế lực thần linh của nhà Tống, nhờ vậy cuộc chiến chống quân Tống đại thắng tưng bừng.

Lý Thường Kiệt chính là thần Long Đỗ. Mặc dù giỏi tài chinh chiến nhưng ông không thích chiến tranh. Nếu không phải địch ép mình quá đáng, ông sẽ không bao giờ gây chiến tranh. Sau khi đánh thắng, ông lại sớm lấy được nhân tâm, nhờ vậy, vạn sự đều được sắp xếp an lành.

Ở vai trò của thần Long Đỗ, ông vừa trấn giữ phía Đông Thăng Long, lại vừa xây dựng văn hóa dân gian ở Thăng Long. Các lễ hội ở vùng này đều do Long Đỗ đưa ra nghi lễ và tiêu chuẩn. Tiếc là sau này, khi Hồ Chí Minh và đám chồn tinh, mèo tinh chiếm được miền Bắc Việt Nam, nhiều lễ hội đã bị hủy hoại.

 

  1. UY MINH VƯƠNG LÝ NHẬT QUANG

Uy Minh vương Lý Nhật Quang là con trai thứ của Lý Công Uẩn. Uẩn ban đầu giao phó cho Nhật Quang công cuộc đánh dẹp quỷ thần ở Đại Việt, nhưng Nhật Quang không mặn mà lắm. Nhật Quang không thích chiến tranh, chỉ thích làm ăn kiếm tiền, xây dựng phủ đệ bề thế. Tài kiệt hiệt của Nhật Quang không thua Phật Mã là bao, nên Uẩn đã cắt cử Nhật Quang vào Hoan Châu (tức Nghệ An).

Hoan Châu, cũng như Thăng Long là nơi có phụng mạch, nhưng bấy giờ còn hoang sơ nhiều giặc cướp. Nhật Quang từ khi vào Hoan Châu, cảm thấy rất yêu thích nơi này vì non xanh nước biếc, chỉ hiềm những cơn gió từ Ai Lao thổi sang quá khắc nghiệt.

Nhật Quang xây dựng quân đội, tiến đánh Ai Lao, mở rộng biên giới Đại Việt. Vừa tiến quân, Nhật Quang vừa thiết lập tuyến đường vận chuyển gỗ quý, trầm hương, ngà voi… từ Ai Lao sang Đại Việt. Tuyến vận chuyển này dẫn thẳng lên Thăng Long. Nhờ vậy, dân Hoan Châu lẫn dân Ai Lao ngày càng phồn thịnh lên. Nhờ thế, vua Ai Lão cũng từ bỏ nỗi hận mất đất.

Cuối đời, Nhật Quang nhận lệnh của Công Uẩn trong một giấc mơ, là phải trở thành thần trấn giữ đất Hoan Châu. Dù Nhật Quang nhiều lần từ chối, nhưng Uẩn vẫn ép Nhật Quang. Do đó, Nhật Quang đành trở thành thần trấn giữ Hoan Châu.

Sau  khi qua đời, Nhật Quang được dân Hoan Châu tôn thờ, không thể đầu thai đi đâu được. Dù xứ Hoan có đẹp mấy, Nhật Quang cũng không tránh khỏi chán nản. Nhật Quang bèn nghĩ ra hát ví, hát dặm, truyền cảm hứng vào người dân xứ này.

Vào thời Hậu Lê, hệ thống mười vị quan hoàng được thiết lập, trong đó có Quan hoàng Mười trấn thủ Nghệ An, chức vị này đầu tiên được giao cho Nhật Quang. Sau đó Nhật Quang nhường cho Nguyễn Xí, và gần đây nhất chính là Hades.

Nhật Quang một đời mẫn cán và giàu có nhưng lại quá cô đơn vì giữ trọng trách quan trọng. Xây dựng hệ thống ở Hoan Châu là cách thức để gìn giữ mạch đất này, nhưng Nhật Quang lại bị dèm pha là âm mưu tạo phản. Không thể giãi bày, Nhật Quang chỉ biết ngậm đắng nuốt cay. Thôi thì để trở thành thần linh, ai cũng phải ngậm đắng nuốt cay vậy.

 

Share

Leave a Comment