Bài lưu trữ Văn chương - Cái đẹp

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ VÀ “PHÓNG CUỒNG NGÂM”

Hunters
Written by Hunters

Tuệ Trung Thượng Sĩ (1239-1291), tên thật Trần Tung, tước hiệu Hưng Ninh Vương nhà Trần, là một trong các nhà thơ Thiền có ảnh hưởng lớn nhất đến Thiền học đời Trần. Ông là người có ảnh hưởng lớn nhất đến Trần Nhân Tông, vị vua – thiền sư sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm.

Cùng với Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Hưng Ninh Vương Trần Tung cũng có một võ nghiệp lừng lẫy thời bấy giờ. Thế nhưng, ông đã sớm rút khỏi quan trường để tu học thành một Thiền giả đúng vào thời kỳ rực rỡ nhất. Quan điểm Thiền học của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng có nhiều điểm đột phá, đi ngược lại các quan điểm tu đạo lúc bấy giờ. Có truyện kể như sau: Một hôm, hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm mở tiệc trong cung điện. Trên bàn có cả thức ăn mặn và thức ăn chay. Tuệ Trung Thượng sĩ gắp thức ăn không phân biệt chay hay mặn. Hoàng thái hậu hỏi: “Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được ?” Ông cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần thành Phật. Phật cũng không cần thành anh. Em không nghe các bậc cổ đức nói: Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát đó sao

Các tư tưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ được ông ghi lại trong “Thượng Sĩ ngữ lục”. Trong đó, bài “Phóng cuồng ngâm” là bài xuất sắc nhất và có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm Thiền cũng như phong cách của Trần Nhân Tông sau này.


PHÓNG CUỒNG NGÂM

Bản dịch nghĩa:

Ngắm trông trời đất sao mà mênh mông,
Chống gậy nhởn nhơ ngoài thế gian.
Hoặc đến chỗ núi mây cao cao,
Hoặc đến chỗ biến nước sâu sâu.
Đói thì ăn cơm hoà-la,
Mệt thì ngủ làng “không có làng”.
Khi hứng thì thổi sáo không lỗ,
Nơi yên tĩnh thì thắp hương giải thoát.
Mệt thì nghỉ tạm ở đất hoan hỉ,
Khát thì uống no thang tiêu dao.
Láng giềng với Quy Sơn đi chăn trâu nước,
Cùng thuyền với Tạ Tam hát khúc “Thương lương”.
Hỏi thăm đến suối Tào Khê vái chào Lư thị,
Yết kiến Thạch Đầu sánh cùng lão Bàng.
Vui niềm vui của ta niềm vui Bố Đại,
Cuồng cái cuồng của ta, cái cuồng Phổ Hoá.
Chà chà! Cảnh giàu sang như mây nổi,
Ôi chao! Thời gian thấm thoắt như bóng ngựa qua kẽ vách.
Con đường làm quan sao mà hiểm trở đến thế!
Thói đời nóng lạnh ta hãy tạm quen.
Sâu thì dấn mà nông thì vén,
Dùng thì làm mà bỏ thì cất đi.
Buông lỏng tứ đại đừng có bó buộc,
Xong một đời rồi, không chạy chọt đó đây.
Thoả ý muốn của ta và được đúng chỗ của ta,
Sống, chết dồn ép, ta có ngại gì đâu!

 

Bản chữ Hán:

Thiên địa diểu vọng hề hà mang mang,
Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương.
Hoặc cao cao hề vân chi sơn,
Hoặc thâm thâm hề thuỷ chi dương.
Cơ tắc xan hề hoà-la phạn,
Khốn tắc miên hề hà hữu hương.
Hứng thì xuy hề vô khổng địch,
Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương.
Quyện tiểu khế hề hoan hỉ địa,
Khát bão xuyết hề tiêu dao thang.
Quy Sơn tác lân hề mục thuỷ cổ,
Tạ Tam đồng chu hề ca “Thương lương”.
Phỏng Tào Khê hề ấp Lư thị,
Yết Thạch Đầu hề sài Lão Bàng.
Lạc ngô lạc hề Bố Đại lạc,
Cuồng ngô cuồng hề Phổ Hoá cuồng.
Đốt đốt phù vân hề phú quý,
Hu hu quá khích hề niên quang.
Hồ vi hề quan đồ hiểm trở,
Phả nại hề thế thái viêm lương.
Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,
Dụng tắc hành hề xả tắc tàng.
Phóng tứ đại hề mạc bả tróc,
Liễu nhất sinh hề hưu bôn mang.
Thích ngã nguyện hề đắc ngã sở,
Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương.

Share