Bài độc quyền Giới học thuật Trí thức- Giáo dục

Thí sinh không biết giới tính của Xuân Quỳnh hay triết học giáo dục và phương pháp tiếp cận văn học nào đằng sau đề thi văn của Bộ giáo dục Việt Nam?

Hà Thủy Nguyên
Written by Hà Thủy Nguyên

Thí sinh không biết nhà thơ Xuân Quỳnh là nam hay là nữ, không có gì đáng ngạc nhiên. Những thí sinh ấy cũng chẳng có gì đáng chê cười, bởi vì một khi họ không thích, không quan tâm, thì mấy cái tên Xuân Quỳnh, Xuân Diệu, Xuân Tóc Đỏ… cũng như nhau mà thôi. Vấn đề nghiêm trọng trong trường hợp này không nằm ở chỗ kiến thức của học sinh mà nằm ở con đường mà Bộ giáo dục chọn đi. Rốt cuộc Bộ giáo dục đã chọn triết lý giáo dục nào, phương pháp tiếp cận văn học nào để dạy học sinh trong nhà trường và đưa ra những đề thi văn.

Triết lý giáo dục liên quan đến mục đích của giáo dục

Triết lý giáo dục là khái niệm ít được quan tâm đến, vì triết lý luôn là một thứ gì đó mơ hồ, trong khi ấy, một cách thực dụng, cộng đồng cần ngay lập tức các phương pháp mới, công cụ giáo dục mới, cập nhật giáo trình mới. Sau một loạt các cải cách giáo dục, các thử nghiệm mô hình mới, có lẽ không ít các nhà giáo dục, các thầy cô giáo nhận ra rằng sự áp dụng những phương thức mới vào tình trạng giáo dục của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn.

Lỗi không nằm ở những đứa trẻ. Tâm trí mỗi đứa trẻ đều như tờ giấy trắng mà nhà trường, gia đình và xã hội “viết bừa” lên đó. Khi trong tâm trí của chúng xuất hiện cơ chế chối bỏ, nhưng chúng vẫn phải cố đáp ứng kỳ vọng của những “tác giả” kia, một tình trạng tất yếu sẽ diễn ra: học lõm bõm, chữ được chữ mất. Câu hỏi đặt ra là, tại sao những đứa trẻ cứ cố phải học điều chúng không thích để thi lấy một cái bằng chứng nhận cho một tương lai cũng không lấy gì làm chắc chắn?

Vậy thì, ta lại phải quay về tính mục đích của nền tảng giáo dục Việt Nam: Hết thế hệ này đến thế hệ khác đi học, thi cử, lấy bằng để làm gì? Học – hiển nhiên là điều cần thiết đối với mỗi con người. Học là bản năng tự nhiên ở mỗi đứa trẻ, cho dù đứa trẻ ấy có theo học trường lớp hay không. Nhưng “đi học” – tức bước vào một hệ thống trường lớp nào đó, và “đi thi” để mong muốn một sự thừa nhận lại là vấn đề rất khác với bản chất của “học”.

Khi con đường học tập của mỗi cá nhân gắn với thi cử và giữ trong khuôn khổ trường lớp được chính quyền cho phép, lẽ tất nhiên, giáo dục đã trở thành công cụ chính trị mà nhiệm vụ tối quan trọng là đào tạo ra con người phù hợp với những nhu cầu của thể chế. Khi lựa chọn giáo dục như một công cụ để tạo ra công dân đúng chuẩn, một loạt các bộ tiêu chuẩn sẽ được đưa ra để đánh giá, và cơ chế tốt nhất để đánh giá là kiểm tra và thi cử.

Các bài thi được thiết kế để phù hợp với yêu cầu của thể chế, hay nói một cách khác thi cử là một loại định chế giáo dục toàn cầu. Mô hình giáo dục này tốt hơn mô hình giáo dục kia không phải bởi vì chúng gần với thiên hướng của học sinh hơn, mà bởi vì chúng chặt chẽ hơn và hiệu quả hơn, đào tạo được nhiều công dân phù hợp với tiêu chí của thể chế đặt ra hơn.

Như vậy, đề thi là thứ phản ánh những yêu cầu mà thể chế trong xã hội đặt ra. Đề thi chung cho thấy chính quyền muốn mạnh mẽ áp đặt một thứ chuẩn duy nhất lên toàn bộ xã hội – và đây là một hình thức chuyên chế. Một xã hội cho phép nhiều chuẩn được tồn tại, tức sẽ cho phép nhiều mô hình giáo dục được song song hoạt động, và đương nhiên sẽ thừa nhận tính đa dạng của xã hội.

Xã hội Việt Nam hiện nay nằm trong một tình trạng phức tạp của thể chế. Chính quyền vẫn nỗ lực giữ một chuẩn với kỳ vọng đào tạo ra công dân mẫu mực của xã hội chủ nghĩa: luôn trung thành với Đảng và chính quyền, sẵn sàng cống hiến tài năng cho tổ quốc, tuân thủ pháp luật tuyệt đối. Nhưng hệ thống giáo dục dường như không đồng thuận với chuẩn của chính quyền, và họ cho phép những người không đủ chuẩn nắm giữ các cương vị trong bộ máy giáo dục.

Không đủ chuẩn ở đây có thể hiểu theo cả nghĩa tích cực và tiêu cực. Tích cực nằm ở chỗ có nhiều nhà giáo trong chính thông đã có tư tưởng khai phóng và thực sự mong muốn truyền dạy tri thức. Còn tiêu cực tồn tại trong đại bộ phân những người thiếu kiến thức (dù thừa bằng cấp) và đi lên bằng mua quan bán chức (kèm với đó là mua bằng bán cấp). Vấn đề “kinh doanh” này sẽ được đề cập ở một bài khác trong tương lai.

Và bởi vậy, nên đề thi, mà phản ánh rõ nét nhất trong các bộ môn xã hội, đặc biệt là môn văn, là sự phối trộn của một loạt các hệ tư tưởng, hệ giá trị tồn tại trong nội bộ của bộ máy giáo dục: mục đích tạo ra con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phù hợp với trình độ yếu kém của đại đa số các nhân tố thuộc nền giáo dục (trong đó có người ra đề, người thi, người chấm thi) sao cho không bị thấp hơn so với chỉ tiêu đã đặt ra, thỏa mãn mong mỏi truyền tải các kiến thức mới để mở mang tâm trí của thế hệ sau…

Do hỗn loạn các mục đích khác nhau, những kỳ vọng khác nhau, nên chẳng có triết lý giáo dục rõ nét nào tồn tại trong đề thi môn văn. Đó là lý do tại sao nhiều năm gần đây dư luận liên tục tranh cãi về chất lượng của đề văn: người khen hay, kẻ chê dở. Nhưng xét về mặt chiến lược, đề thi Văn trong nhiều năm gần đây là chuỗi thất bại, bởi nó không đạt được tiêu chí của chính quyền hay các nhóm lợi ích đang hoạt động trong Bộ giáo dục.

Đọc thêm bài viết:

Phương pháp tiếp cận văn học nào được áp dụng trong đề thi Ngữ Văn?

Hãy bắt đầu bằng cuộc chuyển đổi từ môn Văn Học sang môn Ngữ Văn. Nhiều người ca tụng sự chuyển đổi này, nhưng có lẽ chúng ta nên thử tìm hiểu về bản chất của hai khái niệm, liệu đây có phải là “bình mới rượu cũ” hay không?

Văn học – có thể hiểu là môn học nghiên cứu về văn chương. Tức là người học Văn học phải nắm vững các yếu tố của tác giả, tác phẩm văn chương, đặt chúng vào dòng chảy lịch sử, và tìm hiểu cách chúng ảnh hưởng đến xã hội trong quá khứ cũng như đương đại. Môn Văn học trong nhà trường có nhiệm vụ hướng dẫn các học sinh đọc – cảm – hiểu – nhận định tác phẩm và tác giả. Chúng ta có thể dễ dàng thấy là việc dạy và học Văn học trong nhà trường tại Việt Nam không đáp ứng được tiêu chí của bộ môn này.

Ngữ Văn – một thuật ngữ có lẽ được ghép từ Ngôn Ngữ, Văn Học, Làm Văn. Trước đây, môn Văn trong nhà trường được tác ra làm 3 phần riêng biệt bao gồm Từ Ngữ – Ngữ Pháp, hay còn gọi là Tiếng Việt;  Văn học; và Tập Làm Văn. Hai phần này được dạy riêng từng tiết và có cách tiếp cận khác nhau. Nếu Văn học tập trung vào tác giả và tác phẩm, thì môn Tiếng Việt tập trung vào cấu trúc ngôn ngữ và luyện các phong cách diễn đạt, còn Tập Làm Văn hướng dẫn các viết bài văn.

Như vậy, Ngữ Văn đã gộp 3 chuyên môn khác nhau vào một giáo trình học, danh nghĩa là để giảm tải nhưng thực chất là tước đi sức sống quan trọng nhất của môn này: Năng lực cảm thụ và phân tích nghệ thuật. Giảng dạy văn học đòi hỏi nhiều kỹ năng phức tạp, không có công thức cụ thể, trong khi đó Tiếng Việt và Tập Làm Văn lại dễ dàng hơn cho chấm điểm (và học thuộc lòng). Yếu tố văn học được giảm nhẹ tới mức tối giản: tác phẩm đơn giản hơn, tính hệ thống yếu hơn, ít đòi hỏi sự cảm nhận hơn.

Thay vì đó, các hoạt động ngôn ngữ thiên về diễn đạt được coi trọng: Tập Làm Văn và Tiếng Việt. Yêu cầu đủ ý (cần học thuộc lòng), đúng ngữ pháp, sử dụng từ chuẩn xác là tối quan trọng. Văn học không thể loại bỏ, nhưng nó phải được đơn giản hóa trên mọi phương diện, sao cho phù hợp với năng lực đọc hiểu và vốn từ vựng yếu của cả cô lẫn trò.

Kết hợp với mục đích giáo dục phức tạp (đã đề cập ở trên), ta có cấu trúc một đề văn như năm nay.

'Sóng' của Xuân Quỳnh vào đề Ngữ văn thi tốt nghiệp THPT 2021

Thử lý giải cơ chế tư duy trong quyết định ra đề

Ở phần I của đề, bài Đọc Hiểu, người ra đề đã chọn đoạn trích trong cuốn “Bí mật của nước” (tác giả Masaru Emoto. Đây là một cuốn sách kỹ năng sống, không có giá trị kinh điển hay lịch sử, và nhiều yếu tố ngụy khoa học. Việc lựa chọn đoạn văn này cho thấy người ra đề hứng thú với các nhận thức tâm linh được giản lược hóa thành sách kỹ năng sống vốn rất phổ biến hiện nay, và mong muốn mượn đoạn văn để “khai sáng” các em học sinh, các thầy cô trong ban giám khảo, và biết đâu là cả cộng đồng.

Lựa chọn đoạn văn (lại là một văn bản dịch), cho thấy hội đồng ra đề thi văn có văn hóa đọc thiếu nền tảng, dễ bị “dắt mũi” bởi truyền thông của giới xuất bản, đọc sách “theo trend” và dường như chẳng biết gì về hệ thống triết học, minh triết, văn chương trên thế giới. Nếu họ đã từng đọc các tác phẩm này, sẽ thấy rằng cuốn sách “Bí mật của nước” không có gì mới mẻ và vĩ đại tới mức phải “khai sáng” cho hệ thống giáo dục.

Một loạt các yêu cầu đọc hiểu được dẫn dắt như thể bài tập dành cho học sinh cấp 1 – cấp 2. Nếu trước kia bài thi văn mà tôi phải làm sẽ là phân tích phong cách văn bản và cấu trúc ngôn ngữ, thì giờ chỉ là nắm bắt thông điệp lồ lộ mà tác giác muốn gửi gắm. Lố bịch nhất là câu 3 và câu 4, khi các yêu cầu đòi hỏi thí sinh phải đưa ra các phát biểu về lẽ sống và cuộc sống. Nếu một bạn thí sinh viết: “Tôi không thích làm một con sông, tôi muốn là cơn gió bất định” và bàn về lẽ sống của gió thì có bị lạc đề không?

Chắc chắn là sẽ bị coi là lạc đề và mất điểm.

Nên suy cho cùng, đáp án của đề văn vẫn dẫn dắt về câu 1 phần II: “sống cống hiến”. Vâng từ khóa “sống cống hiến” chính là lời giải cho 3 điểm ở phần I. Cần gì phải quay cóp nhỉ! “Sống cống hiến” – đó là một tiêu chuẩn của công dân xã hội chủ nghĩa. Chỉ cần cống hiến như con sông, lặng lẽ trôi qua, mặc kệ lũ người tham tàn, cứ chứng kiến cái ác thôi, “chầm chậm” mà chứng kiến, như đoạn văn được dẫn trong câu 3 của phần Đọc Hiểu.

Có lẽ người ra đề đã quên mất những cơn bão lũ trừng phạt con người ngu dốt. Sẽ thế nào nếu có thí sinh nhắc đến câu thơ của Nguyễn Trãi: “Lật thuyền mới rõ dân như nước”(Bài thơ “Quan Hải”)? Liệu thí sinh có bị coi là phản động?

Và câu cuối cùng của đề thi, đồng thời cũng là câu cuối của phần II – Làm Văn: nêu cảm nhận về trích đoạn trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh. Thật là một đề thi “ướt sũng”, phần I thì Sông, phần II thì Biển, có lẽ Hội đồng ra đề thi có gốc Lạc Việt chăng, hay là vì đời sống du lịch chủ yếu ở biển, hay đơn giản là toàn người quê miền biển?

Không ai nói thì ai cũng hiểu rằng mặc dù yêu cầu của đề là nêu “cảm nhận của Anh/Chị” nhưng Anh/Chị nào mà làm sai đề cương thì chắc chắn trượt. Không có cảm nhận cá nhân trong đề thi ấy. Và nếu Anh/Chị nào tinh ý, đừng bỏ lỡ yêu cầu nho nhỏ cuối bài về vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh. Cứ chèn mấy chữ “nữ tính” vào bài, dù cho nó chẳng liên quan gì đến nữ tính.

Tình yêu đề cập trong bài thơ này của Xuân Quỳnh là thứ tình yêu phổ quát, chẳng liên quan đến giới tính. Nếu Xuân Quỳnh có đồng tính như Xuân Diệu hay nam tính như Targore thì những câu thơ cũng vậy thôi. Chỉ vì bà có giới tính “nữ” nên phải cố nhào nặn những câu thơ này là “nữ tính”, người ra đề phản ánh sự kém hiểu biết về triết học về giới và cưỡng ép người viết vào phương pháp tiếp cận văn chương bằng nhãn quan  nữ quyền.

Ngoài “ướt sũng”, đề văn còn cho thấy một tinh thần “cưa sừng làm nghé” của hội đồng ra đề. Chọn một cuốn sách best sell đương thời, kết hợp với một bài thơ tình sến súa, và hi vọng rằng các em học sinh sẽ cảm thấy gần gũi. Xin thưa, thế hệ Z bây giờ rất khác, và họ đang đẽo gọt chân cho vừa cái giày của Bộ giáo dục.

Vì thế, xin đừng trách các bạn học sinh không biết Xuân Quỳnh là nam hay nữ, câu thơ của bà gợi nên nỗi nhớ nhung, gợi nên những cảm xúc tình yêu mãnh liệt. Tình yêu – nếu các em học trò nêu cảm nhận về tình yêu và lồng ghép với cảm xúc vơ vẩn của tình trai gái thuở học trò, liệu Bộ giáo dục nào sẽ chấp nhận nhỉ?

Hà Thủy Nguyên

*Ảnh minh họa bài viết được lấy từ bộ phim “Dead Poets Society”. Mời các bạn đọc thêm bài cảm nhận về bộ phim:

“Dead Poets Society” – Thi ca, tự do và niềm đam mê – BOOKHUNTER – Đọc để nhận thức một thế giới đa chiều (bookhunterclub.com)

Share