Chính trị - Kinh tế

Viễn cảnh kinh tế nào sau khủng hoảng của kinh tế tân tự do?

Hunters
Written by Hunters

Book Hunter : Chủ nghĩa tân tự do là chủ nghĩa đã được đề cao và thống trị toàn bộ nền kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… trên toàn thế giới trong suốt 40 năm qua. Khởi nguồn từ chủ nghĩa tự do cổ điển, chủ nghĩa tân tự do bắt đầu ảnh hưởng của mình từ những năm 1970 ở Anh và Mỹ thông qua sự ủng hộ mạnh mẽ của Margaret Thatcher và Ronald Reagan. Ở quy mô cá thể, chủ nghĩa tân tự do đề cao tự do cá nhân, tính lý trí và lợi ích tư, mọi người phải chịu trách nhiệm chính cho hành động cá nhân của mình và tin rằng mọi hoạt động của nhà nước đều kém hiệu quả, chỉ có cá nhân cạnh tranh mới mang lại hiệu quả. Trong khi đó nền kinh tế tân tự do đề cao tự do thương mại và đảm bảo dòng tiền đầu tư có thể chuyển dịch dễ dàng nhất có thể. Hệ quả tất yếu của tư tưởng trên dẫn đến các hiện tượng xã hội như sự suy giảm mạnh mẽ của các phúc lợi xã hội và tổ chức công, tính tư hữu hóa tài sản, sự tập trung cao độ của cải vật chất vào tay những người giàu nhất bằng sự nghèo đi của tầng lớp trung lưu và người nghèo. Về khía cạnh kinh tế, chủ nghĩa tiêu dùng và đồng tiền lên ngôi, vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn, khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên để đổi lại lợi nhuận, môi trường ô nhiễm trầm trọng và biến đổi khí hậu. Nó cũng là động lực chính tạo ra sự toàn cầu hóa, quyền lực được trao cho các tổ chức như như WTO, IMF, World Bank để chi phối kinh tế, tài chính, thương mại toàn cầu.

Tuy nhiên trong 40 năm phát triển của mình, kinh tế dựa theo chủ nghĩa tân tự do đã chứng kiến 3 cuộc khủng hoảng có quy mô lớn và đều xuất phát bắt đầu từ ngành tài chính : khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, bong bóng dotcom những năm 2000 và cuộc đại khủng hoảng kinh tế-tài chính năm 2008 làm cho mọi người bắt đầu phải đặt ra những câu hỏi về hiệu quả thật sự của chủ nghĩa tân tự do với kinh tế, xã hội.

——————————–

Trong những tháng vừa qua, thế giới đã trải qua một khủng hoảng kinh tế-tài chính nghiêm trọng nhất từ sau thế chiến thứ hai tới ngày nay. Khủng hoảng 2008 bắt nguồn từ sự sụp đổ của thị trường địa ốc ở Hoa Kỳ. Biến cố này đã làm dao động trước hết thị trường tín dụng và hệ thống ngân hành-tài chính Hoa Kỳ rồi của cả thế giới. Tiếp theo nền tảng kinh tế của Hoa Kỳ và hầu hết các quốc gia bị chao đảo rồi đi vào suy thoái. Cuối cùng một khủng hoảng toàn diện về các mặt tín dụng, ngân hàng, tài chính, kinh tế, thương mại và xã hội đã bao trùm toàn cầu.

Khủng hoảng hiện nay đã gây thiệt hại rất nhiều cho hệ thống kinh tế-tài chính của thế giới nói chung, của Hoa Kỳ và nhiều nước khác cùng có nền kinh tế dựa trên chủ thuyết kinh tế tân tự do nói riêng. Khủng hoảng chắc chắn đã và sẽ còn làm lung lay niềm tin của rất nhiều người, nhiều giới đã từng ủng hộ mô hình kinh tế tân tự do và song song quên đi những thái quá, sai lầm của chủ thuyết kinh tế tân tự do và phương thức hành động của nó là Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn (1990).

Hoa Kỳ là nước đã khởi xướng xây dựng kinh tế tân tự do và thúc đẩy thế giới áp dụng chủ thuyết kinh tế tân tự do. Nói chung, Hoa Kỳ và các nước Tây Âu, đứng đầu kinh tế thế giới, rõ ràng có nền kinh tế tân tự do. Nền kinh tế của các nước khác chỉ có tính tân tự do trong một giới hạn nhất định. Chủ thuyết kinh tế tân tự do đã cho thấy có khả năng đưa kinh tế tư bản chủ nghĩa ra khỏi khó khăn và trì trệ trong thập niên 70. Khó khăn và trì trệ này xảy ra chủ yếu vì hai khủng hoảng dầu lửa liên tiếp (1973 và 1979), tình trạng ngân sách của Hoa Kỳ thiếu hụt nghiêm trọng (vì chiến tranh Việt Nam và chiến tranh lạnh trên thế giới), đồng mỹ kim xuống giá (năm 1971 đồng mỹ kim hết tương đương với vàng) và kinh tế Hoa Kỳ suy yếu, trì trệ. Chủ thuyết kinh tế tân tự do đã dẫn dắt kinh tế thế giới phát triển trong gần ba mươi năm, từ đầu thập niên 80, để cuối cùng đưa kinh tế của thế giới, kể cả Hoa Kỳ là cái nôi của chủ thuyết kinh tế tân tự do, tới tiêu tán toàn diện và một cách rất mau chóng.

Trong lúc chủ thuyết kinh tế tân tự do hướng dẫn các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trên đường phát triển, chủ thuyết cũng đã để lại nhiều vết tích xấu, có khi rất xấu tới mức đưa kinh tế thế giới vào khủng hoảng tài chính, rồi khủng hoảng kinh tế và trong tương lai rất gần sắp tới khủng hoảng xã hội với những thảm trạng sẽ xảy ra trong giới lao động mất việc và thành phần có thu nhập thấp. Trong số những vết tích xấu đó phải kể ra:

  • Sự thịnh vượng kinh tế có tính ảo, không vững chắc, không căn cứ trên sức mạnh của kinh tế thật. Tình trạng này được nuôi dưỡng do tài chính chế ngự kinh tế bằng lô-gíc bong bóng đầu cơ.
  • Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách triệt để, môi trường môi sinh bị hủy hoại, nhiệt độ trái đất gia tăng, khí hậu biến đổi, thời tiết đảo lộn.
  • Sự tiêu dùng không giới hạn năng lượng và các tài nguyên thiên nhiên khác làm cạn kiệt các nguồn dự trữ. Viễn cảnh khan hiếm năng lượng đã gây ra nạn thiếu hụt thực phẩm, đói kém tại các nước nghèo, có nơi rơi vào khủng hoảng lương thực.
  • Hố cách biệt giầu nghèo gia tăng giữa các quốc gia, các khu vực và giữa các giai tầng xã hội trong một nước. Tình trạng xã hội bất công và bất ổn, an sinh xã hội sút kém ngày càng phổ biến. Tại nhiều nước, khủng hoảng hiện nay đã làm tầng lớp lao động phẫn nộ, dân chúng biểu tình xuống đường.

Trong những năm sắp tới, chủ thuyết kinh tế tân tự do sẽ không còn sức thu hút như trước. Hoa Kỳ là quốc gia dẫn đầu các nước theo chủ thuyết này mà không có khả năng hành động để tránh xảy ra khủng hoảng thì nước nào có thể làm được? Kinh tế tân tự do đã gây ra khủng hoảng nghiêm trọng như chúng ta thấy thì còn lý do nào để duy trì, bảo vệ nó?

Khủng hoảng của nền kinh tế tân tự do chắc chắn sẽ mở đường cho nhiều thay đổi quan trọng. Những thay đổi quan trọng sau đây có nhiều triển vọng sẽ xảy ra:

  • Mô hình kinh tế tân tự do sẽ không còn là mẫu mực để Hoa Kỳ, Qũy Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới áp đặt cho các nước. Các nước đã bị áp lực để chấp nhận Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn sẽ dần dần bỏ rơi nó. Các nước thành viên của khối G20 sẽ nỗ lực trao đổi và hội ý để tiến tới một đồng thuận có tính quốc tế thực sự..
  • Các biện pháp mà các nước đã đưa ra để ổn định thị trường tín dụng và tài chính, tái lập hoạt động sản xuất và đầu tư bình thường sẽ ảnh hưởng làm thay đổi cục diện kinh tế-tài chính thế giới. Vai trò dự trữ của đổng mỹ kim sẽ bị suy yếu, ngân sách quốc gia của nhiều nước có nền kinh tế mạnh nhất thế giới quốc gia sẽ bị thiếu hụt trong nhiều năm.
  • Dù thị trường tài chính đuợc ổn định lại, các nguồn tín dụng sẽ tiếp tục bị giới hạn, các nguồn viện trợ phát triển chính thức cho các nước nghèo sẽ giảm sút, nạn thiếu hụt lương thực có triển vọng sẽ bành trướng. Xu thế toàn cầu hóa sẽ đình hoãn. Các quốc gia sẽ có khuynh hướng mở rộng quan hệ kinh tế-tài chính có tính khu vực hoặc song phương và đa phương.
  • Sự phát triển kinh tế thế giới có triển vọng sẽ theo một hướng đi mới là sự phát triển bền vững. Sự phát triển này sẽ là sự phát triển kinh tế thật. Động lực cho sự phát triển bền vững có lẽ là ngành bảo vệ môi trường, môi sinh, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, chống biến đổi khí hậu, tiết kiệm năng lượng, nghiên cứu và triển khai năng lượng tái sinh.

Bài viết dưới đây gồm có bốn phần. Trong phần một, người viết sẽ cân nhắc viễn cảnh cứu vớt hệ thống kinh tế tân tự do và triển vọng một đường hướng phát triển kinh tế mới cho thế giới. Phần hai sẽ so sánh thế lực kinh tế của các nước có nền kinh tế mạnh nhất thế giới, chủ yếu là các nước thành viên của khối G20. Phần này cũng dự đoán về triển vọng một đồng thuận mới cho nền kinh tế thế giới. Phần ba sẽ nói tới cơ hội dành cho sự phát triển bền vững trở thành đường hướng phát triển kinh tế tương lai và nêu ra các thách thức và khó khăn trong việc thực hiện sự phát triên bền vững. Sau cùng, phần bốn sẽ đề cập tới bài học khủng hoảng và triển vọng những chọn lựa cho tương lai.

Giải cứu kinh tế tân tự do hay chuyển hướng đi đường khác?

Trong một phúc trình (1) phổ biến tháng 4, 2009, Qũy Tiền tệ Quốc tế nhận định rằng hệ thống tài chính thế giới đang trải qua một thử thách rất khó nhọc. Khủng hoảng tràn lan ảnh hưởng lên cuộc sống của các gia đình, hoạt động của các doanh nghiệp, các ngân hàng tại các nước tiên tiến giầu có cũng như tại các quốc gia có thu nhập thấp hoặc đang lên. Các nước đã đề ra những biện pháp nhằm điều chỉnh các hoạt động kinh tế và thị trường tài chính. Tình hình đã có dấu hiệu ổn định. Nhưng dù sao sẽ cần phải thi hành một cách cương quyết và hiệu nghiệm thêm nhiều biện pháp khác, và cần nhiều sự hợp tác quốc tế hơn nữa. Trong phần kết luận, Qũy Tiền tệ Quốc tế viết: “Một công việc có tính hứa hẹn đã bắt đầu để xét lại hệ thống tài chính thế giới và đề nghị một nền tảng bền vững hơn thích hợp với sự tăng trưởng kinh tế bền lâu (2)”.

Từ khi khủng hoảng xảy ra, khuyng hướng đòi xét lại bản chất, nền tảng của mô hình kinh tế tân tự do và đề ra một đường hướng phát triển kinh tế mới ngày càng được tán thành và hưởng ứng. Với hậu quả xã hội của khủng hoảng ngày càng hiện rõ trong những tháng sắp tới thì áp lực của các phong trào chống đối chủ thuyết kinh tế tân tự do sẽ ngày càng mạnh và yêu cầu có sự chuyển hướng kinh tế, đề xuất một mô hình kinh tế mới không phải là một điều khó tin.

Tuy nhiên, kinh tế thế giới hiện nay có yêu cầu cấp bách là ổn định thị trường kinh tế-tài chính, hàn gắn niềm tin nơi kinh tế tân tự do bị sứt mẻ. Do đó trong tương lai gần và trước khi có sự chuyển hướng, có lẽ sẽ xuất hiện một hình thức “đổi mới” của mô hình kinh tế tân tự do, một thứ chủ thuyết kinh tế tân tự do “xét lại”. Về lâu dài, câu hỏi đặt ra là tương lai của kinh tế tân tự do sẽ là thế nào? Kinh tế tân tự do có thể cứu vớt được không? Nếu vớt được thì điều này có tính nhất thời hay bền lâu?

Hiện nay để ra khỏi khủng hoảng, Hoa Kỳ và các nước trong khối G20 đều phải cần đến “bàn tay hữu hình” của nhà nước để thay thế “bàn tay vô hình” của thị trường. Nhà nước đã buộc phải can thiệp vào thị trường tài chính và kinh tế, bơm tiền vào hệ thống tín dụng, bảo lãnh các ngân hàng , giải cứu các xí nghiệp. Các biện pháp này có tính cấp thiết để tránh xảy ra một khủng hoảng giống như khủng hoảng 1929 với hậu quả là làm tiêu tán hệ thống kinh tế tự do. Các biện pháp có khả năng ổn định các thị trường nhưng cuối cùng hệ thống kinh tế tân tự do không có hy vọng tự cứu. Trong ngắn hạn, hệ thống sẽ tự chữa, cố gắng biến thành một hình thức kinh tế tân tự do “đổi mới” để tồn tại thêm một thời gian.

Triển vọng hệ thống kinh tế tân tự do tự cứu khó xảy ra. Nền tảng hiện thời của hệ thống rất khó cải tiến bằng những biện pháp cổ điển của ngành kinh tế học. Chẳng hạn, những biện pháp tiền tệ rất khó tạo ra những kết quả chờ đợi. Số vay nợ của người dân và chính phủ tại các nước có nền kinh tế tân tự do ở mức rất cao. Lãi suất của các ngân hàng trung ương đã được hạ xuống tới mức thấp nhất chưa từng thấy bao giờ, tuy nhiên thị trường tài chính và kinh tế vẫn chưa biểu lộ khả năng trồi lên một cách rõ rệt. Đối với những biện pháp kích cầu như gia tăng ngân sách nhà nước thì việc này sẽ làm ngân sách quốc gia thâm thủng hơn nữa, vay nợ của nhà nước sẽ nặng chĩu đe dọa tương lai của các thế hệ sau. Ngoài ra, việc lạm dụng biện pháp kích cầu sẽ đưa kinh tế vào ngõ bí, cụ thể là in tiền, phát hành giấy bạc mà không có kinh tế thật bảo chứng. Về những biện pháp thuế khóa, tác động của chúng sẽ rất giới hạn vì đã bị lạm dụng trong nhiều năm qua. Thuế suất và suất thuế biên tế đã xuống thấp từ lâu. Còn lại biện pháp khấu trừ thuế (crédit d’impôt) áp dụng cho tư nhân thì nó sẽ tạo ít ảnh hưởng vì tư nhân sẽ có khuynh hướng dùng số tiền này để giảm vay nợ trong lúc kinh tế bất ổn, việc làm và thu nhập bất trắc. Để tự cứu, hệ thống kinh tế tân tự do có thể sử dụng những biện pháp kích cung bằng cách thúc đẩy kinh tế thật tăng trưởng. Giá trị kinh tế, giá trị gia tăng tùy thuộc vào lao động cần thiết để sản xuất ra nó (valeur-travail) và vào tác dụng (chức năng) của nó (valeur-usage; valeur-fonction). Nhưng tác động của những biện pháp này cũng sẽ rất giới hạn vì trong những năm qua rất nhiều cơ sở sản xuất đã di chuyển sang các nước có lao động thấp và đang lên như Trung Quốc, Ấn Độ, Mã Lai, Mexique,Thái Lan, Turquie, v.v. Sau hết là những biện pháp tài trợ đầu tư trong các ngành đã có như hạ tầng cơ sở, điện lực, khí đốt, giáo dục hoặc phát động chương trình mở mang những hoạt động sản xuất mới hướng về năng lượng tái sinh, bảo vệ môi trường môi sinh, chống lại khí hậu biến đổi, v.v. Trong lãnh vực này, việc thực hiện một chương trình có quy mô lớn không dễ dàng và không thể tạo kết quả mau chóng.

Tình trạng tín dụng khan hiếm, thất nghiệp gia tăng, xí nghiệp đóng cửa, xã hội bất ổn ở khắp nơi để lộ mặt trái của mô hình kinh tế tân tự do. Hậu quả của khủng hoảng hiện nay đã phơi bày những cạm bẫy của giải tư, cạnh tranh tự do, bãi bỏ quy chế, tự do thương mại … không bình đẳng! Khủng hoảng cũng gợi lại những kinh nghiệm không tốt đẹp của một số nước đã có thời kỳ bị Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới thúc ép áp dụng chủ thuyết kinh tế tân tự do và Đồng Thuận Hoa Thịnh Đốn. Những nước này chủ yếu gồm có Mexique (1994), các nước ở Châu Á là Nam Hàn-Thái Lan-Nam Dương-Mã Lai-Philippines (1997), Nga Sô (1998), Ba Tây (1998), Argentine (2001). Ngoài ra, bước vào thiên kỷ 21, hệ thống kinh tế tân tự do đã phải đối phó với khủng hoảng trong ngành công nghệ thông tin và truyền thông phát xuất từ cái nôi của chủ thuyết kinh tế tân tự do là Hoa Kỳ. Ngày nay khủng hoảng tín dụng-ngân hàng-tài chính-kinh tế thế giới cũng lại xuất hiện từ hệ thống kinh tế tân tự do của Hoa Kỳ. Tất cả các hậu quả của khủng hoảng 2008 chưa thế biết rõ hết được nhưng chắc chắn sẽ nghiêm trọng và sâu rộng mặc dù những lời tuyên bố lạc quan của những giới đã bị chủ thuyết kinh tế tân tự do lôi cuốn và đã đề xuất Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn. Thành tích của mô hình kinh tế tân tự do trong gần ba mươi năm qua rõ ràng không sáng chói. Nếu thời kỳ 1945-1975 đã được gọi là “Ba mươi năm huy hoàng” (Trente glorieuses) thì thời kỳ của kinh tế tân tự do (1980-2010) có lẽ sẽ được lịch sử ghi nhớ là “Ba mươi năm tai họa” (Trente calamiteuses).

Đường hướng kinh tế tân tự do tuy xuất hiện vào những năm 1979-1980 nhưng chỉ bắt đầu trở thành mô hình đem ra áp dụng một cách phổ biến từ khi có Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn (1990). Nếu tình hình thế giới trong thập niên 80 đã tỏ ra thuận lợi cho việc thực thi chủ thuyết kinh tế tân tự do thì trong những năm sắp tới những hậu quả của khủng hoảng hiện nay có lẽ sẽ đưa chủ thuyết vào bóng tối. Trong thập niên 80 có hai diễn biến quan trọng là, thứ nhất, nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa trở nên bất ổn và gặp nhiều khó khăn. Thời kỳ này được đánh dấu bởi sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1987. Thứ nhì, cuộc tranh đua giữa hai khối tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa đã kết thúc bằng sự tan vỡ của khối thứ hai. Thắng lợi này đã giúp Hoa Kỳ củng cố địa vị đứng đầu khối tư bản chủ nghĩa và đặt Hoa Kỳ vào thế lãnh đạo thế giới. Chính Hoa Kỳ đã khởi xướng và phần nào áp đặt Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn cho thế giới. Đồng thuận này là phương thức thi hành chủ thuyết kinh tế tân tự do.

Sau gần ba mươi năm ngự trị trên kinh tế thế giới, chủ thuyết kinh tế tân tự do ngày nay đã yếu mòn. Nó đã giúp kinh tế thế giới ra khỏi tình trạng khó khăn của những năm 1975-1980, tạo hoàn cảnh cho nhiều ngành công nghệ mới như điện tử, không gian, thông tin và truyền thông phát triển, cho kinh tế nói chung tăng tiến. Nhưng nó cũng tạo ra nhiều vấn đề như việc làm bất ổn, cách biệt giầu nghèo sâu hơn, bất công xã hội gia tăng, lợi nhuận của tư bản là ưu tiên số một và đứng lên trên điều kiện làm việc và lương bổng của người lao động, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, môi sinh bị hủy họai, khí hậu biến đổi, … và nhiều bong bóng đầu cơ trục lợi có tầm vóc quốc gia, khu vực hoặc toàn cầu. Những vấn đề này là những thách thức to lớn mà mô hình kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn không hy vọng sẽ giải quyết được. Tình trạng này sẽ thuận lợi cho một đường hướng kinh tế khác, một mô hình kinh tế mới.

Khủng hỏang 2008 là khủng hoảng quan trọng thứ ba trong khoảng ba mươi năm kinh tế tân tự do. Trước hết là khủng hoảng Châu Á (1997) xảy ra tại Nam Hàn-Thái Lan-Nam Dương-Mã Lai-Philippines. Những quốc gia có nền kinh tế phát triển tốt đẹp khiến Qũy Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới đặt tên cho sự thành công này là Phép lạ Châu Á (Miracle asiatique/Asian miracle). Tuy nhiên vì bị thúc ép thi hành Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn và tự do luân chuyển vốn và tư bản đầu tư, sự thành công này đã bị tiêu tán khi thực tế cho thấy tư bản đầu tư ít và … tư bản đầu cơ quá nhiều! Tiếp đến là khủng hoảng của ngành công nghệ thông tin và truyền thông (2000-2001) xuất hiện ngay trong cái nôi của chủ thuyết kinh tế tân tự do. Ngày nay khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu 2008 tỏ ra nghiêm trọng hơn bất cứ khủng hoảng nào khác kề từ khủng hoảng 1929 tới nay. Sức lôi kéo, khả năng gây tin tưởng và hy vọng của chủ thuyết kinh tế tân tự do đã bị suy yếu rất nhiều khiến nó sẽ khó tiếp tục làm mẫu mực hướng dẫn kinh tế thế giới. Hệ thống kinh tế tân tự do sẽ tự đào thải, không thể tự cứu. Tạm thời chủ thuyết kinh tế tân tự do cần được giải cứu để tránh tình trạng đổ vỡ hoàn toàn.Yêu cầu của thực tế khách quan ngày nay phải chăng là một mô hình tổ chức kinh tế hỗn hợp nhà nước và tư nhân gần với học thuyết kinh tế của John Maynard Keynes?

Tương quan thế lực kinh tế trên thế giới : cục diện mới? đồng thuận mới?

Trong hoàn cảnh hiện nay, hướng đi tương lai của nền kinh tế thế giới sẽ tùy thuộc rất nhiều nơi các nước trong khối G20 (3). G20 là một diễn đàn kinh tế-tài chính thành lập năm 1999 để các nước thành viên tham khảo ý kiến và phối hợp hành động. Khối G20 là hậu thân của G8 (1997), G7 (1976) và G6 (1975). Tương quan thế lực kinh tế giữa các nước G20 sẽ là yếu tố quyết định hệ thống tồ chức tương lai của kinh tế thế giới.

Khủng hoảng kinh tế-tài chính sẽ làm thay đổi đáng kể cục diện kinh tế thế giới. Trong khối G20, Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai thành viên có thế đứng đáng chú ý nhất ở chỗ là Hoa Kỳ biểu hiện cho chủ thuyết kinh tế tân tự do và Trung Quốc cho các nước đang lên. Hoa Kỳ là nước đã khởi xướng mô hình kinh tế tân tự do, áp đặt Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn và mô hình này, đồng thuận này đã làm chao đảo hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ, dao động thị trường tái chính thế giới và lôi kéo kinh tế toàn cầu đi vào suy thoái thì uy tín của Hoa Kỳ sẽ bị sứt mẻ đáng kể. Tính chính thống trong vai trò lãnh đạo kinh tế thế giới của Hoa Kỳ sẽ phai mờ. Nhưng Hoa Kỳ tuy bị thiệt hại nhiều nhất sẽ tiếp tục giữ ưu thế, vẫn có nhiều sức mạnh kinh tế nhất trong khối G20.

Trung Quốc đứng đầu các nước đang lên, có sản lương quốc gia xếp hạng thứ ba trên thế giới.
Khủng hoảng hiện nay tạo cơ hội cho Trung Quốc trồi lên trên cục diện kinh tế thế giới. Tuy nhiên, tương quan thế lực kinh tế của Trung Quốc với các nước khác trong G20 không có triển vọng thay đổi nhiều. Trọng lượng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu (đặc biệt là Hoa Kỳ và các nước khác có nền kinh tế tân tự do). Trong tương lai gần Trung Quốc chưa thể trở thành một động lực thúc đẩy kinh tế thế giới khi khủng hoảng xảy ra như hiện nay. Khủng hoảng có lẽ sẽ là dịp cho Trung Quốc hướng về một đường phát triển kinh tế dựa trên sự quân bình giữ thị trường trong nước và thị trường xuầt khẩu.

Trong khối G20, các nước đang lên sẽ giành được một chỗ đứng tương xứng. Trên bình diện toàn cầu, tương quan thế lực kinh tế sẽ thuận lợi cho các nước Châu Á dẫn dắt bởi Nhật Bản, Trung Quốc, Nam Hàn, Nam Dương, v.v.. Các nước Châu Á hầu như chỉ phải chịu hậu quả về mặt kinh tế trong khủng hoảng hiện nay. Hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính tại Châu Á không bị thiệt hại nhiều.

Do tình trạng kinh tế-tài chính khó khăn trên thế giới, một hội nghị của khối G20 đã được tổ chức vào đầu tháng 4, 2009 tại Luân Đôn. Bản thông cáo chung công bố sau hội nghị có một nội dung nghèo nàn khiến đã không tác động tích cực lên các thị truờng chứng khoán, tài chính và kinh tế. Điều này cho thấy một đồng thuận có giá trị, có nội dung đúng đắn và đưa ra phương thức và biện pháp cần thiết sẽ cần rất nhiều thiện chí và thời gian. Cục diện kinh tế thế giới chuyển đổi nhưng tương quan thế lực kinh tế giữa các nước, nhất là giữa Hoa Kỳ và các nước khác, không đổi theo cùng tốc độ. Trong hệ thống kinh tế-tài chính thế giới toàn cầu hóa có một mạng lưới ràng buộc quyền lợi của các quốc gia. Quan hệ kinh tế-thương mại giữa các nước phức tạp và đa dạng cho nên có nhiều nước ở trong tình trạng mâu thuẫn quyền lợi. Do đó con đường đi tới một đồng thuận kinh tế mới sẽ dài và khó khăn. Trường hợp mâu thuẫn quyền lợi điển hình nhất là Trung Quốc: Trung Quốc không theo chủ thuyết kinh tế tân tự do, không tán thành Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn. Trong quá khứ Trung Quốc đã mua rất nhiều công khố phiếu của Hoa Kỳ trong lúc thế lực kinh tế của Hoa Kỳ giảm sút và đồng mỹ kim xuống giá không ngừng. Trung Quốc rất quan ngại về tình trạng này nhưng vẫn tiếp tục mua công khố phiếu của Hoa Kỳ để Hoa Kỳ có thể mua hàng hóa của Trung Quốc(!). Nhiều nước khác cũng mua công khố phiếu của Hoa Kỳ, trong số đó có Nhật Bản, các nước Trung Đông sản xuất dầu hỏa, Nga Sô, Nam Hàn, các đảo ít thuế ở miền Caraibes (paradis fiscaux), v.v. Tất cả các nước mua công khố phiếu của Hoa Kỳ đều quan tâm, lo ngại cho tương lai của … kinh tế Hoa Kỳ và đồng mỹ kim(!). Mỗi nước trong G20 cần bảo vệ quyền lợi của mình và có khi phải bảo vệ điều quan trọng hơn là … mâu thuẫn quyền lợi (!). Tình trạng này cắt nghĩa tại sao tương quan thế lực kinh tế không có triển vọng sẽ thay đổi nhiều.

Các nước trong khối G20 chịu ảnh hưởng của khủng hoảng một cách khác nhau. Có những nước phải đối phó với hai khủng hoảng, tài chính và kinh tế, có tầm nghiêm trọng ngang nhau như Hoa Kỳ, các nước thuộc Liên Hiệp Châu Âu (Anh, Pháp, Đức,Ý). Đối với Nhật Bản, thị trường ngân hàng-tài chính ít bị ảnh hưởng vì khu vực này đã được thanh lọc, cải tổ và củng cố trong suốt mười năm vừa qua. Còn lại các nước khác hầu như chỉ phải chịu hậu quả của khủng hoảng kinh tế. Hoa Kỳ bị thiệt hại nặng nhất sẽ có khuynh hướng muốn lấy lại ảnh hưởng trong hệ thống kinh tế-tài chính thế giới, tái lập sức mạnh kinh tế trước khi nghĩ tới một đồng thuận mới. Trong tương lai gần, khoảng một hay hai năm, đồng thuận giữa các nước G20 để ra khỏi khủng hoảng sẽ rất giới hạn và chỉ có mục đích củng cố hệ thống ngân hàng, ổn định thị trường tài chính, đầu tư-sản xuất trở lại tình trạng bình thường.

Nói chung, trong khối G20, Hoa Kỳ sẽ theo khuynh hướng “cải cách”, các nước khác sẽ đòi hỏi một sự “đổi mới” hoàn toàn và thật sự, tuy với mức độ cương quyết rất khác nhau. Trung Quốc có nhiều mâu thuẫn quyền lợi. Nam Hàn và Nam Dương chắc chắn không quên đã phải trả giá rất cao khi khủng hỏang tài chính Châu Á xảy ra năm 1997. Các nước khác như Nga Sô, Argentine, Ba Tây, Mexique, Thổ Nhĩ Kỳ, tất cả đã có kinh nghiệm không tốt với chủ thuyết kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn. Các nước còn lại sẽ tiếp tục đòi hỏi cứu xét lại hệ thống kinh tế-tài chính thế giới hiện nay. Có lẽ ngọai trừ Hoa Kỳ, không có thành viên G20 nào muốn kinh tế thế giới tiếp tục con đường cũ. Yêu cầu của tuyệt đại đa số là có một đồng thuận mới để định hướng cho kinh tế thế giới.

Phát triển bền vững: một cơ hội mới?

Hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng sâu rộng của khủng hoảng giúp đánh giá đúng mức giá trị thực của chủ thuyết kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn. Hoa Kỳ và các nước có nền kinh tế tân tự do đã buộc phải sử dụng những biện pháp trái với chủ thuyết, kêu gọi nhà nước can thiệp để bảo trợ các ngân hàng, giải cứu các xí nghiệp, ổn định thị trường tài chính, giúp đỡ giới lao động. Hiện nay sự can thiệp này rất giới hạn, không có chỉ dấu báo hiệu kinh tế thế giới sẽ đổi hướng đi đường khác. Mặc dù khủng hoảng đã gây rất nhiều thiệt hại cho toàn thế giới, thông cáo chung của các nước G20 sau hội nghị Luân Đôn không cho thấy viễn tượng một chính sách phát triển kinh tế mới, một đồng thuận kinh tế mới.

Ngoài những thiệt hại do khủng hoảng kinh tế tài chính trực tiếp gây ra, chủ thuyết kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn từ khi được khởi xướng đã để lại những dấu vết xấu khó xóa, khó đổi. Trong sinh hoạt kinh tế xã hội có sự chênh lệch giầu nghèo giữa các giai tầng xã hội và giữa các quốc gia, tình trạng công ăn việc làm của người lao động không ổn định, chế độ an sinh xã hội bị cắt xén, tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, môi sinh bị hủy họai. Thế giới bị tiêm nhiễm bởi những quan niệm sai lầm, những chủ trương lệch lạc, chẳng hạn, con người cần tự do hơn công bằng, tiêu dùng là động lực phát triển kinh tế, lợi nhuận kinh doanh chỉ đạo sự phát triển kinh tế, cơ chế thị trường là yếu tố quyết định số phận của con người và tương lai của xã hội, “bàn tay vô hình” điều hòa thị trường, sự can thiệp của nhà nước vào sinh hoạt kinh tế ngăn cản kinh tế phát triển, v.v. Cuối cùng chúng ta đã thấy trong hệ thống kinh tế tân tự do không những kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường mà toàn bộ xã hội tổ chức như một thị trường. Trong hệ thống kinh tế tân tự do không phải chỉ có kinh tế thị trường (économie de marché) mà hơn thế nữa còn có xã hội thị trường (société de marché) (4). Thị trường kinh tế cũng như thị trường xã hội tự điều hòa bằng “bàn tay vô hình” (tức là không có sự điều hòa gì cả) và tiêu dùng được khuyến khích, thúc đẩy tới mức làm thay đổi bản chất của xã hội tiêu dùng (société de consommation), xã hội sung túc (société d’abondance) biến chúng thành xã hội “tiêu hoang-tiêu phí”, xã hội “tiêu mòn-tiêu thổ” (société consommatoire) (5).

Những hậu quả của khủng hoảng và dấu vết mà những năm kinh tế tân tự do để lại như vừa nêu là những thách thức mà thế giới ngày nay phải xử lý. Hoàn cảnh này rất thuận lợi cho mô hình phát triển bền vững trỗi dậy và trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Mô hình phát triển bền vững đã manh nha vào đầu thập niên 70 nhưng hoàn cảnh chính trị, kinh tế và xã hội (chiến tranh lạnh, kinh tế thế giới khó khăn, khủng hoảng dầu hỏa và năng lượng) không thuận tiện. Tuy nhiên mô hình phát triển bền vững tiếp tục được chú ý và thu hút ngày càng nhiều các hội đoàn quốc gia, các tổ chức quốc tế, các cơ quan chính phủ, các tổ chức cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ có tầm vóc quốc gia hoặc quốc tế, các văn phòng và cơ quan trực thuộc tổ chức Liên Hợp Quốc. Đường hướng phát triển này đã được 173 quốc gia biểu quyết tán thành và ủng hộ qua “Chương trình Nghị sự Thế kỷ 21” (Agenda 21) tại Hội nghị Rio năm 1992 do Liên Hợp Quốc tổ chức.
Trong tương lai mô hình phát triển bền vững có triển vọng trở thành một yêu cầu, một đòi hỏi của đa số.

Chọn lựa sự phát triển bền vững đòi hỏi phải chuyển hướng đi của nền kinh tế một cách rõ rệt và dứt khoát, huy động nhiều phương tiện nghiên cứu và triển khai, tiên phong xây dựng cơ sở kinh tế mới, sản xuất nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới, tuân thủ một số giá trị mới, chấp nhận hy sinh hiện tại để bảo toàn tương lai, v.v. Trong lúc hậu quả của khủng hoảng còn đè nặng lên cuộc sống khắp nơi, tình hình kinh tế xã hội còn bất ổn, các hoạt động đầu tư sản xuất còn bị tê liệt thì việc phát động phong trào phát triển bền vững khó có thể bắt đầu trong tương lai gần khoảng hai hoặc ba năm.

Một khó khăn đáng kể cho việc khởi xướng sự phát triển bền vững là sự cách biệt giầu nghèo giữa các quốc gia. Những nước giầu có sẽ có khả năng huy động các nguồn lực cần thiết để đổi hướng đi về sự phát triển bền vững. Trái lại đối với các nước đang lên và các nước nghèo việc tiếp nhận và thực hiện mô hình phát triển bền vững là một thách thức rất khó xử lý.

Ngoài ra còn thêm một lý do rất quan trọng sẽ làm đường tiến của sự phát triển bền vững khó khăn là nó đòi hỏi phải dung hòa bốn yêu cầu khác biệt: sản xuất thêm (để đáp ứng yêu cầu của đa số), chia sẻ đúng (chia sẻ công bằng và chống đói nghèo), bảo vệ môi trường môi sinh (bảo tồn thiên nhiên) và bảo đảm tương lai của các thế hệ sau. Một đường hướng phát triển bền vững thống nhất sẽ khó xảy ra. Trong thực tế có lẽ sẽ có nhiều khuynh hướng phát triển bền vững với những sắc thái khác nhau tạo ra bởi thứ tự ưu tiên trong sự chọn lựa các yêu cầu vừa kể.

Sự phát triển bền vững là một mô hình kinh tế cần thiết, hợp tình, hợp lý. Nó sẽ là bảng hiệu vô cùng phổ biến để các giới chính trị, nhóm áp lực, nhóm quyền lợi, tập đoàn kinh tế, tổ chức phi chính phủ, công ty xuyên quốc gia, v.v. căng ra để tô vẽ làm các hoạt động của mình có được cái vẻ hay hơn, tốt đẹp hơn. Sự quyết tâm thống nhất đi theo con đường phát triển bền vững với quy mô toàn cầu sẽ còn là một thắc mắc không có giải đáp rõ ràng và dứt khoát trong nhiều năm nữa mặc dù thực tế lúc này cho thấy sự phát triển bền vững rất cần thiết và hợp lý.

Bài học khủng hoảng và những chọn lựa cho tương lai

Khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu hiện nay không thể không gợi lại kinh nghiệm đen đủi của khủng hoảng 1929.Khủng hoảng này đánh dấu sự sụp đổ của mô hinh kinh tế tự do đã kéo dài trước đó trong khoảng năm mươi năm. Khủng hoảng 1929 đã chứng minh rằng để “cơ chế thị trường quyết định một mình hướng đi và môi trường sinh sống họat động của con người sẽ đưa xã hội tới đổ vỡ và tiêu tán” (6).

Khủng hoảng 2008 sẽ không làm xã hội tiêu tán như khủng hoảng 1929 nhờ ngày nay có chế độ an sinh xã hội mặc dù chế độ này đã bị cắt xén nhiều trong những năm kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn ngự trị trên thế giới. Nhưng không phải vì thế mà chủ thuyết kinh tế tân tự do cần được cứu vớt. Chủ thuyết kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa thịnh Đốn sẽ không thể giúp xử lý thỏa đáng các thách thức của thế giới ngày nay. Một hướng đi mới là chọn lựa cần thiết cho tương lai.

Khủng hoảng 2008 cho thấy chấp nhận để lợi suất tài chính (rendement financier) chỉ đạo kinh tế tất sẽ đưa tới những hậu quả tai hại mà chúng ta đã chứng kiến trong những tháng vừa qua, tạo những ảnh hưởng dây chuyền bất lợi mà bây giờ chúng ta chưa thể ước lượng hết được. Trong khi mô hình kinh tế dựa trên học thuyết của J.M.Keynes trong những năm cuối đã để lại những thách thức không quá tầm tay, khủng hoảng 2008 của hệ thống kinh tế tân tư do để lại những vấn đề mà thế giới sẽ thấy là nan giải. Thế giới sẽ trở về với học thuyết của Keynes là một dự đoán có triển vọng thành sự thật

Khủng hoảng 2008 đã vạch ra những thái quá và sai lầm của chủ thuyết kinh tế tân tự do và Đồng thuận Hoa Thịnh Đốn. Các nhà nước đang can thiệp và nỗ lực ổn định thị trường kinh tế-tài chính. Các nhóm quyền lợi kinh tế tân tự do đang chờ đợi thế giới ra khỏi khủng hoảng để trở lại tiếp tục phát triển kinh tế theo con đường cũ. Điều này nếu xảy ra tất có nghĩa nhà nước và người dân gánh chịu thất bại của tư bản đầu cơ và tư bản đầu cơ thành công thì tư bản hưởng. Đây là một hình thức quốc hữu hóa thua lỗ và tư hữu hóa lời lãi trong kinh doanh của tư bản đầu tư và đầu cơ. Sự can thiệp của nhà nước để ổn định thị trường tài chính và kinh tế, giải quyết khủng hoảng 2008 cần báo hiệu những ngày tháng cuối của kinh tế tân tự do và mở đường cho sự phát triển bền vững, cho một mô hình kinh tế hỗn hợp nhà nước-tư nhân, cho một học thuyết kinh tế cập nhật của J.M.Keynes.

Nguyễn Ngọc Hiệp
Tháng 5, 2009
Bài được đăng trên báo Viễn Tượng Việt Nam

___________________________________

Ghi chú:
(1)Fonds Monétaire International, “Rapport sur la stabilité financière dans le monde”, avril 2009.
(2)”Un travail prometteur a déjà été engagé pour repenser le système financier mondial et offrir une assise plus stable et plus adaptable à une croissance économique soutenue”.
(3)Khối G20 gồm có: Argentine, Australie, Ba Tây, Gia Nã Đại, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nam Dương, Ý, Nhật Bản, Mexique, Nga Sô, Arabie Saoudite, Nam Phi, Nam Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh Quốc, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Châu Âu.
(4)Khái niệm về “xã hội thị trường” đã được Karl Polanyi đề xuất trong sách tựa là “La grande transformation”, ấn bản tiếng pháp phát hành lần đầu tiên năm 1983. Bản anh ngữ phát hành năm 1944 với tựa là “The Great Transformation”. Sách này là một nghị luận sâu sắc phân tích, phê bình chủ thuyết kinh tế tự do.
(5)Robert Rochefort, “Le bon consommateur et le mauvais citoyen”, Odile Jacob, mars 2007.
Jean Baudrillard, “La société de consommation”, Folio Essais, janvier 2008.
(6)Karl Polanyi, “La grande transformation”, Gallimard, décembre 2005.

Share

1 Comment

Leave a Comment