Bài lưu trữ Lịch sử Văn hoá

LÁ XĂM NGÀY TẾT

Hunters
Written by Hunters

“Xăm” chữ Hán là “Thiêm” (籤), nhưng lại thường được bên ta phiên âm thành “Sám” (Vd: Xăm Tả quân của Lăng Ông Bà Chiểu là “Tướng quân linh sám”), có lẽ do đọc trại âm tiếng Tàu của nó là “qiān”.

“Xăm” hay “Thiêm”, là những thẻ tre dùng để bói toán, rất tiện dụng để đáp ứng nhu cầu “tiên tri” họa phước hên xui khi ai đó cảm thấy bối rối trước một vấn đề cụ thể. Đây là một dạng vấn bốc, dùng bói toán để mượn năng lực siêu nhiên giải đáp cho những nghi vấn của mình. Nhờ đó, trò xin xăm được phổ biến khắp các chùa chiền, đạo quán cõi Á Đông.

XUẤT XỨ

Tất nhiên, các dạng “khoa học huyền bí” (còn gọi “văn hóa tâm linh”) của Á Đông đều khởi nguồn từ Trung Hoa.

Từ xa xưa, người Tàu đã dùng cách gieo quẻ âm dương (xin keo) để hỏi ý thần linh mỗi khi phải lựa chọn quyết định trước những vấn đề quan trọng.

Hơn 2.500 năm trước công nguyên, Hiên Viên (Hoàng đế) đã gieo quẻ âm dương khi ra trận đánh nhau với thủ lĩnh Xi Vưu. Nhưng gieo quẻ âm dương thì chỉ có được giải đáp tối giản “Yes or No”, trong khi người ta cứ muốn đối thoại với thần linh chi tiết hơn để có thông tin tối đa, vì đó mà sinh ra các thẻ xăm.

QUÁ TRÌNH

Ban đầu, lời thánh phán chỉ được có 49 thẻ xăm cả thảy, và đều là những câu văn ngắn cực kỳ cô đọng, do các vu sư đời Đường đặt ra và tự “giải mã”.

Qua các đời sau, theo đà phát triển của Đạo giáo, dần dần hình thành các loại xăm khác nhau, từ 49 thẻ đã biến thành 64 thẻ theo Dịch quái, rồi thành 100 thẻ để dự đoán thế sự.

Đời sống ngày càng phát triển, những vấn đề con người gặp phải ngày thêm đa dạng, chỉ một câu văn ngắn khắc trên thẻ xăm không đủ giải đáp những hỏi xoáy, nên người ta đặt ra thêm “thơ xăm” (thiêm thi). Trên thẻ xăm do đó chỉ còn ghi những ký hiệu hoặc đánh số để phân biệt, người xin quẻ theo đó mà đọc “thơ xăm”.

Thơ xăm thường là một bài tứ tuyệt ngũ ngôn hoặc thất ngôn, lời lẽ mông lung bao la, nên lại đẻ thêm lời “giải xăm” (thiêm giải). Nhưng cái gọi “lời giải” này thường lại dẫn chứng điển tích cổ xưa, chỉ người có căn bản Nho học mới lãnh hội được ít nhiều huyền cơ trong đó, vậy là nghề bàn xăm ra đời, và thường do các Nho sĩ đảm trách.

Nội dung thẻ xăm nhờ có các “thầy bàn” này mà ngày thêm phong phú đa dạng, có thể giải đáp hầu hết những thắc mắc về công danh tài lộc, hôn nhân gia đạo, mùa màng thất bát, thậm chí cả buôn bán đi xa, giới tính thai nhi, tìm lại của rơi, v.v…

Nghi thức xin xăm cũng theo đó mà ngày một trịnh trọng nhiêu khê: sau khi lắc được thẻ xăm, người xin còn phải tâm thành gieo quẻ âm dương (xin keo) để lá xăm vừa xin đó được thánh thần công chứng. Nghi thức này cốt tạo thêm hiệu ứng niếm tin cho quẻ xăm.

Đến khoảng đời Nguyên, cuối thế kỷ XIII trở về sau, thì ống đựng thẻ xăm và hai miếng gỗ hình bán nguyệt dùng xin keo đã nghiễm nhiên choán chỗ trên hương án của chánh điện các danh lam cổ tự; và gian ngoài đền miếu thường có chỗ riêng cho thầy bàn xăm, cũng như những kệ, hộc, đựng những tờ xăm. Mỗi chùa đều có bản khắc để có thể tự in xăm chùa mình ra những tờ giấy mỏng.

NGHI THỨC

Đầu tiên, người xin xăm thắp nhang đèn trước tượng thần, có chú tiểu phụ gõ chuông boong boong. Rồi tín chủ làm lễ ba quỳ chín lạy, bày tỏ mục đích mình muốn tham vấn thần ý. Sau đó hai tay nâng ống xăm quá đầu, xóc đều nhịp cho tới chừng có một thẻ văng ra (ra quá một thẻ thì không tính, phải xóc lại).

Khi thẻ xăm đã ra, lại phải gieo âm dương (xin keo) để được thần linh xác nhận thẻ đó. Hạn trong ba lần gieo âm dương, nếu không được thần ý “công chứng”, thì là thiên cơ bất khả lậu, phải trả thẻ, qua tháng sau tới xin lại.

PHỔ BIẾN

Những thẻ xăm theo gót di dân Trung Hoa lan truyền khắp cõi Á Đông, từ Nhật, Hàn, qua Miến, Việt, và biến thể ra nhiều lối khác nhau, tùy phong hóa thủy thổ mỗi nơi. Như ở Nhật, ống xăm chỉ chừa lỗ nhỏ vừa đủ một thẻ rơi ra, khi đọc xong quẻ, tờ xăm xấu sẽ được đặt lại trên giá, ngụ ý ký thác, nhờ thần Phật giúp mình sửa đổi vận khí. Gần đây, Nhật lại có cả máy xin xăm, chỉ cần nhét đồng xu vào, tờ xăm sẽ rơi ra.

LƯU TRUYỀN VĂN HÓA

Những bài thơ xăm tuy tùy mỗi đền chùa có khác nhau (như xăm Chùa Ông, xăm Chùa Bà, xăm Quan Âm, xăm Thiên Hậu…), nhưng đều do những bậc văn tài, sở học uyên thâm quảng bác chế tác. 100 thẻ xăm không chỉ ẩn tàng nguyên lý Dịch học(*) mà còn chứa đựng nhiều điển tích văn học, lịch sử, địa lý, v.v…

Hải ngoại Hoa nhân thuở xưa vì thời cuộc hoặc sinh kế mà phải lưu tán tha phương, họ hầu như mang theo đôi tay trắng và một bầu nhiệt huyết sinh tồn. Theo bước chân những người Tàu trôi dạt, đền chùa, hội quán được dựng lên, làm nơi đoàn kết tụ họp và gìn giữ văn hóa nghìn đời; những lá xăm trong chùa Tàu chính là một phần của kho tàng văn hóa đó. Người ngoài đọc xăm thường thấy rối rắm lung tung, nhưng với Ba Tàu, họ thể nghiệm được nhiều huyền cơ giúp thân tâm an lạc, điềm đạm.

Người Tàu chỉ xin xăm khi trong đời sống thực có vấn đề nan giải, không cứ hễ đi chùa phải xin xăm. Tiếng chuông mõ khoan thai điểm nhịp hòa theo tiếng lóc xóc của ống xăm, người xin an nhiên hai tay giơ cao quá đầu, thành kính nhưng thư thả lắc đều chắc nhịp. Xin được xăm tốt chưa hẳn đã điềm lành, nên được xăm xấu cũng chẳng đáng lo lắng. Chủ yếu đây là dịp giao tiếp với thần linh, qua đó mà được tiếp thêm sức mạnh nội tâm đi tiếp nẻo trần ai, vô cầu vô oán.

TẬP TỤC BỊ XUYÊN TẠC

Cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông phát động đã xóa gần như sạch bách văn hóa ngàn đời của Trung Hoa. Chùa chiền, đạo quán bị đập phá tan tành, tượng thần bị kéo sập rụng đầu gãy tay, kinh sách bị thiêu hủy hầu như tuyệt diệt thất truyền, những lá xăm linh thiêng do đó cũng thành đối tượng cần đấu tranh tiêu diệt. 10 năm Văn cách là một trường ác mộng, mãi đến chừng Đông tắt thở, người dân đại lục mới được thở phào nhẹ nhõm, mừng mình sống sót.

Phải qua đến thập niên 90, khoảng sau chiến tranh Trung-Việt, Trung Nam Hải mới cho phục hồi tái thiết nền văn hóa cổ truyền. Nhưng huyết mạch đã đứt đoạn, nguyên khí văn minh học thuật thành tàn lụi, cái được dựng lại chỉ là bản sao mờ nhạt nhiều khiếm khuyết. Những bản khắc in xăm xưa kia giờ đã chẳng vẹn toàn, các xăm đa phần thất lạc, nên đành chép lại theo trí nhớ; đã vậy, xăm ấy lại được in lại theo lối giản thể do Trung cộng bày ra, nên chữ nghĩa đều biến dạng, trong khi chiết tự lại là chìa khóa chính yếu để giải xăm. Tồi tệ hơn, thơ xăm cũng được cộng phỉ kiểm duyệt, cải sửa, thêm thắt, cắt xén để phù hợp với chủ trương của đảng.

* * *

Đại lục đã vậy, ở xứ ta thì văn hóa xin xăm càng tệ lậu bôi bác hơn. Chùa miếu nay đa phần là những công trình được “xã hội hóa” – có thể nói, đây là thành quả đáng kể nhất của chế độ cộng sản – khiến những nơi đó không còn là chỗ thanh lọc, di dưỡng tâm hồn, mà thành chốn mua bán khai thác lợi nhuận. “Hòm công đức” được phát minh, ngự chễm chệ nơi chánh điện, trơ trẽn trêu ngươi khách thập phương. Mọi khâu cúng bái nhang đèn và cả xin xăm ở các chùa đều được đấu thầu.

Thậm chí, ngoài Bắc, những lá xăm nhỏ bằng bàn tay, lời lẽ ngây ngô cà chớn bày trong mẹt được bày bán lộ thiên, cứ bóc đại một tờ cầu may rồi trả 5, 10 ngàn là có một lá xăm. Kèm theo đó lại có những dịch vụ giải hạn trừ căn, dành cho những người bị nhằm xăm xấu. Thần thánh nay đành lơ láo chìu theo sở thích, dục vọng của con người. Còn giới hữu trách, các nhà văn hóa-xã hội học thì nhận định: xin xăm là tập tục cổ truyền của… người Việt, cần phải giữ gìn!

Lê Huy Vinh

Share