Bài lưu trữ Văn chương - Cái đẹp

NHỮNG BÀI THƠ HAY CỦA TRẦN MINH TÔNG

Hunters
Written by Hunters

Trần Minh Tông (1300 -1357), tên thật là Trần Mạnh, là vị vua Nho giáo nổi tiếng thời Trần. Ông không chỉ có tài trị quốc mà còn có tài làm thơ. Xét về nghệ thuật thơ, bút pháp của ông không thua Trần Nhân Tông. Thơ ông tinh tế, cảnh sắc hiện lên ấn tượng, có sự thung dung của một bậc cao nhân trải qua biến loạn của cuộc đời.

Học Viết xin được giới thiệu với các bạn một số bài thơ hay nhất của Trần Minh Tông


BẠCH ĐẰNG GIANG

Vãn vân kiếm kích bích toàn ngoan,
Hải thẩn thôn triều quyển tuyết lan.
Xuyết địa hoa điền xuân vũ tễ,
Hám thiên tùng lại vãn sương hàn.
Sơn hà kim cổ song khai nhãn,
Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.
Giang thuỷ đình hàm tà nhật ảnh,
Thác nghi chiến huyết vị tằng can.

Dịch nghĩa

Núi biếc cao vút, tua tủa như gươm giáo kéo lấy tầng mây,
Hải thẩn nuốt thuỷ triều cuộn làn sóng bạc.
Hoa vàng điểm tô mặt đất lúc mưa xuân vừa tạnh,
Tiếng sáo thông rung chuyển trời khi sương chiều lạnh lẽo.
non sông này xưa nay đã hai lần mở mắt,
Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoàng qua như một lúc dựa vào lan can.
Nước sông chan chứa rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối,
Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô.

Bản dịch thơ của Đào Phương Bình và Nam Trân

Chạm mây gươm giáo, xanh von vót,
Sóng tuyết khi đầy lại lúc vơi.
Mưa tạnh hoa phô vàng mặt đất,
Sương lừa thông réo tiếng vang trời.
Non sông kim cổ hai lần dậy,
Hồ Việt hơn thua, một thoáng thôi.
Chan chứa dòng sông ngầu bóng xế,
Ngỡ là máu giặc hãy còn tươi.


DƯỠNG CHÂN BÌNH THÔN TỬ NHÂN HUỆ VƯƠNG TRANG

Trang gia kỷ thốc ỷ thiều nghiêu,
Nhất chẩm cao miên viễn thị triều.
Hải giác dư đồ qui chính hoá,
Thiên nhai nhân vật lạc ngư tiều.
Khê thanh tịch tịch triều lai thiểu,
Đường ảnh sơ sơ nguyệt thướng nhiêu.
Long chuẩn hà tằng đồng điểu chuế,
Biên chu hưu phiếm Ngũ hồ dao.

Dịch nghĩa

Mấy dẫy nhà trong trang trại dựa vào núi cao chót vót,
Một chiếc gối nằm khểnh ở xa triều đình và thành thị.
Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hoá của vua,
Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi.
Tiếng suối chảy lặng lẽ, vì nước triều ít dâng lên,
Bóng cây đường thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập.
Mũi rồng đâu có giống mỏ chim,
Xin chớ thả thuyền lênh đênh trên Ngũ hồ xa xôi.

Bản dịch của Đào Phương Bình và Nam Trân

Nhà ai mấy khóm dựa non cao?
Chiếc gối thênh thênh lánh thị triều.
Góc biển dư đồ chung giáo hoá,
Chân mây nhân vật mến ngư tiều.
Êm êm tiếng suối, triều lên ít,
Thưa thớt lùm mây, nguyệt sáng nhiều.
Mỏ quạ, mũi rồng đâu phải một,
Ngũ hồ chớ nghĩ thú tiêu dao.


ĐỘC DỊCH

Tam tuyệt vi biên đại Dịch kinh,
Càn khôn toàn tại thử thân hình.
Di thời tĩnh kiến dương tiêu tức,
Trấn nhật tiềm quan vật phát sinh.
Phủ ngưỡng nhược năng tâm bất tạc,
Hành tàng hà xứ đạo vô thành.
Phong lô nhất chú trầm hương niểu,
Đề điểu sổ thanh xuân trú tình.

Dịch nghĩa

Kinh Dịch lớn lao đã ba lần đứt lề da,
Tất cả trời đất đều ở trong thân hình này cả.
Chốc lát lặng thấy sựsinh diệt của khí dương,
Suốt ngày ngầm xem sự nẩy nở của muôn vật.
Cúi nhìn trời đất, ngẩng nhìn trời mà lòng chẳng thẹn,
Dù ra giúp nước hay ở ẩn, bề nào đạo chẳng thành.
Một nén hương trầm trong lò, khói lên nghi ngút,
Vài tiếng chim kêu giữa ngày xuân tạnh sáng.


GIỚI AM NGÂM

Giới am bán gian khả dung tất,
Ngột ngột đằng đằng tự độ nhật.
Bách điểu bất lai xuân trú nhàn,
Tiêu thiên tứ bích chân vô vật.

Vật nhược vô trần bích bất lập,
Mê lư giới tử tòng hà nhập.
Thuỳ nhân thứ phá giới am trung,
Thất lộ tiện sử thiên ma khấp.

Cơ lai bão khiết phạn nhất bát,
Thanh thuỷ mãn bình khả tiêu khát.
Đằng sàng chẩm thượng trác ngọ miên,
Chính thị cá trung chân khoái hoạt.

Kinh dã bất khan Phật bất nghĩ,
Y nhãn hà vi kim tiết quí.
Khách lai vấn cập bản lai nhân,
Nhận khán y tiền hoàn bất thị.

Hưu hưu ngoại mịch khổ thi công,
Phất phất tị khổng cổ kim đồng.
Giới am tất cánh vô kỳ vật,
Chỉ ma mi hoành tị trực ông.

Dịch nghĩa

Nửa gian am cỏ chỉ đủ chứa đôi chân,
Khi lặng lẽ, khi lâng lâng tự sống qua ngày.
Trăm loài chim chẳng đến, ngày xuân thong thả,
Bốn vách quạnh quẽ, thật không có vật gì.

Nếu vật không có bụi bặm thì bức vách này cũng không đứng vững,
Và những vật rất nhỏ nhiều vô hạn kia từ đâu mà vào?
Ai mà nhìn rõ được ở trong am cỏ này,
Vì lạc đường mà con ma trời phải khóc.

Lúc đói, no nê một bát cơm,
Nước trong đầy bình đủ giải cơn khát.
Trên chiếc gối ở giường mây, đánh giấc ngủ trưa,
Chính là sung sướng thật sự ở trong cái đó.

Kinh cũng chẳng xem, Phật cũng chẳng nghĩ tới,
Chữa con mắt làm chi vì bột vàng rất đắt.
Khách đến hỏi về con người trước đây,
Nhận xét ra vẫn không giống như người thuở trước.

Thôi đi! Cứ cặm cụi tìm ở bên ngoài chỉ thêm vất vả,
Lỗ mũi phập phồng thở thì xưa nay đều giống nhau.
Trong am cỏ, rốt cuộc không có vật gì lạ,
Chỉ có ông mày ngang mũi thẳng này thôi.


HẠNH NGỘ

Bình sinh tằng súc nhất trương cần,
Mai một trần ai tuế nguyệt thâm.
Hạnh ngộ Bá Nha cao diệu thủ,
Cánh giao sơn thuỷ tự huy âm.

Dịch nghĩa

Đời ta từng có một cây đàn,
Chôn vùi đã lâu ngày trong bụi trần.
May gặp được tay cao diệu của Bá Nha,
Lại khiến cho tiếng đàn nối được lời nước non.


NGUYỆT ÁNG SƠN HÀNG ĐƯỜNG

Túc đắc phi tâm vị xuất trần,
Hí xuyên bách nạp bán tăng thân.
Mãn sơn hoa sắc xuân tam nguyệt,
Nhất chẩm tuyền thanh thu bát phân.
Chỉ khủng thế gian vô thắng cảnh,
Mạc ngôn thiên hạ khiếm nhàn nhân.
Thử ông luyện đắc tâm như thiết,
Bất phục lê hoa nhập mộng tần.

Dịch nghĩa

Sớm hiểu được thế nào là phi tâm nhưng chưa ra khỏi được trần tục,
Hãy mặc chơi áo bách nạp mới tạm giống sư thôi.
Sắc hoa đầy núi như trong ba tháng xuân,
Tiếng suối nghe bên gối như tiết thu đã tám phần.
Chỉ sợ trên đời không có thắng cảnh,
Chớ nói trong thiên hạ thiếu người thanh nhàn.
Ông già này luyện được lòng như sắt thép,
Ngọn giáo hoa lê không còn đi vào giấc chiêm bao nữa.

Bản dịch của Đào Phương Bình và Nam Trân

Lòng Phật chưa thành chửa xuất gia,
Giống sư vì bởi khoác cà sa.
Đầy non hoa nở xuân hằng trẻ,
Hang gối khe reo thu sắp già.
Cảnh đẹp thế gian e chẳng mấy,
Người nhàn thiên hạ thiếu đâu mà.
Ông này luyện được lòng như thép,
Giấc mộng “hoa lê” chuyện đã qua.


THẬP NHẤT NGUYỆT QUÁ BẠC VỊNH SƠN HIỂU TRÚ

Nguyệt lạc tiểu song thuyền,
Nham hoa lãnh bất miên.
Thự phân sơn thất ảnh,
Dương phục thuỷ sinh yên.
Vãng sự tu du tế,
Thành nhân tam thập niên.
Bất ngôn hoảng nhược tỉnh,
Toạ đối nhất lô tiền.

Dịch nghĩa

Trăng lặn ngoài cửa sổ nhỏ trên thuyền,
Hoa núi lạnh chẳng ngủ được.
Tảng sáng, bóng núi mờ hẳn đi,
Khi mặt trời chưa ló mặt nước như bốc khói.
Việc đã qua chỉ như trong chốc lát,
Thành được người thì đã ba mươi năm.
Bâng khuâng như tỉnh lại, chẳng nói năng gì,
Ngồi lặng trước bếp lò.


XUÂN NHẬT NHÀN TỌA

Hoa liễu lục thành âm,
Liêm câu viện vũ thâm.
Vô tình thiên ngoại nhứ,
Bất ngữ thụ đầu cầm.
Giản cổ Tam hoàng chính,
Hi di Ngũ đế tâm.
Thế gian nhàn bán nhật,
Nhương đắc nhất thiên câm (kim).

Dịch nghĩa

Liễu ra hoa tươi tốt đã thành bóng râm,
Rèm móc lên rồi mà nhà vẫn sâu kín.
Tơ liễu hững hờ bay ngoài trời,
Chim chóc im lặng đậu trên ngọn cây.
Giản dị thuần phác là chính sự của Tam hoàng,
Nhìn không thấy, nghe không được là lòng của Ngũ đế.
Ở trần gian mà nhàn hạ được nửa ngày,
Thì cũng quý như đoạt được ngàn vàng.

Share