Dịch thuật Giới học thuật Triết học - Tôn giáo

TRƯỜNG PHÁI ẨN NHẪN

trường phái ẩn nhẫn
Written by Leica Green

Trường phái ẩn nhẫn là một trong số những xu hướng triết học mới mẻ của Hy Lạp cổ đại. Tên gọi này xuất phát từ cổng vòm (stoa poikilê) được trang trí bằng những bức bích họa tại Agora, Athens, nơi môn đệ tụ họp và tổ chức các buổi đàm đạo. Không giống với “epicurean”, nghĩa tiếng Anh của tính từ “stoical” hoàn toàn không gây ra nhầm lẫn về các nguồn gốc triết học của nó. Người Ẩn nhẫn, trên thực tế, kiềm chế những cảm xúc như sợ hãi hoặc đố kị (hoặc những quyến luyến tình dục mãnh liệt, hay yêu đương say đắm đối với bất kỳ ai) hoặc là, hay xuất phát từ, các đánh giá sai lầm và rằng hiền giả – người đã đạt được sự hoàn thiện về trí tuệ và đạo đức – sẽ không trải qua. Những người theo trường phái Ẩn nhẫn sau này ở thời kỳ La Mã, Seneca và Epictetus, nhấn mạnh các giáo điều (vốn đã là trọng tâm giảng dạy của những người theo trường phái Ẩn nhẫn thời kỳ đầu) rằng bậc hiền giả hoàn toàn thoát khỏi bất hạnh và rằng đức hạnh là đủ để hạnh phúc. Cụm “stoic calm” (tạm dịch: bình thản ẩn nhẫn) của chúng ta có lẽ tóm lược nội dung chung của những lời khẳng định này. Tuy nhiên, nó không gợi ý đến các quan điểm đạo đức căn bản hơn mà những người theo trường phái Ẩn nhẫn bảo vệ, ví dụ như chỉ bậc hiền giả được tự do trong khi tất cả những người khác là nô lệ, hoặc những kẻ có đạo đức xấu xa đều như nhau. (Những ví dụ khác, xem trong tiểu luận ngắn “Paradoxa Stoicorum” của Cicero). Dù có vẻ rõ ràng rằng một vài người theo trường phái Ẩn nhẫn có một loại vui thú lệch lạc khi ủng hộ các quan điểm dường như trái với lẽ thường, nhưng họ không làm vậy chỉ để gây sốc. Luân lý học Ẩn nhẫn đạt được sự hợp lý nhất định trong ngữ cảnh học thuyết vật chất và tâm lý của họ, cũng như trong khuôn khổ học thuyết đạo đức Hy Lạp giống với lý thuyết đạo đức được Plato và Aristotle truyền lại cho họ. Có vẻ như họ nhận thức rõ về bản chất phụ thuộc lẫn nhau trong các quan điểm triết học của mình, nếu ví triết học như một con vật sống thì logic học là bộ xương và gân; luân lý học và vật lý, lần lượt là thịt và linh hồn (một phiên bản khác đảo ngược lại thứ tự này, cho rằng luân lý học là linh hồn). Các quan điểm của họ về logic học và vật lý cũng không kém phần đặc biệt và thú vị so với các quan điểm về luân lý học.

Nội dung chính:

  1. Các nguồn thông tin về trường phái Ẩn nhẫn
  2. Triết học và cuộc sống
  3. Lý thuyết Tự nhiên
  4. Logic học
  5. Luân lý học
  6. Ảnh hưởng

1. Các nguồn thông tin về trường phái Ẩn nhẫn

Vì những người theo trường phái Ẩn nhẫn nhấn mạnh vào tính hệ thống trong triết học của họ, nên cách lý tưởng để đánh giá các quan điểm đạo đức đặc biệt của trường phái này sẽ là nghiên cứu chúng trong bối cảnh lý giải đầy đủ triết lý của họ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta gặp vấn đề về các nguồn thông tin liên quan tới trường phái ẩn nhẫn. Chúng ta không có một tác phẩm hoàn chỉnh nào của bất kỳ ai trong số ba nhân vật đứng đầu trường phái này: “nhà sáng lập”, Zeno xứ Citium ở Cyprus (344 – 262 TCN), Cleanthes (mất năm 232 TCN) hoặc Chrysippus (mất vào khoảng năm 206 TCN). Chrysippus sáng tác rất nhiều, hơn 165 tác phẩm, nhưng chúng ta chỉ có một vài đoạn trong số đó. Những tác phẩm hoàn chỉnh của các triết gia theo trường phái ẩn nhẫn mà chúng ta có là những tác phẩm thuộc về các tác giả La Mã, Seneca (4 TCN – 65 SCN), Epictetus (khoảng năm 55-135) và hoàng đế Marcus Aurelius (121 – 180), những tác phẩm này về cơ bản tập trung vào luân lý học. Chúng có khuynh hướng hô hào đạo đức dài dòng nhưng chỉ cung cấp những manh mối về các cơ sở lý thuyết của hệ thống đạo đức. Đối với thông tin chi tiết về Old Stoa (tức ba trụ cột đầu tiên của trường phái và các môn đệ cũng như những đồng môn của họ) chúng ta phải dựa vào các doxography[1], như là Opinions on Nature của các triết gia ngụy Plutarch[2], Lives of Eminent Philosophers (khoảng thế kỷ thứ 3 SCN) của Diogenes Laertius và Excerpts (khoảng thế kỷ thứ 5 SCN) của Stobaeus – và các nguồn tư liệu của họ là Aetius (khoảng thế kỷ thứ 1 SCN) và Arius Didymus (khoảng thế kỷ thứ 1 đầu công nguyên) – hoặc các triết gia khác (hay những nhà biện giải Công giáo) tranh luận với những người theo trường phái ẩn nhẫn vì mục đích riêng. Gần như toàn bộ nguồn thông tin về sau đều là mang tính thù địch. Trong số họ có nhà bình luận Alexander xứ Aphrodisias (khoảng cuối thế kỷ thứ 2 SCN), đã phê bình những người theo trường phái ẩn nhẫn trong tác phẩm On Mixture and One Fate, cũng như trong nhiều tác phẩm khác; người ủng hộ Plato, Plutarch xứ Chaeronea (khoảng thế kỷ thứ 1 – 2 SCN) viết ra các tác phẩm như On Stoic Self-ContradictionsAgainst the Stoics on Common Conceptions; nhà văn y học Galen (khoảng thế kỷ thứ 2 SCN), người có quan điểm gần như theo Plato; người theo chủ nghĩa hoài nghi Pyrrhonian, Sextus Empiricus (khoảng thế kỷ thứ 2 SCN); Plotinus (khoảng thế kỷ thứ 3 SCN); các giám mục Công giáo Eusebius (khoảng thế kỷ 3 – 4 SCN) và Nemesius (khoảng năm 400 SCN); và nhà Tân Plato sống ở thế kỷ thứ 6, Simplicius. Một nguồn quan trọng khác là Cicero (thế kỷ thứ 1 TCN). Dù có quan điểm triết học bắt nguồn từ người thầy Philo xứ Larissa và New Academy, nhưng ông ta không tán thành với cái mà ông ta xem là giọng điệu đạo đức tót vời của trường phái ẩn nhẫn. Trong các tác phẩm như Academic Books, On the Nature of the Gods và On Ends, Cicero cung cấp các tóm tắt bằng tiếng Latin, cùng lời bàn luận phê bình, về các quan điểm của những trường phái tư tưởng Hy Lạp chính.

Từ những nguồn này, các học giả đã cố gắng chắp nối chúng lại thành một bức tranh về nội dung, và trong một vài trường hợp, về sự phát triển của lý thuyết Ẩn nhẫn. Trên một số khía cạnh, đã có sự thống nhất đáng kể về tư tưởng của các nhà Ẩn nhẫn và chúng ta chậm chí có thể gán tên gọi cho một số đổi mới cụ thể. Tuy nhiên, trên các khía cạnh khác, sự diễn giải dựa trên bằng chứng ít ỏi của chúng ta lại gây tranh cãi kịch liệt. Cho đến gần đây, các nhân vật không chuyên phần lớn đã bị loại khỏi cuộc tranh luận vì nhiều nguồn tài liệu quan trọng không được chuyển ngữ sang các ngôn ngữ hiện đại. Những phần nhỏ trong các tác phẩm Ẩn nhẫn và chứng ngôn của chúng bằng tiếng Hy Lạp và Latin đều được H. von Arnim sưu tầm thành ba tập trọn bộ có tựa đề Stoicorum Veterum Fragmenta xuất bản từ năm 1903 đến năm 1905. Trong bài viết về các nhà Ẩn nhẫn “cổ”, những phần tác phẩm và chứng ngôn thường được nhắc đến bằng số tập và số văn bản trong bản tổng hợp của von Arnim; chẳng hạn: SVF I.345 = Diogenes Laertius, Lives 4.40. Năm 1987, A. A. Long và David Sedley cho ra mắt cuốn The Hellenistic Philosophers (LS) bao gồm các bản dịch tiếng Anh trong tập đầu tiên và bình luận nhiều văn bản quan trọng bàn về các nhà Ẩn nhẫn, những người theo chủ nghĩa Epicurus và Skeptic. Năm 1988, tiếp nối Long và Sedley là tuyển tập các văn bản quan trọng do B. Inwood và L. P. Gerseon biên tập có tiêu đề Hellenistic Philosophy. Nếu không có ghi chú đặc biệt nào khác, sau những đoạn văn bản của hoặc về các nhà Ẩn nhẫn, tôi sẽ dẫn nguồn tên tác giả theo ghi chú của Long và Sedley. Ví dụ, “Aetius, 26A” có nghĩa là mục 26 trong tác phẩm của Aetius, đoạn A (nếu không có ghi chú khác, tôi sử dụng bản dịch của họ, thỉnh thoảng thay đổi đôi chút). Tuyển tập của Inwood và Gerson chuyển ngữ nhiều văn bản tương tự, nhưng không chia chúng thành các đoạn nhỏ phân loại theo chủ đề như bản của LS. Mỗi cách tiếp cận đều có giá trị riêng, song tuyển tập của LS dễ tra cứu hơn. Đối với bản dịch tiếng Pháp của Chrysippus, hãy theo dõi bản dịch của Dufour (2004). Đối với bản dịch tiếng Đức về Ẩn nhẫn thời kỳ đầu, hãy tham khảo bản dịch của Nickel (2009).

Để biết thêm thông tin, bạn có thể xem mục bàn về doxography của triết học cổ.

2. Triết học và Cuộc sống

Khi xem xét các lý thuyết của các nhà Ẩn nhẫn, điều quan trọng là phải nhớ rằng họ suy ngẫm về triết học không giống như trò tiêu khiển thú vị hay thậm chí là một khối kiến thức cụ thể, mà như một cách sống. Họ định nghĩa triết học như một dạng thực hành hoặc rèn luyện (askêsis) về chuyên môn liên quan đến điều đem lại lợi ích (Aetius, 26A). Khi chúng ta hiểu chúng ta là ai và thế giới xung quanh chúng ta thực sự ra sao, đặc biệt là bản chất của giá trị, chúng ta sẽ được biến đổi hoàn toàn. Khía cạnh trị liệu này phổ biến đối với những đối thủ cạnh tranh chính của họ, những người theo trường phái Epicureus, và có lẽ giúp lý giải vì sao cuối cùng cả hai trường phái đều bị Cơ Đốc giáo lấn lướt. Tác phẩm Meditations (Suy tưởng) của Marcus Aurelius đem đến bức tranh đầy mê hoặc về một hiền giả Ẩn nhẫn tự xưng đối đãi với chính bản thân. Cuốn sách, còn được gọi là (To Himself) Tự Ngẫm, là cuốn nhật ký của hoàng đế. Trong đó, ông không chỉ nhắc nhở bản thân về nội dung lời giáo huấn cốt lõi của trường phái Ẩn nhẫn mà còn phê bình bản thân khi nhận ra mình đã không áp dụng được lời dạy này vào cuộc sống trong một vài trường hợp cụ thể. Ngày nay, nhiều người vẫn xem trường phái ẩn nhẫn như là một hình thức rèn luyện tâm lý. Trường phái ẩn nhẫn không bao giờ là “hàn lâm thuần túy” và các biến thể hiện đại của tư tưởng Ẩn nhẫn vẫn tìm cách tiếp nối truyền thống tự chuyển biến này. Một trong số những cách diễn giải hiện đại có sức ảnh hưởng nhất về các phương tiện, mà qua đó việc giải thích tư tưởng Ẩn nhẫn đạt được một sự chuyển biến như vậy, giới thiệu khái niệm về những rèn luyện tinh thần. Hadot (1998) đề xuất việc đọc tác phẩm Meditations của Marcus Aurelius như một tập hợp những cách rèn luyện như vậy. Để tìm hiểu nghiên cứu tổng quát hơn về triết học Ẩn nhẫn nói chung, xem thêm Sellars (2013). Đối với cuộc tranh luận gần đây về vấn đề triết học như một cách – hay đúng hơn là nhiều cách – sống ở thời cổ đại, theo dõi Cooper 2012.

[1] Các tác phẩm sử gia cổ đại viết về quan điểm của các triết gia, khoa học gia, tức không phải là tác phẩm trực tiếp của các triết gia, sử gia.

[2] Một loạt các tác phẩm được xếp vào dạng ngụy-Plutarch bởi đã từng được cho là Plutarch viết nhưng tới nay đã được chứng minh là không phải do ông viết.

Nguồn: Stoicism (Stanford Encyclopedia of Philosophy)

Dịch: Lê Ái

Để đọc bài đầy đủ, mời bạn đăng ký tạp chí điện tử Book Hunter

Share
tap-chi-dien-tu-book-hunter