Bài lưu trữ Triết học - Tôn giáo

THẦN THOẠI VỀ GIỚI TÍNH (3) TÍNH DỤC NƠI CÁ THỂ VÀ SIÊU CÁ THỂ

Hunters
Written by Hunters

Sự trưởng thành của con người cũng đồng thời là sự hoàn thiện giới tính nơi nó. Giới tính ấy hẳn là một mầm sống từ cha và mẹ truyền sang cho. Tuy nhiên, nếu lần theo quá trình hình thành giới tính từ những cơ thể đơn giản cho đến động vật có vú, ta sẽ thấy tính dục như có một nguồn gốc còn vượt xa hơn sự sống và chi phối cơ thể từ sâu hơn là chính nó.

Ở những sinh vật đơn bào, sự thụ tinh chưa có, và tính dục cũng chưa có gì rõ rệt. Sự bảo tồn nòi giống chỉ thực hiện bằng phân đôi. Tuy nhiên, cứ sau một thời gian lại xảy ra hiện tượng tiếp hợp (conjugaison) giữa hai hay nhiều đơn bào, và sự tiếp hợp này có lẽ cần thiết để làm lại khả năng phân đôi cho chúng. Phải chăng đây là hình thức phôi thai của tính dục. Dù sao chăng nữa, nếu có, thì thứ tính dục ấy cũng chỉ liên quan gián tiếp và tùy phụ tới sinh sản mà thôi.

Cơ thể càng trở nên phức tạp và hoàn hảo, thì giới tính cũng càng trở nên rõ rệt hơn, dù sự tiến triển này không hẳn là điều hòa. Dần dần, hiện tượng tiếp hợp sẽ trở thành thụ tinh, và cái trứng hợp tử sẽ do hai giao tử hợp lại.

Khi cơ thể đã trở nên rất phức tạp và cá thể tính sinh vật rõ rệt hẳn rồi, thì chức năng tính dục cũng phân tách ra khỏi các chức năng sinh lý khác. Khi ấy các tê bào sinh dục sẽ do riêng hạch sinh dục tiết ra, và sự tiếp hợp trực tiếp giữa hai giới tính được thay thế bằng sự giao hợp giữa hai cá thể mang giới tính khác nhau. Sự giao hợp đây cũng không đồng nhất với thụ tinh nữa, nhưng là cửa ngõ dẫn đến thụ tinh. Những chức năng phân tính cũng không nhằm thích ứng trực tiếp với khả năng thụ tinh, nhưng với chính cá thể, hay nói cho đúng hơn, với vai trò sinh lý của một cá thể trong liên hệ phân cực. Như thế, giới tính càng rõ rệt và hoàn hảo, thì nó càng đi đôi với cá thể hơn. Và khi ấy tính dục càng phân biệt nhiều hơn với sinh dục. Xem như thế, giới tính là của tất cả con người, nhưng không phải tất cả con người được quy về mục đích sinh sản. Không nói đâu xa, đến ngay cái tinh mà người Tây phương tưởng chỉ dùng riêng vào việc thụ thai, cái tinh ấy cũng có thể dùng cho nhiều mục đích khác nữa. Ở Trung Hoa, con nhà võ dùng tinh để luyện công, và ở Ấn Độ, người ta còn dùng nó để tìm những lợi ích tôn giáo.

Nhiều học giả đã quy mục đích của tất cả sinh hoạt con người vào sinh dục (le génital), điển hình là Sigmund Freud.

Freud, nhờ phân tích liên tưởng và chiêm bao, khám phá thấy rằng nhiều biểu tượng cắm rễ sâu trong quá khứ thơ ấu đã mang màu sắc tính dục. Cho nên, theo ông nghĩ, cái chìa khóa mở cửa vào tâm bệnh phải tìm ở sinh hoạt tính dục của buổi ấu thơ.

Từ những nhận định về tâm bệnh, Freud thiết lập nên một thứ tâm lý học phổ biến về sự sống nói chung, không kể nơi người lành hay tâm bệnh. Khoa tâm lý ấy dựa trên hai định đề. Trước tiên, bên dưới ý thức, có một thứ vô thức nền tảng thành hình trong thời thơ ấu và gồm những thúc bách căn bản của con người. Thứ đến là cái khuynh hướng ẩn náu bên trong tất cả những diễn biến tâm lý, cái khuynh hướng được đặt tên libido, một thứ đói khát nhục dục, nó phát diễn dưới nhiều hình thức lắm khi lắt léo.

Nói cách khác, Freud quy tất cả sinh hoạt bên trong về một nguồn gốc duy nhất: tính dục ở khía cạnh hạ đẳng của nó.

Vô thức của Freud là một vô thức cá thể. C.G.Jung thêm vào đấy một vô thức nữa: vô thức tập thể. Vô thức này ở sâu hơn vô thức trên và làm nền tảng cho nó. Vô thức tập thể cũng có nhiều lớp và càng phổ biến bao nhiêu nó càng chìm sâu bấy nhiêu. Cho nên, nếu vô thức dân tộc nằm sâu hơn vô thức cá nhân, thì vô thức của chung loài người lại nằm sâu hơn vô thức chủng tộc.

Vô thức tập thể gồm những nguyên tiêu (arkhêtupos) được phát diễn ra ngoài bằng những biểu hiệu (symbole). Nền tảng của sinh hoạt tâm lý hình như là sự đối cực và dung hòa với nhau giữa các lực tương phản. Vì thế vô thức, đối diện với ý thức, bao giờ cũng gắng vươn tới một thế quân bình với nó và thiết lập hòa điệu trong con người. Ngoài ra, còn có một tiến trình cá thể hóa nhằm phát triển nơi con người một nhân cách tính tiềm tàng để làm cơ sở cho sinh hoạt tâm lý. Thế mà sự hoàn tất nhân cách tính chỉ có thể thực hiện khi không còn ly cách giữa vô thức và ý thức, khi ý thức có thể hấp thụ lấy nội dung của vô thức, nhờ đó nhất tính được bảo toàn trong con người.

Công lớn nữa của Jung là nới rộng được trương độ của li­bido. Nơi ông, libido không còn thu hẹp vào tham dục (concupiscence). Nó đã trở nên một nguyên động lực của đời sống nói chung, mà tham dục chỉ còn là một hình thức chuyên biệt thôi.

Dù sao chăng nữa, thứ libido ấy chưa vượt khỏi con người, hay nói cho rõ hơn, chưa tìm được chỗ đứng trong một nguyên lý vũ trụ (comic) như nguyên lý âm dương của Đông phương.

Tôi nói nguyên lý âm dương của Đông phương, chứ không phải riêng Trung Hoa, vì còn có những phát diễn khác của cùng nguyên lý ấy nơi văn hóa Ân Độ. Thế mà, như ta đã biết, Ân Độ cũng như Trung Hoa, là một trong hai văn minh nền tảng của Đông phương.

Ở Ấn Độ, những tương quan vũ trụ và tương quan tôn giáo được quan niệm tất cả theo một thứ thuyết âm dương mặc nhiên. Ngoài ra họ còn vạch ra một thuyết tương đương với thuyết âm dương, và đó là thuyết tam cách (tri-guna). Hai “cách” nền tảng và đối nghịch nhau y như âm dương, đó là cách sattva và cách tamas. Sattva là khía cạnh sáng sủa và hiển ra giống như dương, còn tamas là khía cạnh âm u và chìm sâu bên trong giống như âm. Sattva và tamas chỉ mới biểu diễn bộ mặt tĩnh của âm dương mà thôi. Cần phải có một yếu tố động nội tại trong sattva cũng như tamas, hầu mang đến cho chúng sinh khí và sức hấp dẫn của phân cực. Yếu tố ấy là động năng cách, hay rajas. Tam cách làm thành bản nhiên (prakrti) của vũ trụ và bản thể của sự vật. Sở dĩ bắt đầu có sinh hóa là do sự mất quân bình của tam cách. Thế rồi, do quân bình và mất quân bình liên tiếp của tam cách mà sự vật được củng cố và các sinh hoạt được bảo tồn. Tam cách còn trở nên như một nguyên lý chi phối đời sống tâm lý nữa.

Xem như thế, tam cách đúng là một phát diễn khác của âm dương, và con người Đông phương quan niệm sự vật trong cùng một nguyên lý hoàn toàn phổ biến ấy. Theo như vậy, thì tính dục cũng chỉ là một trường hợp, dù đặc biệt, của nguyên lý âm dương. Chính giáo sư J.Evola cũng công nhận như trên. Trong suốt cuốn Métaphysique du sexe, ông đã luôn luôn dựa vào nguyên lý âm dương của Trung Hoa để giải thích tính dục. Ông đã đặt tính dục vào trong một nguyên lý bao quát vũ trụ và giải thích tính dục bằng hiện tượng từ tính (magnétique).

Theo ông, dù thuyết sinh lý đích (fïilalisme biologique), dù thúc bách truyền sinh, dù đói khát khoái lạc cũng không thể giải thích Erôs (tình ái). Erôs là một hiện tượng “trực tiếp phát sinh do phân cực giữa hai giới”. Và đó chính là “giáo huấn truyền thống của Viễn Đông”. Theo giáo huấn này, thì do sự gần gũi dù không chạm tới nhau của người thuộc hai giới, sẽ phát sinh từ sâu trong mỗi người một năng lực đặc biệt hay “dịch khí” (ílulide) vô chất có tên là tsing. Yếu tố này chỉ do một mình sự phân cực (polarité) âm dương gây nên.[1]

Quả thực, kinh nghiệm cho ta thấy có một luồng điện sống chạy khắp người khi ta đối diện với một người khác giới. Có thể nói luồng điện sống trên là một thứ dòng từ khí được chuyên biệt hóa nơi sinh vật.

Cường độ của luồng điện ấy sẽ gia tăng gấp bội khi hai người từ trạng thái đối diện đổi sang trạng thái cọ xát thịt da, và nó sẽ tiến hết mức khi cả hai hòa tan vào nhau,[2] [3] và đó cũng là tan hòa vào tính dục nguyên sơ, đúng như câu nói sau đây của Upanisad: khi chồng được vợ ôm ấp lấy, thì anh ta không còn nhận ra đâu là trong, đâu là ngoài mình nữa.

Theo Evola, thì trong trường hợp cuồng dâm thánh (orgie sacrée), cường độ luồng điện chẳng những tăng hết mức, mà còn vượt ra ngoài mức, trong khi các bức tường cá thể tính đều bị phá vỡ cả. Và đó là tình trạng thuần tính dục.

Theo Evola, cũng như theo một vài học giả Tây phương khác, thì thuyết từ tính (3Ỉ giải thích một cách thỏa đáng tình trạng siêu mỹ lý (esthétique) của xuất thần yêu đương. Thuyết ấy chủ trương rằng tính dục có một nguồn gốc phổ biến hơn là chính cá nhân con người, và tự mình, nó không phải thiêng liêng cũng không phải nhục thể. Nó cũng vượt trên lý luận và vượt trên cả thẩm lượng đẹp xấu.(1) Tình yêu từ tính tuy không phải thiêng liêng hay nhục thể, nhưng nó bao hàm cả hai và thấm nhập đến tận những cơ cấu sâu xa nhất của con người. Ở trạng thái nguyên sơ (élémentaire), nó vượt ra ngoài cá thể tính và mọi khuôn khổ khác: nó quả có tính chất… “lãng mạn”.’[4] [5]

Tính dục xâm nhập con người toàn diện, nhưng ở mức độ khác nhau tùy theo chiều sâu của mỗi lớp. Từ ngoài vào trong, Evola phân biệt ba lớp như thế. Lớp trên cùng là một cái mặt nạ, một thứ nhân cách hời hợt mà xã hội hun đúc cho mỗi người bằng các khuôn khổ và thành kiến. Lớp thứ hai là chính bộ mặt thực của cá nhân, chỗ mà ở đó con người đã là chính mình dù về phương diện hình lý, sinh lý hay tâm lý, nhờ đó phân biệt với các cá thể khác cùng loại. Lớp trong cùng gồm những năng lượng nguyên sơ (élémentaire) chúng ở trên và có trước cả cá thể. Chính tầng lớp này mới tàng chứa cái gốc thứ nhất của giới tính, và cũng chính ở chỗ đó mà năng lực nguyên sơ của Erôs thức tỉnh. Sự hấp dẫn tính dục bắt đầu từ ở đây và thấm nhập dần lên các phẩm chất ở những tầng lớp trên. Cho nên, sự hấp dẫn vừa đóng khung trong cá nhân vừa vượt lên khỏi cá nhân phần nào; còn ở những giai đoạn đặc biệt, giai đoạn “nổ cầu chì”, thì các bức tường cá thể tính đều bật tung ra hết, để chỉ còn năng lực nguyên thuần của Erôs làm chủ.

Cũng theo Evola, thì không phải hình thức tầm thường và thú vật của yêu đương bao giờ cũng là trường hợp người đàn ông không còn yêu một người đàn bà nữa, nhưng yêu người đàn bà nói chung, ông còn cho rằng những điều kiện về hình thức hay tính tình đôi khi ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến lựa chọn yêu thương, mạnh đến nỗi người ta có ảo tưởng về tính cách bất khả thay thế của người yêu cũng như về duy nhất tính của tình yêu. Và khi tất cả sức mạnh của tầng lớp trong cùng đổ dồn sang tầng lớp trung gian, tức tầng lớp cá thể, nó sẽ gây nên một áp lực làm nổ tung bức tường ngăn cách, nổ tung những hào cá tính để gây nên khôn khổ cho ta. Trong trường hợp “tình điên” ấy, cũng theo Evola, sẽ khốn đốn cho ta nếu ta khăng khăng dừng lại ở lĩnh vực tục trần và nhân loại, °’ tức không chịu buông mình theo tác động của tính dục nguyên sơ siêu cá tính, siêu nhục thể và siêu cả thiêng liêng.

Chẳng những như Jung, Evola đã đưa tính dục thoát khỏi vòng thuần nhục thể, mà ông còn đặt nó vào đúng chỗ trong một nguyên lý tối phổ biến chỉ huy sinh hoạt toàn vũ trụ.

Tuy nhiên Jung đã không đưa nổi thuyết âm dương sang lĩnh vực siêu hình, nhất là ông đã sai lầm khi đồng hóa bản vị siêu hình với cá thể làm nên bởi những năng lượng sinh lý và tâm lý; do đó, bản vị bị đặt ở một lớp hời hợt hơn những luồng khí phi bản vị. Đặt bản vị trên một nền tảng phi bản vị, ông vô tình phá vỡ bản vị hay cái vị thân (le pour-soi) mà không biết. Quả trong một tình trạng như thế, bản vị đã đánh mất sự thân mật và kín đáo bên trong, tức cái nó làm nên chính mình tôi, chính mình anh.

Thực ra, bản vị phải là một cái gốc âm cực (cathode), siêu nghiệm và siêu hình, trên đó quy tụ và đúc kết những cá tính hình lý, sinh lý và tâm lý, chứ không quy về những cá tính ấy. Cho nên, nếu những cá tính này được coi như xây dựng trên những lực âm u và phổ biến, thì bản vị lại chỉ có thể nằm sâu hơn tất cả mọi lực dù là phổ biến, nhờ đó quy tụ và chuyên biệt hóa chúng sao cho thích ứng với bản tính của chính mình để làm nên những cá tính nói trên.(*)

Chính nhờ ở hiện hữu và tính cách siêu hình của bản vị, mà con người dù ràng buộc trong vũ trụ, vẫn như muốn vượt lên khỏi những lực chi phối nó. Trong phạm vi tính dục, cố gắng vượt lên ấy được thể hiện nơi e thẹn (pudeur). E thẹn là một khuynh hướng rất tự nhiên nơi con người. Chúng ta sẽ bàn đến nó khi nói về Tình yêu.

[*] Hiện tượng Hòa tan siêu cá tính nói trên là của các lực sống vặt chất. Một khi tinh thẩn mạnh thì sự hòa tan kia không thể hiện được. Trái lại, một tinh yêu cao dẹp thiêng liêng, thiên về tâm tình chỉ khiến ta khám phá thấy một cách sâu xa bản vị của mình và cùa người ta yêu. Và đó là nói theo kinh nghiệm.

Trích sách  “Tính dục nhìn theo phương Đông” (Hoành Sơn – Hoàng Sỹ Qúy)

[1]    Métaphysique du sexe, Payot, Paris, 1959, trg 40.

[2]   sdd, trg 41.

[3]   Và đó cũng là thuyết âm dương.

(1 ) Như thế là E vola dã đi ngược vổi Platon, vì theo Platon, lý do của tinh yêu là cái dẹp (le beau) (xem Symposium và Phèdre).

[5] Sdd, trg 43-44. Cũng thế, C.Mauclair, La magie de 1’amour.

Share